1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp
Tính đến 15/7/2004, cả nước gieo cấy được 1022,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 93,3% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 875,2 nghìn ha, bằng 88%; các địa phương phía Nam 147,2 nghìn ha, bằng 145,9%. Tiến độ gieo cấy lúa mùa tại các tỉnh phía Bắc chậm so với vụ mùa năm trước do thu hoạch lúa đông xuân năm nay muộn hơn và thời tiết nắng nóng kéo dài trong tháng 7, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 410,8 nghìn ha, bằng 79% cùng kỳ năm trước; vùng Bắc Trung Bộ 165,8 nghìn ha, bằng 92,1%. Đáng chú ý là trung tuần tháng 7, mưa lớn trên diện rộng gây ra lũ quét và làm ngập úng nhiều diện tích lúa mùa mới cấy tại các tỉnh phía Bắc, đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng ngập úng nặng 217,6 nghìn ha, chiếm hơn 50% diện tích đã gieo cấy, trong đó ngập trắng 116,4 nghìn ha; một số tỉnh bị thiệt hại nặng như Thái Bình ngập 53 nghìn ha và mất trắng 36 nghìn ha; Nam Định ngập 36 nghìn ha và mất trắng 21 nghìn ha. Hiện nay, các địa phương đang tập trung lực lượng và phương tiện để khẩn trương tiêu úng và gieo cấy lại diện tích lúa đã mất cho kịp thời vụ.
Các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 2078 nghìn ha lúa hè thu, tăng 43 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1790,5 nghìn ha, tăng 53,5 nghìn ha. Cũng đến thời điểm này, các địa phương đã thu hoạch được 791,5 nghìn ha lúa hè thu chính vụ, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 742 nghìn ha, bằng 112,2% cùng kỳ năm 2003 và chiếm 41% diện tích gieo cấy.
Diện tích gieo trồng ngô của cả nước tính đến trung tuần tháng 7 năm nay đạt 767,6 nghìn ha, bằng 118,9% cùng kỳ năm 2003; khoai lang 156,3 nghìn ha, bằng 94,1%; sắn 283,9 nghìn ha, bằng 99,5%; lạc 202 nghìn ha, bằng 107,1%; đậu tương 132,5 nghìn ha, bằng 124,9%; mía 40,6 nghìn ha, bằng 99,8%; thuốc lá 16,5 nghìn ha, bằng 75,7%; rau đậu 545,8 nghìn ha, bằng 109,6%.
Chăn nuôi nhìn chung ổn định, đàn gia cầm tiếp tục được phục hồi sau dịch cúm nhưng tốc độ còn chậm; đầu tháng 7 ở một số tỉnh phía Nam có hiện tượng gia cầm bị chết nhiều và bị tiêu huỷ, ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi (Tiền Giang 12 nghìn con, Cần Thơ 7,1 nghìn con, Bạc Liêu 7,8 nghìn con); chăn nuôi trâu bò có xu hướng tăng khá; riêng đàn lợn tốc độ tăng chậm so với 6 tháng đầu năm do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao.
Lâm nghiệp
Thời tiết trong tháng 7 thuận lợi cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Diện tích rừng trồng mới ước tính đạt 19,8 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước, chủ yếu là rừng trồng theo các chương trình và dự án; sản lượng gỗ khai thác ước tính tăng 1,2%. Tính chung 7 tháng đầu năm nay, diện tích rừng trồng bằng 99,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác bằng 100,4%.
Thuỷ sản
Hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản tháng 7 khá sôi động, thời tiết đang vào mùa mưa, tạo thuận lợi cho khai thác ven bờ và nội địa; ngư trường tương đối ổn định cho đánh bắt xa bờ; giá tôm nguyên liệu tăng 10 nghìn đồng/kg so với tháng trước tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, giá xăng dầu tăng đã ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác của các địa phương, sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 7 năm nay ước đạt 175,1 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2003; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 100,5 nghìn tấn, tăng 6%. Tính chung 7 tháng đầu năm, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 1692,9 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác đạt 1163,7 nghìn tấn, tăng 3,6%; sản lượng nuôi trồng đạt 529,2 nghìn tấn, tăng 7,2%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng 7 ước tính tăng 14,7% so với tháng 7 năm trước, thấp hơn mức tăng bình quân 6 tháng. Cụ thể mức tăng công nghiệp tháng 7 của các khu vực như sau: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,5% (Trung ương quản lý tăng 10,8%; địa phương quản lý tăng 9,8%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 21,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,2% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 13%; các doanh nghiệp khác tăng 14,6%). Tuy vậy, mức tăng 14,7% so với tháng 7 năm trước vẫn là mức tương đối cao, chủ yếu do duy trì được mức tăng trưởng ổn định ở mức cao và đẩy mạnh được tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như xuất khẩu của các sản phẩm chính như: Than sạch tăng 42,3%; quần áo dệt kim tăng 30,6%; quần áo may sẵn tăng 27,6%; giấy bìa tăng 54,6% (tháng 7 năm trước sản xuất thấp vì nâng cấp dây chuyền sản xuất); thép cán tăng 15%; máy công cụ và động cơ diezen tăng 25%; quạt điện dân dụng tăng 41,1%; ti vi lắp ráp tăng 45,4%; xe máy lắp ráp tăng 57,2%; xe đạp tăng 233%… Bên cạnh đó, còn một số sản phẩm chủ yếu tăng thấp so với tháng 7 năm trước như thuỷ sản chế biến, xi măng, động cơ điện, máy biến thế và giảm so với cùng kỳ như dầu thô khai thác, đường mật, xút, thuốc trừ sâu, ô tô lắp ráp…
Do công nghiệp tháng 7 tăng chậm lại và thấp hơn mức tăng 6 tháng nên tính chung 7 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá năm 1994 ước đạt 208,1 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,6% (Trung ương quản lý tăng 13,7%; địa phương quản lý tăng 7,3%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 21,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,4% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 20,1%; các doanh nghiệp khác tăng 12,4%). Một số tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp 7 tháng đầu năm nay đạt trên 5 nghìn tỷ đồng (giá năm 1994) và đạt tốc độ tăng trên 15% là: Hà Nội tăng 15,1%; Hải Phòng tăng 15,9%; Vĩnh Phúc tăng 24,7%; Quảng Ninh tăng 21,7%; Bình Dương tăng 33,1%; Đồng Nai tăng 19,4%; thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 26,7% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước) tăng 15,5%. Một số sản phẩm quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp 7 tháng đầu năm nay tiếp tục duy trì được tốc độ tăng tương đối cao so với 7 tháng đầu năm 2003 là than sạch tăng 31,9%; dầu thô khai thác tăng 13,6%; thuỷ sản chế biến tăng 17,3%; quần áo dệt kim tăng 23,1%; quần áo may sẵn tăng 20,6%; giấy bìa tăng 34%; phân hoá học tăng 13,2%; ti vi lắp ráp tăng 37,6%; xe máy lắp ráp tăng 48,7%; xe đạp tăng 114,3%; điện sản xuất tăng 12%. Bên cạnh đó, còn một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với 7 tháng 2003 như: Thép cán tăng 3,2% do giá nhập khẩu phôi thép trên thị trường thế giới tăng cao và việc điều hành sản xuất, tiêu thụ còn gặp những khó khăn; xi măng tăng 6,7% do ảnh hưởng của cầu liên quan đến thép xây dựng. Sản phẩm động cơ các loại, biến thế tăng thấp. Một số sản phẩm giảm như đường mật và ô tô lắp ráp…
3. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 7 tháng đầu năm 2004 ước đạt 22,81 nghìn tỷ đồng, đạt 61,5% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 8,8 nghìn tỷ đồng, đạt 67,6% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 3,74 nghìn tỷ (chiếm 42,5% tổng vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện trong 7 tháng) đạt 76,5% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 59%; Bộ Y tế đạt 48,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 47%; Bộ Văn hoá Thông tin đạt 50,8%… Vốn đầu tư do địa phương quản lý ước thực hiện 14,01 nghìn tỷ, đạt 58,2% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 1,23 nghìn tỷ đồng đạt 49,4%; TP. Hồ Chí Minh 2,72 nghìn tỷ đồng, đạt 43,8%; Hải Phòng đạt 70,6%; Thanh Hoá đạt 64,3%; Khánh Hoà đạt 58,4%; Đồng Nai đạt 55,1%; Tiền Giang đạt 61,9%…
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 22/7/2004 có 359 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 962,5 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,1% về số dự án và tăng 21,2% về vốn đăng ký. Vốn đăng ký bình quân 1 dự án gần 2,7 triệu USD. Ngành công nghiệp và xây dựng có 256 dự án với số vốn đăng ký 588,5 triệu USD, chiếm 71,3% về số dự án và 61,1% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 45 dự án với số vốn đăng ký 222,7 triệu USD, chiếm 12,5% về số dự án và 23,2% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 58 dự án với số vốn đăng ký 151,3 triệu USD, chiếm 16,2% về số dự án và 15,8% về vốn đăng ký.
Các tỉnh thành phố phía Nam có 247 dự án với số vốn đăng ký là 539,7 triệu USD, chiếm 68,8% về số dự án và 56,1% về vốn đăng ký, trong đó Đồng Nai đứng đầu về số vốn đăng ký với 30 dự án và 177,7 triệu USD, Bình Dương 56 dự án và 162,5 triệu USD, Thành phố Hồ Chí Minh 120 dự án và 95,3 triệu USD, Bà Rịa- Vũng tàu 7 dự án và 18,1 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 112 dự án với số vốn 422,8 triệu USD, chiếm 31,2% về số dự án và 43,9% về vốn đăng ký, trong đó Thái Nguyên 3 dự án và 147,7 triệu USD, Hà Nội có 37 dự án và 54,6 triệu USD; Vĩnh Phúc 12 dự án với 46 triệu USD; Lạng Sơn có 6 dự án và 40,3 triệu USD; Hải Dương 8 dự án và 27,4 triệu USD; Quảng Ninh 6 dự án và 22,5 triệu USD, Hải Phòng 5 dự án và 15,1 triệu USD.
Theo đối tác đầu tư thì Đài Loan đứng đầu về vốn đăng ký với 75 dự án và 263,2 triệu USD; tiếp theo là Ca-na-đa với 8 dự án và 152 triệu USD; Hàn Quốc 86 dự án và 146 triệu USD; Nhật Bản 27 dự án và 70,9 triệu USD; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 19 dự án và 42,4 triệu USD; Trung Quốc 35 dự án và 39,7 triệu USD, Hoa Kỳ 16 dự án và 32,1 triệu USD…
4. Vận tải và bưu chính viễn thông
Vận chuyển hành khách 7 tháng đầu năm 2004 đạt 552,7 triệu lượt hành khách và 25,2 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,7% về lượt hành khách và tăng 15,9% về lượt hành khách.km. Trong các loại hình, vận chuyển hành khách bằng đường sắt tăng 10% và tăng 9,2%; đường bộ tăng 6,6% và tăng 7,1%; hàng không tăng 56,3% và tăng 77,3%.
Vận chuyển hàng hoá 7 tháng ước đạt 150,2 triệu tấn và 32,4 tỷ tấn.km, tăng 5,1% về tấn và tăng 7,6% về tấn.km so với 7 tháng đầu năm 2003, trong đó vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt tăng 8,3% và tăng 7%; bằng đường bộ tăng 5% và tăng 5,8%; bằng đường biển tăng 6,7% và tăng 8,1%; bằng đường sông tăng 4,3% và tăng 7,3%; bằng hàng không tăng 16,5% và tăng 14,6%.
Về bưu chính viễn thông, doanh thu 7 tháng đầu năm 2004 ước đạt 14,12 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số máy điện thoại của cả nước hiện có 8,52 triệu chiếc, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại cố định 5 triệu chiếc, tăng 22,6%. Số thuê bao internet là 569,7 nghìn thuê bao, tăng 58%.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 7 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 210,2 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 33,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9%; kinh tế cá thể đạt 133,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 63,4% tổng mức) tăng 17,1%; kinh tế tư nhân đạt 37,1 nghìn tỷ đồng, tăng 30,9%. Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 81,4% tổng mức, tăng 20,2%; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,3%, tăng 11,6%; dịch vụ chiếm 5,6% tăng 3,7%.
Giá tiêu dùng tháng 7/2004 tiếp tục tăng 0,5% so với tháng trước, chủ yếu do tăng giá nhóm lương thực thực phẩm và giá nhóm phương tiện đi lại và bưu điện (chủ yếu là tăng giá xăng dầu). Giá nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,4%, là mức tăng thấp nhất từ đầu năm tới nay, trong đó giá lương thực sau 6 tháng tăng liên tục, tháng này đã giảm 0,3% và thực phẩm tăng 0,7%; nhóm phương tiện đi lại và bưu điện tăng 3,1%; nhóm dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 1%; các nhóm hàng khác không tăng hoặc tăng nhẹ; riêng văn hoá thể thao, giải trí giảm 0,2%. So với tháng 12 năm 2003, giá tiêu dùng tháng 7/2004 tăng 7,7%, trong đó lương thực, thực phẩm tăng 13,7% (lương thực tăng 11,2%, thực phẩm tăng 15,4%); dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 7,7%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 4,8%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,5%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 4%…Tính chung 7 tháng, giá tiêu dùng tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước.
Giá vàng tháng 7/2004 tăng 0,5% so với tháng trước và giảm 0,4% so với tháng 12/2003; giá đô la Mỹ giảm 0,1% và tăng 0,1%.
Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2004 ước đạt 14,17 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, bình quân một tháng đạt trên 2 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 11,21 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,43 tỷ USD, tăng 11,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,78 tỷ USD, tăng 32,3%.
Tổng trị giá xuất khẩu của 7 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đạt trên 500 triệu USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, điện tử máy tính, sản phẩm gỗ và gạo đạt gần 10 tỷ USD và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp tới 65% vào tăng kim ngạch chung. Trong 7 mặt hàng trên thì có tới 6 mặt hàng tăng khá, trừ thuỷ sản xuất khẩu giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước do khó khăn về thị trường và nguyên liệu đầu vào. Xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ yếu có thống kê về lượng đều tăng cả về kim ngạch và khối lượng xuất khẩu như: Dầu thô tăng 32,8% về kim ngạch và tăng 12,5% về khối lượng xuất khẩu; than đá tăng 66,1% và tăng 51,3%; cà phê tăng 48,5% và tăng 55,2%; hạt tiêu tăng 29% và tăng 32,1%; hạt điều tăng 34% và tăng 19,2%. Riêng gạo tăng 17,8% về kim ngạch và lượng giảm 3%; cao su giảm 1,9% về kim ngạch và giảm 32,4% về lượng; xuất khẩu lạc giảm gần một nửa cả về kim ngạch và lượng. Kim ngạch xuất khẩu rau quả giảm 3%, sữa và sản phẩm sữa giảm 4,8%.
Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng ước đạt 16,85 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 10,91 tỷ USD, tăng 16,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 5,94 tỷ USD, tăng 17,8%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất trong nước tăng khá nhanh: Xăng dầu tăng 31,9%; sắt thép tăng 25,4%; phân bón tăng 18%; chất dẻo tăng 40,1%; hoá chất 17,9%; thuốc trừ sâu tăng 28,4%… Tuy nhiên, đáng lưu ý là do giá một số mặt hàng tăng cao nên khối lượng cuả một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu (trừ xăng dầu, chất dẻo và bông) lại tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ nên sẽ ảnh hưởng đến sản xuất trong nước trong những tháng cuối năm. Nhập khẩu máy móc thiết bị 7 tháng vẫn còn giảm 12,9%, tuy trong tháng 7 đã nhập thêm 2 máy bay với trị giá khoảng 120 triệu USD. Nhập siêu 7 tháng đầu năm nay khoảng 2,68 tỷ USD, bằng 18,9% kim ngạch xuất khẩu.
Khách quốc tế đến Việt Nam 7 tháng đầu năm 2004 đạt 1656,2 nghìn lượt người, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 876,8 nghìn lượt người (chiếm 52,9% tổng số khách), tăng 47,5%; vì công việc 291 nghìn lượt người, tăng 21,7%; thăm thân nhân 285,8 nghìn lượt ngời, tăng 30,9%; vì các mục đích khác 202,6 nghìn lượt người, tăng 15,4%.
Khách đến nước ta nhiều nhất là từ Trung Quốc: 458,6 nghìn lượt người, tăng 40,8%; từ Mỹ 168,3 nghìn lượt người, tăng 34,3%; Đài Loan 144 nghìn lượt người, tăng 48,6%; Nhật Bản 136,8 nghìn lượt người, tăng 19,7%; Hàn Quốc 114 nghìn lựơt người, tăng 85,5%; Ô-xtrây-li-a 72,3 nghìn lượt người, tăng 49,2%; Pháp 57,8 nghìn lượt người, tăng 18,6%.
6. Thu chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước 7 tháng đầu năm ước tính đạt 58,8% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 60,7%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 59,3% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 62,1%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 69,2%; các khoản thu về nhà đất đạt 101,1%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 53,8%. Thu từ dầu thô đạt 70,8%. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 46,6%, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 44,6%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 7 tháng đầu năm ước tính đạt 53% dự toán cả năm; trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt 44,7% và chi thường xuyên đạt 60,3%; Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 58,7% dự toán cả năm; chi cho y tế đạt 58,8%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 58,6%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 66,2%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 65,8%; chi khoa học công nghệ đạt 58,6%… Bội chi ngân sách 7 tháng đầu năm ước tính bằng 33,7% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 86,5% và vay nước ngoài 13,5%.
7. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, trong tháng 7 (tính đến 20/7), có 29,7 nghìn lượt hộ với 150,3 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,3% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp trong cả nước, trong đó có 5,5 nghìn hộ bị thiếu đói gay gắt. Thiếu đói trong tháng xảy ra tập trung ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. So với tháng trước, số hộ thiếu đói trong tháng 7/2004 giảm 2,6%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 4,1%. So với cùng kỳ năm trước, giảm 15,3 nghìn lượt hộ tương ứng giảm 75 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 3,8 nghìn tấn lương thực và 9,5 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 7 là 85 tấn lương thực và 1,9 tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 7/2004, đa số các bệnh gây dịch có số người mắc bệnh giảm so với cùng kỳ năm trước: Số ca mắc viêm não vi rút giảm 4%; tiêu chảy cấp giảm 18%; thương hàn giảm 42%; sốt rét giảm 42,4%; riêng viêm màng não mô cầu tăng 123%.
Về tình hình sốt xuất huyết: theo báo cáo của 36 địa phương, trong tháng có 8,4 nghìn ca mắc, gấp 4,1 lần số ca mắc cùng kỳ năm 2003, trong đó 9 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, trong cả nước đã có trên 29,7 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 49 người đã tử vong. Bệnh sốt xuất huyết bùng phát mạnh tại đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, chiếm tới trên 90% số ca mắc trong cả nước. Trước tình hình này, ngành Y tế đã tăng cường công tác phòng chống dịch, nhất là tại các tỉnh thuộc hai khu vực trên. Nhiều địa phương đã thành lập các đoàn công tác để dập dịch tại một số vùng trọng điểm và thành lập đường dây nóng để tư vấn cho người dân về phòng chống dịch. Ngành Y tế cũng tiếp tục tăng cường công tác tập huấn, truyền thông, trang bị phương tiện máy móc, hoá chất, thuốc chữa bệnh, đồng thời tăng cường giám sát, phát hiện sớm, bao vây dập tắt ổ dịch, tổ chức cấp cứu và điều trị kịp thời.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 7 đã phát hiện thêm 1279 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV trong cả nước đến 16/7/2004 lên 83 nghìn người, trong đó trên 13 nghìn bệnh nhân AIDS và 7,4 nghìn nguời đã chết do AIDS.
Kỳ thi tuyển sinh đại học năm nay được tổ chức thành 2 đợt tại 7 cụm thi là Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Đợt 1 được tổ chức vào các ngày 4 và 5/7/2004 cho các thí sinh dự thi khối A với 431 nghìn thí sinh dự thi, bằng 77,1% số thí sinh đăng ký. Đợt 2 tổ chức vào các ngày 9 và 10/7/2004 cho các thí sinh thi các khối thi còn lại với số thí sinh dự thi là 457,5 nghìn người, bằng 78,8% số thí sinh đăng ký. Tính chung cả 2 đợt, có 888,5 nghìn lượt thí sinh dự thi đại học, bằng 78% số thí sinh đăng ký. Trong kỳ thi tuyển sinh năm nay, các Bộ, các ngành và chính quyền các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn bị chu đáo các điều kiện cho kỳ thi và tổ chức coi thi nghiêm túc tại 93 trường đại học và học viện. Kỳ thi đã diễn ra trật tự, an toàn, đúng quy chế. Đề thi năm nay được bảo đảm an toàn, bí mật tuyệt đối, bám sát chương trình và sách giáo khoa, đồng thời đảm bảo được yêu cầu phân loại thí sinh. Công tác rà soát thí sinh cũng như cán bộ coi thi được thực hiện chu đáo, nên hiện tượng thi kèm, thi hộ, thi thuê cũng giảm nhiều; việc kiểm tra thí sinh mang tài liệu vào phòng thi được thực hiện nghiêm túc, do đó số thí sinh vi phạm quy chế giảm đáng kể so với những năm trước. Qua 2 đợt thi có 3186 thí sinh vi phạm quy chế bị xử lý kỷ luật tại chỗ, trong đó có 2637 trường hợp bị đình chỉ thi và 14 cán bộ tuyển sinh bị xử lý kỷ luật. Hiện nay, các trường và học viện đang chuẩn bị việc chấm thi theo hai vòng độc lập dựa trên đáp án công khai để đảm bảo công bằng và quyền lợi chính đáng của thí sinh. Ngoài ra cũng sẽ tiếp tục kiểm tra thí sinh trúng tuyển nhằm phát hiện và xử lý các trường hợp gian lận trong thi cử.
An toàn giao thông
Trong tháng 6/2004 trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1490 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1041 người và làm bị thương 1354 người. So với tháng 5/2004, tai nạn giao thông giảm 32 vụ, số người chết giảm 49 người và số người bị thương giảm 55 người. So với tháng 6/2003, số vụ tai nạn giảm 468 vụ và số người chết giảm 31 người; riêng số người bị thương tăng 864 người. Trong tháng 6/2004 cũng đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm 51 người chết và 33 người bị thương. Tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra trên đường bộ với 97% số vụ tai nạn xảy ra trong tháng. Trong số các vụ tai nạn xảy ra trên đường bộ, nguyên nhân do chạy quá tốc độ quy định chiếm 26,2% và do thiếu quan sát 19,2%. Số vụ tai nạn do mô tô, xe máy gây ra chiếm 72,6%; số vụ tai nạn xảy ra trên các tuyến đường quốc lộ chiếm 55,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 9,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 6,3 nghìn người và làm bị thương 8,8 nghìn người.
Thiệt hại do thiên tai
Từ cuối tháng 6 đến nay đã xảy ra tình trạng lốc, lũ, lũ quét, sạt lở đất, sét đánh và mưa lớn tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt là đợt lũ quét vừa xảy ra tại Hà Giang và mưa lớn tại các tỉnh miền Bắc những ngày qua đã gây thiệt hại về người và tài sản. Thiên tai đã làm 53 người chết và mất tích; 24 người bị thương; trên 20 vạn ha lúa mùa ở miền Bắc bị ngập úng, trong đó ngập trắng 116 nghìn ha; hàng nghìn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại và nhiều nhà cửa bị sập đổ, cuốn trôi. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 70 tỷ đồng. Riêng lũ quét xảy ra ngày 19/7 tại Yên Minh, Hà Giang, tính đến ngày 25 tháng 7 đã làm 31 người chết, 14 người mất tích, 16 người bị thương và giá trị thiệt hại ước tính gần 50 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ