1. Tình hình sản xuất nông nghiệp.
Tính đến ngày 15 tháng 7, cả nước đã gieo cấy được 1095,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 102% cùng kỳ năm trước, trong đó miền Bắc gieo cấy 994,7 nghìn ha, bằng 103,4%; miền Nam 100,9 nghìn ha, bằng 90,6%. Tranh thủ thời tiết đầu vụ thuận lợi, các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng đã tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo cấy, đạt 520,3 nghìn ha, bằng 109,3% cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh có tiến độ gieo cấy nhanh như: Thái Bình 79,5 nghìn ha, bằng 106,9%; Vĩnh Phúc 35 nghìn ha, bằng 105,4%; Hải Dương 67,4 nghìn ha, bằng 104,8%. Các tỉnh Bắc Trung Bộ do lượng mưa đầu vụ ít hơn mọi năm kết hợp với nắng nóng nên tiến độ gieo cấy chỉ bằng 93% cùng kỳ năm trước.
Cùng với việc chăm sóc và gieo cấy lúa mùa, đến nay các địa phương phía Nam đã cơ bản hoàn thành gieo cấy lúa hè thu chính vụ với 2035 nghìn ha, tăng 40 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1737 nghìn ha, tăng 30 nghìn ha.
Cũng đến trung tuần tháng 7, các địa phương đã thu hoạch được 686,2 nghìn ha lúa hè thu sớm, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 661,4 nghìn ha, bằng 132,5% cùng kỳ năm trước và chiếm 38% diện tích gieo cấy, trong đó: Cần Thơ thu hoạch 138 nghìn ha, chiếm 53%; An Giang 140 nghìn ha, chiếm 60%; Đồng Tháp 156 nghìn ha, chiếm 68%. Một số địa phương tiến độ thu hoạch chậm như Kiên Giang mới đạt 36 nghìn ha, chiếm 18% diện tích gieo cấy; Sóc Trăng 31 nghìn ha, chiếm18,2%; Tiền Giang 44 nghìn ha, chiếm 33,5%.
Ngoài ra, đến nay các địa phương đã gieo trồng được 595,7 nghìn ha ngô, bằng 97,3% cùng kỳ năm trước; 441,5 nghìn ha khoai lang, sắn, bằng 102%; 188,6 nghìn ha lạc, bằng 98,3%; 96,1 nghìn ha đậu tương, bằng 96,2%; 21,8 nghìn ha thuốc lá, bằng 89,3%; 38,7 nghìn ha mía, bằng 48% và 457,9 nghìn ha rau, đậu bằng 96,7%.
2. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 7 ước tính tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 14,2% (Trung ương quản lý tăng 14,2%; địa phương quản lý tăng 14,3%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,5% (dầu mỏ và khí đốt tăng 16,3%; các doanh nghiệp khác tăng 20,7%). Một số tỉnh và thành phố có giá trị sản xuất công nghiệp lớn có tốc độ tăng trên mức trung bình của cả nước như: Hà Nội tăng 28,6%; Hải Phòng tăng 23%; Quảng Ninh tăng 22,1%; Hải Dương tăng 34,8%; Hà Tây tăng 28,6%; Đà Nẵng tăng 29,6%; Bình Dương tăng 32,9%; Đồng Nai tăng 18,8%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong công nghiệp tháng 7 có tốc độ tăng tương đối cao so với cùng kỳ năm 2002 tăng hơn tốc độ tăng của 6 tháng là: Than khai thác tăng 22,2%; thuỷ sản chế biến tăng 17%; dầu thô khai thác 9,3%; xi măng tăng 19%; động cơ đi-ê-den tăng 250,9% và và máy biến thế tăng 36,4%. Các sản phẩm như quần áo may sẵn, thép cán, quạt điện dân dụng, ô tô lắp ráp và sản xuất điện tuy tốc độ tăng chưa bằng mức tăng 6 tháng nhưng vẫn duy trì được mức tăng cao. Tuy nhiên, một số sản phẩm ước tính tháng 7 giảm nhiều hoặc tăng chậm so với cùng kỳ do thay đổi điều kiện sản xuất hoặc khó khăn trong cạnh tranh với mặt hàng cùng loại nhập khẩu do phải cắt giảm thuế theo lộ trình AFTA, bắt đầu áp dụng từ 1/7/2003 như: Giấy bìa giảm 6,5% (6 tháng tăng khoảng 17%); ti vi chỉ tăng 1,3% (6 tháng tăng trên 20%); máy công cụ giảm 22,1%; xe đạp các loại giảm 33,8%; xe máy lắp ráp giảm 25,1% (do chính sách điều tiết của Nhà nước) …và có khả năng những sản phẩm này sẽ tiếp tục giảm trong những tháng cuối năm. Tính chung 7 tháng giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 12,1%, khu vực ngoài quốc doạnh tăng 18,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,1%.
3. Đầu tư.
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 7 tháng đầu năm 2003 được 14870 tỷ đồng, đạt 65,8% kế hoạch năm. Vốn trung ương quản lý thực hiện 9064,3 tỷ đồng, đạt 76,4% kế hoạch, trong đó Bộ Giao thông Vận tải thực hiện được 4097 tỷ đồng đạt 81%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện được 1492 tỷ đồng, đạt 84,5%, Bộ Y tế thực hiện 246 tỷ đồng đạt 52,3%, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện 132,7 tỷ đồng, đạt 59%. Vốn địa phương quản lý thực hiện 5806,4 tỷ đồng, đạt 54,1% kế hoạch. Đạt trên 70% kế hoạch năm có các tỉnh, thành phố: Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Bến Tre, An Giang. Đạt dưới 50% kế hoạch năm có 27 tỉnh, thành phố, trong đó có Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Đồng Tháp…
Khó khăn hiện nay của nhiều dự án là khâu giải phóng mặt bằng chậm và giá nhân công, vật liệu tăng và không ổn định, dẫn đến một số công trình khởi công mới phải tạm dừng thi công để điều chỉnh dự toán nên không đảm bảo được tiến độ thi công. Khâu nghiệm thu và thanh quyết toán khối lượng hoàn thành cũng chậm nên hiện tượng nợ đọng vốn đối với nhà thầu là khá phổ biến.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20/7/2003 đã cấp giấy phép cho 332 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 794,2 triệu USD. Trong đó ngành công nghiệp 241 dự án với số vốn đăng ký gần 477 triệu USD, chiếm 72,6 % về số dự án và 60,1% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 15 dự án với số vốn đăng ký gần 30 triệu USD, chiếm 4,5% về số dự án và 3,8 % về vốn đăng ký.
Các dự án vẫn tập trung phần lớn vào các tỉnh, thành phố phía Nam, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 96 dự án với vốn 207,6 triệu USD; Bình Dương 63 dự án với vốn 103,7 triệu USD; Đồng Nai có 30 dự án với vốn gần 77,8 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 88 dự án với số vốn 254,8 triệu USD, chiếm 26,5% về dự án và 32,1% về vốn, trong đó Hà Nội có 27 dự án với 47,7 triệu USD, Hải Phòng 17 dự án với 89,5 triệu USD, Vĩnh Phúc 11 dự án với 41,1 triệu USD, Phú Thọ có 4 dự án với 13,3 triệu USD, Hải Dương có 6 dự án với 16,6 triệu USD, Quảng Ninh 4 dự án với 12,7 triệu USD…
Theo đối tác đầu tư, Đảo Vigin thuộc Anh đứng đầu về số vốn đăng ký với 15 dự án với 169,8 triệu USD; Đài Loan 86 dự án với 156,9 triệu USD; Hàn Quốc 82 dự án với 115,8 triệu USD; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 23 dự án với 85,1 triệu USD; Nhật Bản 23 dự án với 56,8 triệu USD; Singapo 14 dự án với 39,3 triệu USD; Trung Quốc 22 dự án với 37 triệu USD…
4. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 7 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 509,7 triệu lượt hành khách và 22,4 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,7% về khối lượng vận chuyển và tăng 2,1% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển hàng hoá đạt trên 144,9 triệu tấn và gần 31,6 tỷ tấn.km, tăng 5,8% về khối lượng vận chuyển và 2,6% về khối lượng luân chuyển.
Nhìn chung ngành vận tải đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân và đã có cố gắng trong việc phục vụ việc đi lại của thí sinh trong kỳ thi đại học, cao đẳng năm 2003.
5. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 7 tháng đầu năm nay ước tính đạt 174,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 29,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,4%; khu vực kinh tế tập thể tăng 22,4%; khu vực kinh tế cá thể đạt 113,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 64,9%), tăng 8,8%; khu vực kinh tế tư nhân tăng 21,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ tăng 5,1%. Trong các ngành kinh doanh, trừ ngành du lịch doanh thu giảm 12,2% còn các ngành khác đều tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước: Thương nghiệp (chiếm 81,1% tổng mức) tăng 10,1%; khách sạn, nhà hàng tăng 12,8%; dịch vụ tăng 14,4%.
Giá tiêu dùng tháng 7/2003 giảm 0,3% so với tháng trước. Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm giảm 0,5% (lương thực giảm 1,2%); văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%, phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,1%. Riêng nhóm dược phẩm, y tế tăng 0,4% và nhóm nhà ở vật liệu xây dựng tăng 0,2%. Các nhóm còn lại không có biến động so với tháng trước.
So với tháng 12/2002, giá tiêu dùng tháng 7/2003 tăng 1,8% với hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng, trong đó nhóm dược phẩm, y tế tăng tới 14%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 2,7%; Các nhóm đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giầy dép; đồ dùng và dịch vụ khác đều tăng 2,1%; Lương thực, thực phẩm tăng 1,1% (lương thực giảm 2,4%, thực phẩm tăng 2,6%); riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,8%.
Giá vàng tháng 7/2003 giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 9,9% so với tháng 12/2002; Giá đô la Mỹ tương ứng tăng 0,2% và tăng 0,8%.
Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 11,4 tỷ USD, tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 5,65 tỷ USD, tăng 18,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 5,75 tỷ USD, tăng 38,7%. Hầu hết các mặt hàng chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2002. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng có tốc độ tăng cao và được lợi về giá là: Dầu thô tăng 29,3% (lượng xuất khẩu chỉ tăng 2,5%) và đóng góp vào mức tăng xuất khẩu chung là 20,1%; cà phê tăng 59,5% (lượng xuất khẩu giảm 11,4%); cao su tăng 34% (lượng xuất khẩu giảm 13,4%). Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may tăng 59,9% và đóng góp 32,3%; giày dép tăng 23,5% và đóng góp 10,3%; thuỷ sản tăng 9%; hàng điện tử, máy tính tăng 36,2%. Gạo và hạt điều là 2 mặt hàng có khối lượng xuất khẩu tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước: lượng xuất khẩu gạo 7 tháng tăng 38,1% và hạt điều tăng 56,3% nên mặc dù giá xuất khẩu 2 mặt hàng này có giảm so với giá bình quân 7 tháng năm 2002 nhưng kim ngạch xuất khẩu gạo tăng 19,2% và xuất khẩu điều tăng 28,7%. Riêng mặt hàng rau quả giảm 28% so với cùng kỳ năm trước và chè giảm 5,1%.
Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đầu năm nay ước tính đạt gần 14,1 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu gần 9,2 tỷ USD, tăng 31,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4,9 tỷ USD, tăng 39,6%. Kim ngạch nhập khẩu tăng cao ở hầu hết các mặt hàng chủ yếu. Một số mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước và cho sản xuất hàng xuất khẩu đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Đứng đầu là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu gần 2,8 tỷ USD, tăng 36,8% và đóng góp vào tăng nhập khẩu chung là 20,8%; xăng dầu nhập khẩu trên 1,4 tỷ USD, tăng 30% (lượng nhập tăng 2,1%) và đóng góp 9,3%; sắt thép nhập hơn 1 tỷ USD, tăng 57,3% (lượng nhập chỉ tăng 7,5%) và đóng góp 10,2%; nguyên phụ liệu dệt, may, da nhập 1,2 tỷ USD tăng 25,5% và đóng góp 6,8 %; điện tử, máy tính tăng 37,7%; vải tăng 49% và đóng góp 7,5%; phân bón tăng 24,5%; hoá chất tăng 27,9%; chất dẻo tăng 27,7% (lượng nhập chỉ tăng có 9,6%); sản phẩm hoá chất tăng 23,1%.
Nhập siêu 7 tháng đầu năm nay tăng cao, ước tính là 2690 triệu USD, bằng 23,6% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3497 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 807 triệu USD.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tháng 7 đã có sự tăng trở lại (tăng 44% so với tháng trước), trong đó khách đến với mục đích du lịch tăng 79%; thăm thân nhân tăng 74,3%. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam 7 tháng đầu năm nay ước tính đạt 1227,6 nghìn lượt người, giảm19,5% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 594,6 nghìn lượt người giảm 28,3%; vì công việc 239 nghìn lượt người, giảm 4,6%; thăm thân nhân 218,4 nghìn lượt người, giảm 19,1%; mục đích khác 175,6 nghìn lượt người, tăng 0,2%.

6. Một số vấn đề xã hội.
Thiếu đói trong dân
Tình hình thiếu đói giáp hạt trong tháng 7 xảy ra ở mức thấp và giảm so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của 31 tỉnh, đến thời điểm 21/7/2003, có 35,1 nghìn hộ bị thiếu đói với 176,8 nghìn nhân khẩu, chiếm khoảng 0,3% số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. So với tháng trước, số hộ thiếu đói giảm 24,6% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 22,7%; so với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói giảm 22,4% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 23,3%. Để giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các tổ chức đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 6,4 nghìn tấn lương thực và 11,7 tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng 7 có 8,4 nghìn người bị sốt rét, giảm 32,7% so với tháng trước và 2,1 nghìn người bị sốt xuất huyết, tăng 63,4%. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng, trong tháng đã phát hiện thêm 1500 trường hợp nhiễm HIV, tăng 201 trường hợp so với tháng trước và nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/7/2003 lên 68,6 nghìn người, trong đó có 10,5 nghìn bệnh nhân AIDS và 5,9 nghìn người đã chết do AIDS. Cũng trong tháng đã xảy ra 5 vụ ngộ độc thực phẩm với 180 người bị ngộ độc, đưa số người bị ngộ độc từ đầu năm đến nay lên trên 2,3 nghìn người, trong đó 21 người đã tử vong.
Tình hình tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003
Trong tháng 7, ngành Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tốt kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003. Tổng số thí sinh dự thi đại học, cao đẳng khoảng 1,24 triệu lượt người, bằng 79,8% số thí sinh đăng ký dự thi, trong đó số thí sinh dự thi đại học là 943,4 nghìn lượt người, bằng 80,3%; số thí sinh dự thi cao đẳng 294 nghìn người, bằng 78,4%. Tỷ lệ thí sinh dự thi so với số thí sinh đăng ký năm nay tương đối cao so với tỷ lệ của các năm trước đây do các thí sinh đã có sự lựa chọn hợp lý hơn theo các qui định tuyển sinh mới. Việc hình thành các cụm thi ở Vinh, Cần Thơ và Qui Nhơn đã làm giảm đáng kể số lượng thí sinh dự thi tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đề thi năm nay được đánh giá không quá dài, bám sát kiến thức cơ bản của chương trình trung học phổ thông, đồng thời đã đáp ứng yêu cầu phân loại học sinh. Trong kỳ thi năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết tâm thực hiện việc lập lại trật tự, kỷ cương và sự công bằng trong công tác tuyển sinh, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực như mang tài liệu vào phòng thi, hiện tượng thi hộ; phối hợp cùng ngành Công an ngăn chặn tình trạng in bán “phao” thi, đấu tranh triệt phá các đường dây thi hộ có tổ chức… Việc làm trên đã có tác dụng tốt, khiến cho kỳ thi diễn ra nghiêm túc hơn và được nhân dân tin tưởng, đồng tình và ủng hộ. Tuy nhiên, trong 2 đợt thi vào các trường đại học đã phát hiện gần 4 nghìn trường hợp vi phạm, trong đó 3348 trường hợp đã bị đình chỉ thi và trong đợt thi vào các trường cao đẳng có 54 thí sinh bị khiển trách, 34 thí sinh bị cảnh cáo và 403 trường hợp bị đình chỉ thi. Để phục vụ tốt kỳ thi tuyển sinh năm nay, ngành Giáo dục và Đào tạo đã sử dụng trên 31,8 nghìn phòng thi và huy động gần 100 nghìn người tham gia phục vụ thi.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 6/2003, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1022 vụ tai nạn giao thông làm chết 1072 người và làm bị thương 490 người. So với tháng 5/2003, số vụ tai nạn giảm 540 vụ; số người bị thương giảm 1048 người; riêng số người chết tăng 164 người. Tính chung 6 tháng đầu năm, xảy ra tới gần 11 nghìn vụ tai nạn, làm chết 6 nghìn người và làm bị thương 11,2 nghìn người; So với 6 tháng đầu năm 2002 số vụ tai nạn giảm 30,8%; số người chết giảm 4,8% và số người bị thương giảm 38,2%; bình quân một ngày trong 6 tháng đầu năm, số người chết do tai nạn giảm 1,7 người và số người bị thương giảm 38,3 người. Qua 6 tháng thực hiện Nghị quyết 13/2002/NQ-CP của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn và ùn tắc giao thông đã thu được những kết quả tích cực: Ý thức chấp hành luật giao thông đã tốt hơn; ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn giảm; tai nạn giao thông giảm mạnh, nhất là tai nạn giao thông đường bộ; tình trạng đua xe trái phép đã được ngăn chặn. Tuy vậy, vẫn còn những vấn đề phức tạp do số vụ tai nạn, số người chết và bị thương tuy giảm nhưng còn ở mức cao và tình trạng vi phạm luật giao thông xảy ra tương đối nhiều (gần 2 triệu trường hợp vi phạm bị xử lý, trong đó đã tạm giữ hàng vạn phương tiện giao thông).

TỔNG CỤC THỐNG KÊ