BÁO CÁO CHÍNH THỨC

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN NĂM 2006

 

Cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2006 theo Quyết định số 188/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ  nhằm thu thập các thông tin cơ bản về thực trạng và những chuyển biến trong nông thôn, nông nghiệp và thủy sản ở nước ta. Đối tượng điều tra bao gồm toàn bộ các xã, các hộ nông thôn, toàn bộ các đơn vị nông, lâm nghiệp và thủy sản (doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ). Số liệu sơ bộ  Tổng điều tra đã được công bố vào tháng 12 năm 2006.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng tin, số liệu chính thức Tổng điều tra được biên tập và giới thiệu thông qua nhiều hình thức và sản phẩm như sau:

(1). Ấn phẩm – sách gồm 3 tập (Tập 1 – Kết quả tổng hợp chung; Tập 2- Nông thôn; Tập 3 – Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) – đã in ấn xong;

(2). Đĩa CD ROM kết quả tổng hợp – Với các biểu tổng hợp về nông thôn, nông nghiệp và thủy sản cả nước, từng tỉnh, từng huyện (Anh – Việt);

(3). Đĩa CD ROM vi mô – gồm các dữ liệu gốc từng tỉnh được cài đặt phần mềm để khai thác và lập biểu tổng hợp theo yêu cầu người dùng tin;

(4). Cơ sở dữ liệu vĩ mô – các thông tin tổng hợp đến cấp tỉnh;

(5). Cơ sở dữ liệu vi mô – các thông tin thu thập được lập trình tạo các chức năng và công cụ khai thác;

(6). Phổ biến một số thông tin trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê.

Các sản phẩm điện tử trên sẽ hoàn thành cuối quý I năm 2008.

(7). Các báo cáo phân tích chuyên sâu (phổ biến trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê vào quý III năm 2008).

 Từ kết quả chính thức Tổng điều tra, có thể đưa ra một số đánh giá tổng quan về nông thôn, nông nghiệp và thủy sản như sau:

  1. NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG NÔNG THÔN VIỆTNAM
  2. Kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được xây dựng mới và nâng cấp tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

  Mạng lưới điện ở nông thôn được phát triển nhanh, đáp ứng tốt yêu cầu của sản xuất và đời sống của người dân. Năm 1994 cả nước mới có 60,4% số xã, 49,6% số thôn, ấp, bản (gọi chung là thôn) và 53,2% số hộ có điện; năm 2001 các con số tương ứng là 89,7%, 77,2% và 79% thì đến năm 2006 có tới 98,9% số xã, 92,4% số thôn có điện và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện đạt tới 94,2%. Như vậy, sau 12 năm tỷ lệ số hộ sử dụng điện đã tăng thêm 41%. Đến giữa năm 2006 ở khu vực nông thôn chỉ còn 5,8% số hộ chưa có điện. Cả nước đã có 47 tỉnh, thành phố trực thuộc TW có 100% số xã có điện. Vùng đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ số hộ có điện cao nhất 99,9%, thấp nhất là vùng Tây Bắc 76,8%.

Đường giao thông nông thôn được xây dựng và nâng cấp cả về số lượng và chất lượng. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giao thông nông thôn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, góp phần tích cực thu hút các nhà đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác. Đến năm 2006 cả nước có 8792 xã có đường ô tô đến được trụ sở UBND xã, chiếm 96,9% tổng số xã  (năm 1994 là 87,9% và năm 2001 là 94,2%); trong đó, có 8488 xã (chiếm 93,6%) có đường ô tô đi lại được quanh năm, và có 6356 xã (chiếm 70%) đường ô tô được nhựa, bê tông hóa. Hệ thống đường giao thông nội bộ xã – liên thôn đã được nâng cấp đáp ứng cho việc đi lại của nhân dân được thuận lợi. Cả nước có 5875 xã, chiếm 64,8% tổng số xã (năm 2001 mới có 33%) có đường liên thôn được nhựa, bê tông hoá theo các mức độ khác nhau; trong đó 3405 xã chiếm 37,5% tổng số xã (năm 2001 đạt 14,2%) đã nhựa, bê tông hóa trên 50% các tuyến đường liên thôn. Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng ở một số địa phương, đường giao thông nông thôn vẫn chưa thuận lợi cho phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Tỷ lệ xã chưa có đường ô tô đến được trụ sở UBND xã ở một số tỉnh vẫn còn cao, như Cà Mau còn 74,1%, Bạc Liêu  29,2%,…Tỷ lệ xã có đường liên thôn được nhựa, bê tông hóa nhìn chung còn thấp, nhất là các tỉnh miền núi.

Hệ thống trường học các cấp tiếp tục được mở rộng về số lượng và cơ bản xoá trường, lớp tạm. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Nhà nước, hệ thống trường học các cấp ở nông thôn tiếp tục được mở rộng và phát triển, đến năm 2006 có 88,3% số xã có trường mẫu giáo/mầm non, 99,3% số xã có trường tiểu học, 90,8% số xã có trường trung học cơ sở (năm 1994 là 76,6%, năm 2001 là 84,4%), 10,8% số xã có trường trung học phổ thông. Việc mở thêm các điểm trường ở các thôn đã tạo điều kiện thuận lợi để học sinh không phải đi học xa, giảm được tình trạng học sinh bỏ học. Cùng với sự phát triển của hệ thống trường học tại cấp xã, các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo đã phát triển, mở rộng đến cấp thôn, đến nay có 54,5% số thôn có lớp mẫu giáo, 16,1% số thôn có nhà trẻ. Phong trào xây dựng trường học kiên cố, xoá trường, lớp học tạm đạt kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ trường học được xây dựng kiên cố và bán kiên cố ở các cấp học là mẫu giáo/mầm non đạt 93,1%, tiểu học đạt 98,5% (năm 2001 là 94,5%), trung học cơ sở đạt 98,8% (năm 2001 là 95,9%), trung học phổ thông đạt 98,9.

Hệ thống y tế nông thôn được quan tâm xây dựng đã và đang trở thành tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu quan trọng của nhân dân. Hệ thống y tế xã phát triển cả về số lượng trạm y tế, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế, cơ sở vật chất và các trang thiết bị khám chữa bệnh. Đến năm 2006, có 9013 xã có trạm y tế, chiếm 99,3% tổng số xã. Bình quân 1 trạm y tế xã có 0,63 bác sỹ và 1 vạn dân có 1 bác sỹ (năm 2001 các con số tương ứng là 0,51 và 0,8). Khu vực nông thôn có 3964  trạm y tế xã, chiếm 44%, đã được xây dựng kiên cố; Hệ thống khám, chữa bệnh tư nhân hình thành và góp phần quan trọng vào chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Đến năm 2006, có 3348 xã, chiếm 36,9% có cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân. Để phục vụ và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nông thôn tốt hơn, hệ thống y tế thôn đã được chú ý và mở rộng. Đến năm 2006, 89,8% số thôn có cán bộ y tế thôn. Tuy nhiên, vẫn còn 60 xã thuộc 17 tỉnh, thành phố trực thuộc TW chưa có trạm y tế, còn 157 xã, chiếm 1,7%, trạm y tế xã chưa được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Số bác sỹ của trạm y tế xã bình quân 1 vạn dân của một số tỉnh còn thấp (Điện Biên chỉ có 0,05 bác sỹ, Lai Châu 0,07) và còn 3851 xã (chiếm 42,3%) chưa có bác sỹ.

 Mạng lưới thông tin, văn hóa phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân. Đến năm 2006, khu vực nông thôn có 7757 xã, chiếm 85,5% số xã có điểm bưu điện văn hoá (năm 2001 là 72%). Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá được nối mạng internet đạt 17,7%. Đến năm 2006 đã có 2952 xã (chiếm 32,5%), với 7752 điểm internet tư nhân. Số hộ có máy điện thoại (cố định/di động) là 2,9 triệu hộ, chiếm 21,2% số hộ, tăng 16% so năm 2001; bình quân cứ 4,7 hộ thì có 1 hộ có máy điện thoại. Có 75,4% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn và 30,6% số xã có nhà văn hoá xã (năm 2001 các con số tương ứng là 56,8%, 14,9%). Đến giữa năm 2006, 43,8% số thôn có nhà văn hoá.

 Hệ thống ngân hàng, chợ, làng nghề và cơ sở chế biến sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản có bước phát triển nhanh, theo đúng phương châm “Ly nông bất ly hương” đã góp phần đa dạng sản xuất kinh doanh ở nông thôn. Đến năm 2006, có 1100 xã, chiếm 12,1% số xã, có ngân hàng/chi nhánh ngân hàng đóng trên địa bàn; có 920 xã, chiếm 10,1% số xã, có quỹ tín dụng nhân dân. Năm 2006, tỷ lệ xã có chợ là 58,8% với 53% số chợ nông thôn được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Số cơ sở chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ngày càng tăng, đến năm 2006, có 428,4 nghìn cơ sở. Nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển, cùng với sự ra đời của các khu, cụm công nghiệp, đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Đến năm 2006, khu vực nông thôn có 1077 làng nghề, tăng 367 làng nghề so với năm 2001. Làng nghề đã thu hút 256 nghìn hộ tham gia thường xuyên, với số lao động là 655 nghìn người.. Tuy nhiên, làng nghề chủ yếu tập trung ở một số vùng; số làng nghề phát triển mới còn ít với 11,7% và tỷ lệ làng nghề sử dụng thiết bị xử lý nước, chất thải độc hại mới chiếm 4,1% đang là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn.

 Hệ thống thuỷ lợi, khuyến nông, lâm, ngư cấp xã, cấp thôn được xây dựng và củng cố góp phần hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất. Nhiều trạm bơm, hồ đập thuỷ lợi được xây dựng mới, phong trào kiên cố hoá kênh mương tiếp tục được thực hiện khắp cả nước. Đến năm 2006, có 13.643 trạm bơm nước phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn xã. Kênh mương do xã/HTX quản lý đã được kiên cố hóa 43,9 nghìn km, chiếm 18,9% tổng chiều dài kênh mương (năm 2001 là 24,1 nghìn km, 12,4% tổng chiều dài). Những năm qua Nhà nước đã quan tâm đầu tư và mở rộng hệ thống khuyến nông, lâm, ngư và thú y cấp xã và thôn để phục vụ, hỗ trợ nông dân trong sản xuất. Đến năm 2006, có 78,7% số xã có cán bộ khuyến nông, lâm, ngư; 26,6% số thôn có cộng tác viên khuyến nông, lâm, ngư. Có 83,6% số xã có cán bộ thú y của xã; 53,1% số xã có cán bộ thú y thôn. Bên cạnh mạng lưới thú y của xã và thôn, còn có 57,1% số xã, với gần 18 nghìn người hành nghề thú y tư nhân.

Nhà nước thực hiện nhiều chính sách xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Nhiều chương trình, dự án được triển khai và đã phát huy những tác dụng tích cực. Trong năm 2005, khu vực nông thôn có 180,4 nghìn hộ, chiếm tỷ lệ 1,3% được hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở; đào tạo nghề miễn phí cho 221,8 nghìn lượt người. Cũng trong năm 2005, khu vực nông thôn đã có 2,1 triệu hộ (chiếm 15,4%) được vay vốn theo các chương trình, dự án. Để tạo điều kiện cho những đối tượng khó khăn ở khu vực nông thôn được khám chữa bệnh, Nhà nước đã cấp miễn phí bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, người dân ở các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, người dân các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, dân tộc thiểu số ở sáu tỉnh đặc biệt khó khăn của miền núi phía Bắc. Đến năm 2006, khu vực nông thôn đã có 12,17 triệu người (chiếm 21%) và 1,3 triệu hộ (chiếm 9,4%) được cấp miễn phí bảo hiểm y tế.

  1. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề vàđang dần phá thế thuần nông nhưng quá trình đó diễn ra không đồng đều giữa các vùng.

Cơ cấu ngành nghề của hộ và lao động nông thôn có sự thay đổi nhanh theo hướng tích cực. Số hộ nông thôn cả nước tại thời điểm 01/7/2006 là 13,77 triệu hộ, tăng 0,7 triệu hộ (+5,4%) so với năm 2001. Tốc độ tăng hộ nông thôn đã chậm hẳn lại so với thời kỳ 1994-2001. Cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn có sự thay đổi nhanh theo hướng tích cực, giảm số lượng và tỷ trọng nhóm hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản; tăng số lượng và tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp và dịch vụ. Năm 2006, số hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở nông thôn là 9,8 triệu hộ, giảm 0,8 triệu hộ; số hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ là 3,5 triệu hộ, tăng 1,3 triệu hộ (+62%) so với năm 2001. Chính vì vậy, so với năm 2001, tỷ trọng hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khu vực nông thôn giảm từ 81% xuống còn 71,1% (- 9,9%), tỷ trọng cả hai nhóm hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã tăng 8,8%, tỷ trọng nhóm hộ khác (hộ không hoạt động kinh tế) tăng 1,1%. Sự chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn thời kỳ 2001-2006 diễn ra nhanh và rõ nét hơn so với các thời kỳ trước đây; trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng chuyển dịch nhanh nhất (tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ từ 17,9% năm 2001 lên 33,4% năm 2006). Mặc dù đã có những chuyển biến nhanh theo hướng tích cực về cơ cấu hộ, nhưng tốc độ chuyển dịch ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp còn rất chênh lệch giữa các vùng. Tây Nguyên và Tây Bắc là những vùng chuyển dịch rất chậm trong 5 năm qua.

Sự chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề của lao động ở khu vực nông thôn diễn ra nhanh hơn so với chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của hộ. Lao động nông nghiệp chiếm 65,5% giảm 10,4% so năm 2001, lao động công nghiệp – xây dựng chiếm 12,5% tăng 5,1%, lao động dịch vụ chiếm 15,9% tăng 4,4%. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn đã nâng lên. Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên chiếm tỷ lệ 8,2% so với 6,2% của năm 2001.

Sản xuất phát triển, thu nhập tăng nên vốn tích luỹ trong dân tăng khá nhưng chênh lệch lớn giữa các loại hộ. Năm 2006, thu nhập bình quân 1 hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (+75,8%) so với năm 2002. Nhưng mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất ngày càng tăng; nếu như mức chênh lệch của năm 2002 là 6 lần, thì năm 2006 đã là 6,5 lần (Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình). Tại thời điểm 1/7/2006, vốn tích luỹ bình quân 1 hộ nông thôn là 6,7 triệu đồng, tăng 3,5 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với thời điểm 1/10/2001. Ước tính tổng vốn tích luỹ hiện có của các hộ nông thôn khoảng 90 nghìn tỷ đồng vào giữa năm 2006. Đây là khoản tiền nhàn rỗi khá lớn ở trong dân, cần có các biện pháp và chính sách thích hợp để huy động nguồn vốn nhàn rỗi này phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Điều kiện sinh hoạt của hộ nông thôn ngày càng được cải thiện.

Nhà ở khu vực nông thôn được cải thiện. Những năm gần đây do kinh tế hộ gia đình phát triển, tích luỹ trong dân tăng khá, nên hộ nông thôn đã đầu tư xây mới và sữa chữa nhà ở khang trang hơn; mặt khác thực hiện chủ trương xây nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách và hỗ trợ giúp đỡ người nghèo xoá nhà tạm, nhà dột nát đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đến năm 2006, khu vực nông thôn có 2,21 triệu hộ chiếm 16% đang ở nhà kiên cố, có 7,93 triệu hộ chiếm 57,6% đang ở nhà bán kiên cố và 3,63 triệu hộ chiếm 26,4% đang ở nhà các loại nhà khác (Năm 2002, các con số tương ứng là 12,6%, 59,2% và 28,2%).

Mức trang bị đồ dùng lâu bền của hộ nông thôn tăng nhiều so năm 2001. Tại thời điểm 1/7/2006, tỷ lệ hộ có xe máy là 52,6% tăng 26,6% so năm 2001, có ti vi màu là 71% tăng 32,6%, có đầu video/VCD là 46,6% tăng 32,2%, có tủ lạnh/tủ đá là 9,3% tăng 6,1%,…

Tóm lại: Nông thôn Việt Nam thực sự có những đổi mới mang tính toàn diện. Kết cấu hạ tầng nông thôn đã được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp cả về chiều rộng và chiều sâu. Các điều kiện hỗ trợ, bảo đảm cho sản xuất kinh doanh của hộ được tăng cường. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiến triển nhanh theo hướng tích cực. Nhiều chính sách xã hội được thực hiện và đạt được những kết quả khả quan. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Đó là kết quả đáng khích lệ trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010. Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông thôn nước ta còn những vấn đề cần được tiếp tục quan tâm trong thời gian tới. Kết cấu hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Một số tỉnh miền núi tỷ lệ hộ chưa có điện còn cao. Việc mở rộng và nâng cấp đường giao thông nông thôn chưa đồng đều, hệ thống giao thông liên thôn ở Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên còn rất hạn chế. Cả 4 cấp học còn 3% số trường chưa được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. 1,7% trạm y tế xã chưa được xây dựng kiên cố và bán kiên cố, 42,3% số trạm y tế xã chưa có bác sỹ. Làng nghề và cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản tăng nhanh, nhưng khâu xử lý nước thải, chất thải chưa được quan tâm đang là mối đe doạ nguy cơ ô nhiễm môi trường ở nông thôn. Một số vùng ngành nghề phát triển chậm và tỷ lệ hộ thuần nông cao. Chất lượng lao động nông thôn tuy đã có những tiến bộ, nhưng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn quá thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

II- NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN

  1. Số đơn vị nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có xu hướng giảm.Đến 1/7/2006, cả nước có 2.136 doanh nghiệp NLTS, giảm 40,6% so với năm 2001; 571 cơ sở NLTS trực thuộc các doanh nghiệp phi NLTS (giảm 29,1%); 7.237 HTX NLTS (giảm 3,7%), 10,46 triệu hộ NLTS (giảm 6,8%) trong đó có 113.699 trang trại. Phân theo ngành kinh tế, 93,09% là các đơn vị nông nghiệp, đơn vị thuỷ sản chiếm 6,58% và các đơn vị lâm nghiệp chỉ chiếm 0,33%.
  2. Lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản chuyển biến tích cực về số lượng và cơ cấu nhưng chất lượng còn hạn chế. Năm 2006 cả nước có 22,93 triệu lao động NLTS, giảm 1,6 triệu lao động (-6,5%) so với năm 2001. Đây là xu hướng mới và tích cực về chuyển dịch lao động ở nước ta, phản ánh kết quả thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của Đảng và Nhà nước. Lao động NLTS có xu hướng và mức độ biến động khác nhau trong nội bộ của ngành này: Lao động nông nghiệp giảm, lao động thủy sản và lao động lâm nghiệp tăng nhanh. Năm 2006 cả nước có 21,26 triệu lao động nông nghiệp, giảm 2,05 triệu lao động (-8,81%) so với năm 2001; bình quân mỗi năm giảm 411 nghìn lao động. Số lao động lâm nghiệp là 98,1 nghìn người, tăng +33,3%. Số lao động thủy sản là 1,57 triệu người, tăng 37,7%. Lao động đã có những chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực nhưng chất lượng của lao động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản còn thấp, chưa được cải thiện nhiều trong 5 năm qua. Năm 2006 cả nước có 22,4 triệu lao động NLTS chưa qua đào tạo và không có bằng/chứng chỉ chuyên môn, giảm 1,6 triệu người so với năm 2001. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo và không có bằng/chứng chỉ chuyên môn thì hầu như không thay đổi với 97,53% (năm 2001 là 97,67%). Trong tổng số lao động, chỉ có 1,35% có trình độ sơ cấp, công nhân kỹ thuật, 0,89% có trình độ trung cấp, 0,13% có trình độ cao đẳng và 0,11% có trình độ đại học và trên đại học. Như vậy, phần lớn lao động trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là các lao động phổ thông, giản đơn, lao động làm việc theo kinh nghiệm. Đây là nguyên nhân căn bản của việc năng suất lao động trong NLTS ở nước ta còn rất thấp và là trở ngại lớn trong quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay.
  3. Đất nông nghiệp (Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác)có xu hướng tăng nhưng đất trồng lúa giảm. Diện tích đất nông nghiệp năm 2006 là 24.7 triệu ha tăng 16,4% so với năm 2001, trong từng loại đất có mức độ biến động khác nhau. Đất sản xuất nông nghiệp năm 2006 là 9.4 triệu ha, tăng 557 nghìn ha so với năm 2001 chủ yếu do chuyển từ đất chưa sử dụng. Đất sản xuất nông nghiệp tăng nhưng đất trồng lúa giảm 207 nghìn ha (-4,8%), bình quân giảm 41 nghìn ha/năm, trong đó đất lúa ruộng giảm 144 nghìn ha chủ yếu do chuyển sang chuyên dùng và đất nuôi trồng thuỷ sản, đất lúa nương giảm 63 nghìn ha. Đất lâm nghiệp là 14,5 triệu ha, tăng +22,8% so với năm 2001, chủ yếu do chuyển từ đất đồi chưa sử dụng sang trồng rừng. Đất nuôi trồng thuỷ sản là 715 nghìn ha, tăng 212 nghìn ha chủ yếu do chuyển đổi cơ cấu từ đất trồng lúa nước 1 vụ kém hiệu quả.
  4. 4. Những nét khái quát về các hình thức tổ chức sản xuất trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Doanh nghiệp – Sản xuất của các doanh nghiệp NLTS đạt được những kết quả khả quan; doanh nghiệp nhà nước tiếp tục cố gắng với vai trò nòng cốt trong khối doanh nghiệp NLTS.  Đến 1/7/2006 cả nước có 2136 doanh nghiệp NLTS, giảm 1463 doanh nghiêp (-40,7%) so với 1/10/2001; trong đó có 517 doanh nghiệp nhà nước, giảm 364 doanh nghiệp (-41,3%) do thực hiện chủ trương cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, 1153 doanh nghiệp tư nhân, giảm 1372 doanh nghiệp (-54,3%), chủ yếu là các doanh nghiệp đánh bắt thuỷ sản. Các loại hình doanh nghiệp khác có xu hướng tăng nhanh: công ty trách nhiệm hữu hạn gấp 2,1 lần, công ty cổ phần gấp 2,7 lần và doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài tăng 54% so với năm 2001.

Tại thời điểm 1/7/2006, các doanh nghiệp NLTS sử dụng 260,9 nghìn lao động, giảm 28,1 nghìn lao động (-9,7%) so với năm 2001. Bình quân 1 doanh nghiệp sử dụng 122 lao động, tăng 52% so với năm 2001. Mặc dù số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 24,2% nhưng do qui mô sản xuất vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác nên đã sử dụng tới 77,5% số lao động, 87,2% đất trồng cây hàng năm, 92% đất trồng cây lâu năm, 97,3% đất lâm nghiệp và 85,6% đất nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp NLTS.

Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp NLTS đã đạt được những kết quả khả quan. Bình quân doanh thu của 1 doanh nghiệp NLTS năm 2005 là 9,7 tỷ đồng, gấp 2,7 lần so với năm 2000, trong đó doanh nghiệp nhà nư­ớc đạt 25,5 tỷ đồng. Năm 2005, các doanh nghiệp đóng góp cho Nhà n­ước 1548 nghìn tỷ đồng, tăng 55,7% so với năm 2000. Mức đóng góp năm 2005 bình quân 1 doanh nghiệp là 725 triệu, gấp 2,7 lần so với năm 2000. Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng: chiếm 64% doanh thu, 73% tổng lợi nhuận sau thuế và 87% tổng số đóng góp cho Nhà nước của các doanh nghiệp NLTS. Kết quả sản xuất đạt khá nên thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp đã được cải thiện. Thu nhập bình quân 1 lao động 1 tháng năm 2005 đạt 1,46 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 16%. Tuy nhiên, thu nhập bình quân của lao động còn chênh lệch nhiều giữa các loại hình doanh nghiệp và giữa các vùng. Nhiều loại hình doanh nghiệp có thu nhập của người lao động trên 1,9 triệu đồng/1tháng như: Doanh nghiệp nhà nước trung ương, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, … nhưng một số loại hình doanh nghiệp thu nhập của người lao động còn thấp như Công ty cổ phần không có vốn nhà nước (760 nghìn đồng/1 tháng, chỉ bằng gần 30% thu nhập của lao động ở doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài). Sự chênh lệch về thu nhập của lao động doanh nghiệp giữa các vùng còn rất lớn. Thu nhập của lao động cao nhất là vùng Đông Nam bộ (2,47 triệu đồng/1tháng), thu nhập của lao động các vùng khác phổ biến từ 0,9 – 1,1 triệu đồng/1 tháng. Trong khi đó thu nhập của lao động vùng Tây Bắc chỉ đạt 434 nghìn đồng/1tháng, bằng 1/5 so với vùng Đông Nambộ.

Hợp tác xã Các hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản dần thích nghi với phương thức hoạt động mới, đang làm tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ gia đình nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Đến 01 tháng 7 năm 2006, cả nước có 7237 hợp tác xã NLTS đang hoạt động, giảm 276 hợp tác xã so với thời điểm 01/10/2001. Trong tổng số các hợp tác xã NLTS đang hoạt động có 6971 hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) chiếm 96,3%, 236 HTX thuỷ sản chiếm 3,3%, 30 HTX lâm nghiệp, chỉ chiếm 0,4%.  Mặc dù số HTX giảm đi so với năm 2001, nhưng kinh tế hợp tác trong đã có những chuyển biến tích cực về tổ chức sản xuất, vốn, kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đến 1/7/2006 các HTX NLTS sử dụng trên 126 nghìn lao động thường xuyên. Vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX đã tăng đáng kể. Vốn sản xuất bình quân 1 HTXNN vào 31/12/2005 là 889,2 triệu đồng, tăng 240 triệu đồng (+37%) so với 31/12/2000. Hoạt động của HTX khá đa dạng. Trong số các HTXNN đang hoạt động có 86% làm dịch vụ thuỷ nông, 53,1% làm dịch vụ bảo vệ thực vật, 50,3% làm dịch vụ điện, 48,6% làm dịch vụ bảo vệ đồng ruộng, 42,3 % làm dịch vụ giống cây trồng, 40,1% làm dịch vụ cung ứng vật tư, 34,9% làm dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,… Doanh thu thuần từ hoạt động dịch vụ sản xuất bình quân 1 HTXNN năm 2005 là 481,6 triệu, gấp 2,1 lần so với năm 2000; trong đó 1 HTXNN thành lập mới là 353,3 triệu và HTXNN chuyển đổi là 506,3 triệu. Năm 2005 có 88,77% số HTXNN làm ăn có lãi (năm 2000 là 66,60%), Lợi nhuận thuần từ hoạt động dịch vụ sản xuất bình quân 1 HTXNN đạt 41,4 triệu, tăng 39,4% so với năm 2000. Điểm đáng chú ý là dù mức doanh thu bình quân thấp hơn nhưng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ sản xuất bình quân 1 HTXNN thành lập mới đạt 48,3 triệu, cao hơn 20% so với HTXNN chuyển đổi.

Nhìn chung, sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (khoá IX), hoạt động của các HTX đã có những chuyển biến tích cực: Các HTX được củng cố một bước về tổ chức, quản lý với bộ máy quản lý gọn nhẹ hơn, sản xuất, kinh doanh theo hướng đa dạng hoá. Các HTX đã làm được các khâu dịch vụ cơ bản phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nhiều HTXNN đã đóng vai trò tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, xây dựng nông thôn mới, góp phần củng cố quan hệ kinh tế nông thôn.Tuy nhiên, HTXNN cũng còn không ít khó khăn bất cập: Việc phát triển HTX còn chậm, lại không đều giữa các vùng, chưa tư­ơng xứng với yêu cầu phát triển  sản xuất, vai trò HTX còn mờ nhạt. HTX tổ chức nhiều loại hoạt động dịch vụ nhưng chưa hiệu quả do tỷ lệ hộ nông dân sử dụng còn thấp. Nhiều HTXNN nặng về dịch vụ phi nông nghiệp như­ điện sinh hoạt, tín dụng. Quy mô HTX còn quá nhỏ, vốn có tăng nhưng còn rất thấp và thiếu. Vì vậy, doanh thu và lợi nhuận của các HTX còn rất thấp. Qui mô vốn, doanh thu, lợi nhuận bình quân 1 HTXNN chỉ bằng khoảng 4% so với mức bình quân của 1 doanh nghiệp NLTS.

Trang trại – Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Số lượng trang trại (Theo tiêu chí trang trại được qui định trong Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)  tăng nhanh, loại hình sản xuất đa dạng đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Kinh tế trang trại phát triển nhanh về số lượng ở tất cả các vùng trong cả nước, đến thời điểm 01/7/2006, cả nước có 113.699 trang trại, so với năm 2001 tăng 52.682 trang trại (+86,4%); riêng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 50% số trang trại cả nước. Loại hình sản xuất của trang trại ngày càng đa dạng và có sự chuyển dịch về cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng các trang trại trồng cây hàng năm và cây lâu năm và tăng tỷ trọng các loại trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất kinh doanh tổng hợp.

Trang trại sử dụng ngày càng nhiều ruộng đất với quy mô lớn – điều kiện tiên quyết cho nền sản xuất lớn nông nghiệp. Tại thời điểm 01/7/2006, diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản do các trang trại đang sử dụng là 515 nghìn ha, tăng 142 nghìn ha so năm 2001. Bình quân 1 trang trại sử dụng 4,5 ha đất sản xuất NLTS. Đặc điểm đất đai của các trang trại là đất sản xuất liền bờ, liền khoảnh, qui mô lớn nên rất thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, bảo vệ, vận chuyển sản phẩm và nhất là cơ giới hoá, thủy lợi hoá, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

Kinh tế trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng lớn, gắn với thị trường. Năm 2006, giá trị sản phẩm và dịch vụ NLTS bán ra bình quân 1 trang trại đạt 161 triệu đồng gấp 1,9 lần so với năm 2001, tỷ suất hàng hoá là 95,8%. Giá trị sản phẩm và dịch vụ NLTS bán ra còn chênh lệch rất nhiều giữa các loại hình trang trại. Trang trại chăn nuôi có giá trị sản phẩm và dịch vụ NLTS bán ra trong năm lớn nhất với 244 triệu đồng/1trang trại, thấp nhất là trang trại lâm nghiệp với 48,1 triệu đồng/1 trang trại, chỉ bằng 1/5 so với trang trại chăn nuôi.

Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn nhưng quy mô lao động các trang trại còn nhỏ, trình độ lao động còn hạn chế. Tại thời điểm 01/7/2006, các trang trại đã sử dụng 391 nghìn lao động làm việc thường xuyên. Do tính chất thời vụ của sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nên ngoài lao động thuê mướn thường xuyên, các trang trại còn thuê mướn lao động thời vụ. Kết quả điều tra cho thấy, vào thời điểm cao nhất, các trang trại thuê trên 1 triệu lao động thời vụ. Thu nhập bình quân 1 lao động làm việc thường xuyên của trang trại là 18 triệu đồng/năm cao gấp trên 2 lần so lao động khu vực nông thôn. Tuy nhiên, 94,3% lao động làm việc trong trang trại là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, 2,8% lao động có trình độ sơ cấp và chỉ có 2,9% lao động có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên.

Hộ nông nghiệp giảm, hộ lâm nghiệp và thuỷ sản tăng nhanh, qui mô sản xuất kinh tế hộ tiếp tục được mở rộng

Cơ cấu hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có chuyển dịch tích cực nhưng còn chậm. Tính đến 01/7/2006, cả nước có 10,46 triệu hộ NLTS, giảm 76,6 vạn hộ (-6,8%) so với năm 2001. Trong nội bộ nhóm hộ NLTS, thì hộ nông nghiệp giảm đi trong khi hộ lâm nghiệp và thuỷ sản tăng lên. Số hộ nông nghiệp cả nước là 9,74 triệu hộ, giảm 95 vạn hộ (-8,9%) so với năm 2001. Số hộ lâm nghiệp là 34,2 nghìn hộ, tăng 28,6% so với năm 2001. Số hộ thuỷ là 688 nghìn hộ, tăng 34,3% so với năm 2001. Mặc dù có những chuyển dịch cơ cấu hộ nhanh ở nhiều vùng nhưng nhìn chung số lượng và tỷ trọng các loại hộ lâm nghiệp và thuỷ sản còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng về lâm nghiệp và thuỷ sản của nước ta. Tính chung cả hai loại hộ lâm nghiệp và thuỷ sản đến năm 2006 mới chiếm 6,9% so với tổng số hộ NLTS cả nước – một tỷ trọng quá nhỏ so với tiềm năng và thế mạnh của hai ngành này.

Qui mô sản xuất kinh tế hộ được mở rộng có tác dụng tích cực đến phát triển kinh tế và xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn. Bình quân 1 hộ nông nghiệp sử dụng 0,63 ha đất sản xuất nông nghiệp, tăng 12% so với năm 2001, 1 hộ thuỷ sản sử dụng 0,66 ha đất nuôi trồng thuỷ sản, tăng 16%. Tỷ lệ và số lượng hộ có quy mô đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất nuôi trồng thuỷ sản trên 1 ha tăng lên. Năm 1994 cả nước có 11,7% số hộ nông nghiệp có qui mô đất sản xuất nông nghiệp trên 1 ha, năm 2001 là 15,1% và đến năm 2006 là 17,8%. Đối với chăn nuôi lợn, năm 1994 chỉ có 17,4% số hộ nuôi lợn từ 3 con trở lên, năm 2001 là 33,4% và năm 2006 là 44,3%. Do vậy, số hộ chăn nuôi lợn năm 2006 giảm so với năm 2001 nhưng đầu lợn vẫn đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm là 4,9%. Chăn nuôi bò và gia cầm cũng có xu hướng tương tự. Vì vậy, khuyến khích chăn nuôi với qui mô lớn gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm là giải pháp tích cực và khả thi để nhanh chóng đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính.

  1. Khái quát về kết quả sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Những chuyển biến tích cực về lực lượng sản xuất, sự phát triển của các mô hình sản xuất hàng hóa lớn và sự hoàn thiện về tổ chức sản xuất của các loại đơn vị NLTS là cơ sở để sản xuất NLTS trong những năm qua đạt được những kết quả khả quan. Giá trị tăng thêm khu vực NLTS năm 2006 theo giá so sánh năm 1994 đạt 79,5 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm 2001, bình quân mỗi năm tăng 3,8%. Khu vực NLTS tăng trưởng khá là do giá trị sản xuất nông nghiệp giữ mức phát triển ổn định với tốc độ tăng bình quân 4,1%/năm và sự tăng trưởng nhanh của ngành thủy sản (11,6%/năm). Bên cạnh việc phát triển toàn diện và ổn định, sản xuất NLTS thời kỳ 2001 – 2006 phát triển theo hướng từng bước đổi mới cây trồng, vật nuôi và gắn sản xuất với thị trường trong nước và xuất khẩu. Sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành theo hướng giá trị các ngành đều tăng nhưng tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp giảm đi và vai trò của ngành thuỷ sản ngày càng thể hiện rõ nét. Năm 2001, giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp chiếm 78,5%, giá trị tăng thêm ngành thuỷ sản chiếm 16% so với tổng giá trị tăng thêm khu vực NLTS, đến năm 2006, các tỷ trọng đó là 75,3% và 19,3%. Thuỷ sản thực sự trở thành ngành mũi nhọn, giữ vai trò quan trọng duy trì tốc độ tăng khá của khu vực NLTS. Trong nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 19,6% năm 2001 lên 24,5% năm 2006.

Việc tổ chức thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong thời gian qua những năm qua đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ, luân canh, tăng vụ, áp dụng các biện pháp khoa học – công nghệ mới đã nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. Năm 2006, giá trị thu được trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 29,2 triệu đồng, tăng 49% so với năm 2003. Giá trị thu được trên 1 ha đất trồng trọt năm 2006 là 26,4 triệu đồng, tăng 45,8% so với năm 2003. Giá trị thu được trên 1 ha nuôi trồng thủy sản chung cả nước là 55,4 triệu đồng, tăng 70% so với năm 2003. Sản xuất tăng trưởng ổn định đã tạo điều kiện cho xuất khẩu tăng nhanh. Năm 2006, giá trị xuất khẩu hàng nông, lâm sản và thuỷ sản đạt 9624,2 triệu đô la Mỹ, chiếm 24% tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá và gấp 2,2 lần so với năm 2001.

Nhìn chung, sản xuất NLTS đã có những bước tiến quan trọng, đang vươn tới một nền sản xuất hàng hoá lớn, sản phẩm đa dạng có tính cạnh tranh và tăng trưởng ổn định. Hiệu quả sử dụng đất được nâng cao, sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản không những đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và các nhu cầu lương thực, thực phẩm tiêu dùng trong nước mà còn có nông sản, thuỷ sản xuất khẩu với số lượng ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao, nhất là các mặt hàng chủ lực: gạo, cà phê, hạt điều, cao su, tôm sú, cá tra, cá ba sa. Tuy nhiên, sản xuất NLTS trong những năm qua vẫn đang tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn do sản xuất còn mang tính tự phát và việc phát triển, mở rộng sản xuất nhiều nơi chưa gắn triệt để với giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường.