Kinh tế – xã hội nước ta sáu tháng đầu năm 2011 diễn ra trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Giá các hàng hóa chủ yếu trên thị trường thế giới biến động theo chiều hướng tăng. Một số nền kinh tế lớn mặc dù vừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng đang tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và bất ổn. Ở trong nước, lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Những yếu tố bất lợi trên đã tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh và gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư.

Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành kịp thời nhiều Chỉ thị, Nghị quyết quan trọng, đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp, các tập đoàn kinh tế và các địa phương triển khai thực hiện đồng bộ và hiệu quả. Trong đó trọng tâm là Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/3/2011 của Bộ Chính trị về tình hình kinh tế – xã hội năm 2011 và Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Bên cạnh đó, sự nỗ lực khắc phục khó khăn và chủ động trong điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng góp phần quan trọng tạo sự chuyển biến tích cực trong ổn định kinh tế vĩ mô. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sáu tháng đầu năm của các ngành và lĩnh vực cụ thể như sau:

 I.TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

  1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước sáu tháng đầu năm ước tính tăng 5,57% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó quý I tăng 5,43%; quý II tăng 5,67%. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế sáu tháng đầu năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,08%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,49%, đóng góp 2,64 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,12%, đóng góp 2,57 điểm phần trăm.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản sáu tháng đầu năm 2011 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp tăng 3,3%; lâm nghiệp tăng 5,3% và thuỷ sản tăng 5,1%.

a. Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm nay cả nước đạt 3096,2 nghìn ha, tăng 10,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2010, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1151,2 nghìn ha, tăng 4 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1945 nghìn ha, tăng 6,3 nghìn ha.

Năng suất lúa đông xuân năm nay ước tính đạt 62,9 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 19,5 triệu tấn, tăng 25,8 vạn tấn. Năng suất lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc ước tính đạt 60,3 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước và sản lượng đạt 6,9 triệu tấn, tăng 9,8 vạn tấn. Sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Nam ước tính đạt 12,5 triệu tấn, tăng 16 vạn tấn so với vụ đông xuân trước, năng suất tăng 0,6 tạ/ha. Riêng năng suất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 66,9 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha và sản lượng đạt gần 10,5 triệu tấn, tăng 21,8 vạn tấn.

Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, tính đến trung tuần tháng Sáu, các địa phương trong cả nước đã xuống giống được 1940,4 nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Nam xuống giống 1789,6 nghìn ha, bằng 99,5%.

Trong sáu tháng đầu năm, sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước do diện tích cho sản phẩm tăng, trong đó sản lượng chè tăng 6,4%; cao su tăng 1,8%; điều tăng 4,2%; vải và chôm chôm tăng 7,6%.

Tại thời điểm 01/4/2011, đàn trâu cả nước có 2,8 triệu con, giảm 3,5% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,7 triệu con, giảm 5,2%; đàn lợn có 26,3 triệu con, giảm 3,7%; đàn gia cầm có 293,7 triệu con, tăng 5,9%. Một số sản phẩm chăn nuôi sáu tháng đầu năm ước tính tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó thịt gia cầm hơi đạt 386,3 nghìn tấn, tăng 16,8%; trứng gia cầm 3,9 triệu quả, tăng 19%.

b. Lâm nghiệp

Tổng diện tích rừng trồng tập trung sáu tháng đầu năm 2011 ước tính chỉ đạt 51,5 nghìn ha, bằng 67,6% cùng kỳ năm 2010; số cây trồng lâm nghiệp phân tán đạt 108 triệu cây, bằng 100,4%; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 393,7 nghìn ha, tăng 2,8%; diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi tái sinh là 1046,2 nghìn ha, tăng 4,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2007 nghìn m3, tăng 13,1%. Diện tích rừng bị thiệt hại của cả nước là 1534 ha, bằng 20,9% cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 676 ha, bằng 10,7%; diện tích bị chặt phá là 858 ha, bằng 85,3%.

c. Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 2510,8 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 1924,8 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm 214,7 nghìn tấn, tăng 5,3%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản sáu tháng đầu năm đạt 970 nghìn ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, do đó sản lượng tăng khá, ước tính đạt 1259,5 nghìn tấn, tăng 5,2% (cá đạt 1010,7 nghìn tấn, tăng 4,8%, trong đó cá tra đạt 517 nghìn tấn, tăng 4,7%; tôm 153 nghìn tấn, tăng 6,6%). Hoạt động khai thác thủy sản bị ảnh hưởng do giá xăng, dầu tăng, nên sản lượng chỉ đạt đạt 1251,3 nghìn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 1170 nghìn tấn, tăng 1,4%;  riêng sản lượng cá ngừ đại dương ước tính đạt 9 nghìn tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng mực, bạch tuộc đạt 107 nghìn tấn, tăng 5%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp[1] tháng 6/2011 tăng 4,6% so với tháng 5/2011 và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 9,7% (cao hơn mức tăng 8% của sáu tháng đầu năm 2010), bao gồm: Công nghiệp khai thác mỏ tăng 2,8%; công nghiệp chế biến tăng 12,7%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 10,3%[2].

Chỉ số sản xuất của một số ngành sản phẩm công nghiệp đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất đường tăng 43,5%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 38,1%; sản xuất đồ gốm, sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ dùng trong xây dựng) tăng 35,3%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 35%; sản xuất gạch, ngói và gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 24,2%; sản xuất bột thô tăng 23,8%; sản xuất giấy nhăn và bao bì tăng 18,3%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 17%; sản xuất sắt, thép tăng 16,4%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 16,1%; sản xuất bia tăng 15,7%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 15,1%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 15%; sản xuất xi măng tăng 14,7%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm tháng đầu năm 2011 tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2010. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 80,4%; sản xuất đường tăng 49,8%; sản xuất gạch, ngói và gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 45,6%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 29,9%; sản xuất đồ gốm sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ xây dựng) tăng 27,2%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ năm tháng đầu năm tăng chậm là: Sản xuất sợi và dệt vải tăng 10,3%; sản xuất sắt, thép tăng 9,8%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 8,8%; sản xuất bia tăng 6,2%; sản xuất bột giấy, giấy và bìa tăng 4,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,6%.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/6/2011 của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so với cùng thời điểm năm trước tăng 15,9%. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất bia tăng 94,3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 71,7%; sản xuất giày dép tăng 59,4%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 39,9%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 37,6%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 35,4%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 34,1%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 30%.

  1. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2011 ước tính tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 5,7%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm, kinh doanh thương nghiệp tăng 23,2%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 19,6%; dịch vụ tăng 22,3%; du lịch tăng 19,1%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách sáu tháng đầu năm 2011 ước tính tăng 12,8% về số khách vận chuyển và tăng 11,6% về số khách luân chuyển so với cùng kỳ năm 2010, trong đó vận tải trung ương tăng 8,9% và tăng 11,2%; vận tải địa phương tăng 13,2% và tăng 12%. Vận tải hành khách đường bộ sáu tháng ước tính tăng 13,2% về số khách vận chuyển và tăng 12,1% về số khách luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; đường sông tăng 8,1% và tăng 12,3%; đường hàng không tăng 15,6% và tăng 11,8%; đường biển tăng 4,7% và tăng 5,6%; đường sắt tăng 1,1% và tăng 2%.

Vận tải hàng hóa sáu tháng đầu năm ước tính tăng 11,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,4% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước tăng 12,4% và tăng 9,5%; vận tải đường bộ tăng 12,8% và tăng 10,9%; đường sông tăng 7,4% và tăng 7,7%; đường biển tăng 3% và tăng 4%; đường sắt giảm 4,9% và tăng 6,8%.

c. Bưu chính, viễn thông

Tổng số thuê bao điện thoại phát triển mới trong sáu tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 4,7 triệu thuê bao, bằng 59,5% cùng kỳ năm trước, bao gồm 33,4 nghìn thuê bao cố định, bằng 26,3% và trên 4,6 triệu thuê bao di động, bằng 60%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 6/2011 ước tính đạt 128,1 triệu thuê bao, tăng 4,6% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 15,5 triệu thuê bao cố định, tăng 0,7% và 112,6 triệu thuê bao di động, tăng 5,2%[3].

Số thuê bao internet trên cả nước tính đến cuối tháng 6/2011 ước tính đạt 3,9 triệu thuê bao, tăng 16,8% so với cùng thời điểm năm trước. Số người sử dụng internet tại thời điểm cuối tháng 6/2011 ước tính 30,1 triệu người, tăng 22,1% so với cùng thời điểm năm 2010. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông sáu tháng đầu năm ước tính đạt 67,2 nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước.

d. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta sáu tháng đầu năm ước tính đạt 2965,8 nghìn lượt người, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1773,4 nghìn lượt người, tăng 11,2%; đến vì công việc 493,3 nghìn lượt người, giảm 1,7%; thăm thân nhân đạt 512,9 nghìn lượt người, tăng 77,6%. Trong sáu tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đều tăng, trong đó khách đến từ Trung Quốc tăng 51,5%; Hàn Quốc tăng 3,7%; Hoa Kỳ tăng 3,4%; Nhật Bản tăng 11,7%; Cam-pu-chia tăng 77,4%; Đài Loan tăng 8%; Ôx-trây-li-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 16,7%; Pháp tăng 8,5%; Xin-ga-po tăng 7,8%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

  1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện sáu tháng đầu năm 2011 theo giá thực tế ước tính đạt 409,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước[4] và bằng 38,3% GDP, trong đó vốn khu vực Nhà nước 141,1 nghìn tỷ đồng, giảm 3%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 163 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 105,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện sáu tháng đầu năm ước tính đạt 73,7 nghìn tỷ đồng, bằng 38,8% kế hoạch năm và tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó vốn trung ương quản lý đạt 17,7 nghìn tỷ đồng, bằng 42,4% kế hoạch năm và tăng 6,7%; vốn địa phương quản lý đạt 56 nghìn tỷ đồng, bằng 37,7% kế hoạch năm và tăng 9,2%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 22/6/2011 đạt 5666,7 triệu USD, bằng 56,7% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký 4399,2 triệu USD của 455 dự án được cấp phép mới (giảm 49,9% về vốn và giảm 30,1% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 1267,5 triệu USD của 132 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện sáu tháng đầu năm ước tính đạt 5300 triệu USD, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2010.

Trong số các ngành kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sáu tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có số vốn đăng ký dẫn đầu với 3333,2 triệu USD, bao gồm 2666,7 triệu USD vốn đăng ký mới và 666,5 triệu USD vốn tăng thêm; ngành xây dựng đạt 474,8 triệu USD, bao gồm 333,2 triệu USD vốn đăng ký mới và 141,6 triệu USD vốn tăng thêm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 322,7 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2011 ước tính đạt 301,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa 189,2 nghìn tỷ đồng, bằng 49,5%; thu từ dầu thô 42 nghìn tỷ đồng, bằng 60,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 67,6 nghìn tỷ đồng, bằng 48,7%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 47,1% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 45%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 48,8%; thuế thu nhập cá nhân bằng 60,2%; thu phí xăng dầu bằng 43,9%; thu phí, lệ phí bằng 38,3%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2011 ước tính đạt 331,5 nghìn tỷ đồng, bằng 45,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 74,1 nghìn tỷ đồng, bằng 48,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 71 nghìn tỷ đồng, bằng 48,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 213,9 nghìn tỷ đồng, bằng 48,4%; chi trả nợ và viện trợ 43,5 nghìn tỷ đồng, bằng 50,6%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu ước tính đạt 7,8 tỷ USD, tăng 7,8% so với tháng trước và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2010. Tính chung sáu tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 42,3 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 19,4 tỷ USD, tăng 29,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 22,9 tỷ USD, tăng 31,1%. Nếu không kể tái xuất vàng thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm tăng 33,2% so với cùng kỳ năm 2010.

Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sáu tháng đầu năm tăng cao, một mặt do lượng xuất khẩu một số mặt hàng tăng, mặt khác do giá trên thị trường thế giới một số mặt hàng tăng cao như: Giá hạt tiêu tăng 72,2%; giá cao su tăng 62%; giá cà phê tăng 57,3%; giá hạt điều tăng 42,3%; giá dầu thô tăng 41%; giá xăng dầu tăng 38%; giá sắn và sản phẩm sắn tăng 33%; giá sắt thép tăng 19%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm tăng 14,7%.

Thay đổi lớn trong cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2010 là tỷ trọng nhóm hàng nông, lâm sản tăng từ 16% lên 21,1%, chủ yếu do tăng đơn giá sản phẩm. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 30,2% xuống 29,5%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp giảm từ 43,5% xuống 41,3%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,1% xuống còn 2%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, trong sáu tháng đầu năm nay Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 7,6 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là thị trường EU với 7,4 tỷ USD, tăng 49,1%; thị trường ASEAN đạt 6,1 tỷ USD, tăng 16,6%; Nhật Bản đạt 4,6 tỷ USD, tăng 32,4%; Trung Quốc đạt 4,5 tỷ USD, tăng 56,6%.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Sáu ước tính đạt 8,2 tỷ USD, giảm 5,2% so với tháng trước và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 49 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 27,6 tỷ USD, tăng 22,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,4 tỷ USD, tăng 29,7%.

Tương tự xuất khẩu, giá nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao là một trong những nguyên nhân đẩy kim ngạch nhập khẩu tăng. Trong đó, giá bông tăng 106,8%, giá xăng dầu tăng 43,8%, giá sợi dệt tăng 38,5%, giá lúa mỳ tăng 40,6%, giá khí đốt tăng 21,6%, giá chất dẻo tăng 18,8%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu sáu tháng đầu năm tăng 15,1%

Cơ cấu hàng nhập khẩu sáu tháng đầu năm cũng có sự thay đổi so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, tỷ trọng nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng tăng từ 7,2% lên 8,2%; nhóm hàng tư liệu sản xuất giảm từ 92,2% xuống 91,3%.

Về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch sáu tháng ước tính 11 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước; ASEAN đạt 10,3 tỷ USD, tăng 36,1%; Hàn Quốc đạt 5,9 tỷ USD, tăng 41%; Nhật Bản đạt 4,5 tỷ USD, tăng 10,8%.

Nhập siêu tháng Sáu ước tính đạt 400 triệu USD, bằng 5,1% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, giảm nhiều so với các tháng trước chủ yếu do tái xuất vàng, nếu không kể vàng, nhập siêu ước khoảng 1 tỷ USD. Nhập siêu sáu tháng ước tính 6,65 tỷ USD, bằng 15,7% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nếu loại trừ vàng, nhập siêu sáu tháng ước tính 7,5 tỷ USD, tương đương 18,1% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.

  1. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2011 tăng 1,09% so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 1,79% (lương thực tăng 0,33%; thực phẩm tăng 2,47%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,16%); các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu khác có mức tăng từ 0,3% đến 0,8%. Riêng chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2011 tăng 13,29% so với tháng 12/2010 và tăng 20,82% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân sáu tháng đầu năm 2011 tăng 16,03% so với bình quân cùng kỳ năm 2010.

b. Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Các chỉ số giá sản xuất sáu tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ năm trước như sau: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 27,57%; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp tăng 16,71%; chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 18,32%; chỉ số giá cước vận tải tăng 15,85%. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá sáu tháng đầu năm nay tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 9,28%.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

  1. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước sáu tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 50,4 triệu người, tăng 33,2 nghìn người so với lực lượng lao động trung bình năm 2010, trong đó nam 26 triệu người, tăng 72,4 nghìn người; nữ 24,4 triệu người, giảm 39,2 nghìn người. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước sáu tháng đầu năm là 46,4 triệu người, giảm 7,2 nghìn người so với số bình quân năm trước, trong đó nam là 24,6 triệu người, tăng 42,6 nghìn người; nữ là 21,8 triệu người, giảm 49,8 nghìn người.

Lao động đang làm việc của cả nước trong sáu tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 49,2 triệu người, tăng 171 nghìn người so với bình quân năm 2010, trong đó 48,6% làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; 21,2% làm việc trong khu vực công nghiệp, xây dựng và 30,2% làm việc trong khu vực dịch vụ.

Theo kết quả điều tra lao động của 4237 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, lao động tháng 6/2011 của số doanh nghiệp trên ước tính tăng 1% so với tháng Năm, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,3%; doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 1,3% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 1,3%. Trong ba ngành công nghiệp cấp I, lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,1%; ngành khai thác tăng 0,3%; lao động ngành điện, nước tương đối ổn định.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi sáu tháng đầu năm ước tính 2,58%, trong đó khu vực thành thị 3,96%; khu vực nông thôn 2,02%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính 3,9%, trong đó khu vực thành thị 2,15% và khu vực nông thôn 4,6%.

  1. Đời sống dân cư, bảo đảm an sinh xã hội

Trong những tháng đầu năm, giá cả hàng hóa tăng cao cùng với thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư. Tuy nhiên, được sự quan tâm của Chính phủ cùng với việc thực hiện tốt các chính sách an sinh, xã hội của các cấp, các ngành, các địa phương nên nhìn chung đời sống đại bộ phận dân cư tương đối ổn định. Từ đầu năm, nhiều hoạt động cứu trợ xã hội được triển khai kịp thời với tổng giá trị cứu trợ là 1,3 nghìn tỷ đồng và 25 nghìn tấn gạo, góp phần giảm bớt khó khăn cho các hộ nghèo, người khuyết tật, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào sinh sống tại vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh đó, mức lương tối thiểu tăng từ 730 nghìn đồng/tháng lên 830 nghìn đồng/tháng từ tháng 5/2011 cùng với việc trợ cấp khó khăn cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ cấp ưu đãi, người có công và hộ nghèo theo Quyết định số 471/QĐ-TTg ngày 30/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ cũng phần nào cải thiện đời sống cho các đối tượng trên. Tình trạng thiếu đói giáp hạt đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong sáu tháng đầu năm, số lượt hộ thiếu đói giảm 13,0% và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,5 nghìn tấn lương thực và 9,2 tỷ đồng, riêng trong tháng Sáu hỗ trợ 2,5 nghìn tấn lương thực và 5,4 tỷ đồng.

  1. Giáo dục

Chương trình phổ cập giáo dục tiếp tục được triển khai mạnh tại các địa phương. Tính đến tháng 6/2011, cả nước đã có 57/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Các tỉnh chưa hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Gia Lai, Ninh Thuận và Bình Phước.

  1. Tình hình dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm

Trong sáu tháng đầu năm 2011, cả nước có 17,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 14 trường hợp tử vong; 381 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, có 8 trường hợp tử vong; 498 trường hợp mắc cúm A H1N1, trong đó 13 trường hợp tử vong và 164 trường hợp mắc thương hàn. Trong tháng Sáu đã phát hiện thêm hơn 2 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến giữa tháng 6/2011 lên 239,8 nghìn người, trong đó 96,6 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 50,4 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Riêng trong tháng Sáu đã xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm làm 786 người bị ngộ độc. Tính từ đầu năm cả nước đã xảy ra 45 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 2,4 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 7 trường hợp tử vong.

  1. Văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa thông tin sáu tháng đầu năm tập trung vào công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, mừng Đảng, mừng Xuân Tân Mão, chào mừng thành công Đại hội Đảng các cấp và kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc. Đặc biệt trong sáu tháng đầu năm, các địa phương đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền về cuộc bầu cử Quốc hội khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 .

Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa được tăng cường. Trong sáu tháng đầu năm, ngành văn hóa đã tiến hành kiểm tra 2,6 nghìn cơ sở kinh doanh, qua đó phát hiện 349 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính gần 700 triệu đồng và đình chỉ hoạt động 14 cơ sở.

Hoạt động thể dục thể thao quần chúng sáu tháng đầu năm diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Ngành Thể dục thể thao đã phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao các cấp. Trong thể thao thành tích cao, đã có 62 đội tuyển, dự tuyển quốc gia và 45 đội tuyển trẻ với trên 1500 vận động viên và hơn 250 huấn luyện viên cùng 30 chuyên gia được tham gia tập huấn nhằm chuẩn bị lực lượng tham dự SEA Games 26 và vòng loại Olympic 2012. Trong sáu tháng đầu năm, nhiều đoàn vận động viên nước ta tham gia các giải thể thao quốc tế và đã giành được 29 huy chương vàng, 45 huy chương bạc và 47 huy chương đồng.

  1. Tai nạn giao thông

Trong năm tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 5705 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4787 người và làm bị thương 4399 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 0,3%, số người chết tăng 1,1% và số người bị thương tăng 5,8%. Bình quân 1 ngày trong năm tháng đầu năm, cả nước có 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 29 người.

  1. Thiệt hại do thiên tai gây ra

Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai xảy ra trong sáu tháng đầu năm đã làm 66 người chết và mất tích; hơn 10 nghìn ngôi nhà bị sập và hư hại; trên 67 nghìn ha lúa, mạ và hoa màu bị ngập, hỏng; gần 60 nghìn con gia súc bị chết. Tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trong sáu tháng ước tính khoảng 2,2 nghìn tỷ đồng. Tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai trong sáu tháng đầu năm là hơn 110 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế – xã hội nước ta sáu tháng đầu năm 2011 đạt được một số kết quả tích cực. Nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý với mức tăng quý II cao hơn quý I. Chỉ số giá tiêu dùng những tháng cuối quý II đã tăng chậm lại và theo xu hướng giảm dần. Sản xuất một số ngành, lĩnh vực đạt khá. An sinh xã hội có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta còn gặp một số khó khăn thách thức như: Lạm phát tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức cao; sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn về vốn và giá nguyên liệu đầu vào tăng; nhập siêu vẫn ở mức cao; thu hút đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm. Để thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011, các cấp, các ngành, các tập đoàn kinh tế và các địa phương cần tăng cường phối hợp chặt chẽ để thực hiện đạt hiệu quả cao Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ nhằm tiếp tục kiềm chế lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tốt vấn đề an sinh xã hội.

[1] Theo Thông tư số 07/2011/TT-BKHĐT ngày 17/5/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ tháng 6/2011 áp dụng chỉ tiêu thống kê “Chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng” thay thế chỉ tiêu “Chỉ số giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định 1994 hàng tháng”.

[2] Nếu tính theo giá cố định 1994, giá trị sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm 2011 tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 2,6%; công nghiệp chế biến tăng 15,2%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 10,2%.

[3] Từ tháng 5/2011, tổng số thuê bao di động được thống kê theo tiêu chí mới, theo đó chỉ tính số thuê bao di dộng có phát sinh ít nhất 01 giao dịch trong tháng trước tháng báo cáo, không tính các thuê bao tuy chưa bị cắt liên lạc nhưng không phát sinh giao dịch.

[4] Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện sáu tháng đầu năm 2011 chỉ bằng  92,1% cùng kỳ năm 2010.