Trong 6 tháng đầu năm 2003, nền kinh tế diễn biến trong điều kiện khó khăn: hạn hán ở các tỉnh Tây Nguyên; kinh tế thế giới phục hồi chậm, chiến tranh I Rắc cùng với dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế. Nhưng với sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục ổn định và phát triển. Trên cơ sở số liệu 5 tháng và ước tính tháng 6, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2003 như sau:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2003 tăng 6,90% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,49%, đóng góp 0,56% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,21%, đóng góp 3,75%; khu vực dịch vụ tăng 6,38%, đóng góp 2,59%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm nay có mức tăng trưởng 2,49% thấp nhiều so với mức tăng 4,02% của 6 tháng đầu năm 2002 và cũng là mức tăng trưởng thấp nhất trong 4 kỳ 6 tháng đầu năm của 4 năm gần đây. Nguyên nhân chủ yếu do vụ lúa đông xuân tuy đạt 16,76 triệu tấn, song chỉ tăng nhẹ so với vụ đông xuân 2002 (vụ đông xuân 2002 đạt 16,48 triệu tấn), trong đó lúa của Đồng bằng sông Cửu Long giảm cả về năng suất, diện tích và sản lượng.
Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay đạt 10,21% cao hơn hẳn mức tăng 8,09% của 6 tháng đầu năm trước và xấp xỉ mức tăng của 6 tháng đầu năm 2001. Nguyên nhân chủ yếu do tăng trưởng mạnh ở ngành công nghiệp khai thác mỏ: 6 tháng đầu năm 2003 giá trị tăng thêm của ngành này tăng tới 6,6% trong khi chỉ tiêu này ở 6 tháng đầu năm 2002 không tăng; các ngành công nghiệp chế biến, điện, ga, nước và xây dựng đều tăng trưởng ổn định và ở mức cao trên 10%.
Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay chỉ đạt xấp xỉ mức tăng trưởng của 6 tháng đầu năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do 3 ngành thương nghiệp; khách sạn nhà hàng; vận tải, bưu điện và du lịch có tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ nhưng mức tăng lại thấp so với cùng kỳ năm trước.
Do mức tăng trưởng cao trong khu vực công nghiệp và xây dựng nên đã làm thay đổi rõ nét hơn về cơ cấu kinh tế: 6 tháng đầu năm 2000 khu vực này mới chiếm 36,62% tổng sản phẩm trong nước, đến 6 tháng đầu năm nay đã tăng lên, chiếm 40,48%. Khu vực dịch vụ những năm gần đây tăng trưởng không ổn định và 6 tháng đầu năm nay có nhiều khó khăn nên tỷ trọng trong toàn nền kinh tế giảm từ 38,96% trong 6 tháng đầu năm 2000 xuống 37,78% trong 6 tháng đầu năm 2003. Tỷ trọng của khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục giảm: từ 22,89% của 6 tháng đầu năm 2002 xuống còn 21,74% của 6 tháng đầu năm 2003.
Do kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá và công tác thu có tiến bộ nên tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính đạt 51,6% dự toán cả năm và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Phần lớn các khoản thu từ sản xuất kinh doanh đều đạt trên 50% dự toán cả năm và tăng hơn cùng kỳ năm trước: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 55,7% và tăng 30,8%; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 54,6% và tăng 27,4%; thu từ xuất nhập khẩu đạt 50,7% và tăng 4,4%; thu từ dầu thô đạt 57,1% và tăng 6,7%. Riêng thu từ kinh tế Nhà nước đạt 44,2% và tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính đạt 45,2% dự toán cả năm và tăng 14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 43,5% và tăng 6,8%; chi cho giáo dục và đào tạo đạt 49,1% và tăng 3,9%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 50,5% và tăng 2,8%; chi cho y tế đạt 49,5% và tăng 4,6%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 50,1% và tăng 2,8%; chi văn hoá thông tin đạt 49% và tăng 5,4%. Bội chi ngân sách 6 tháng ước tính bằng 25% mức bội chi cả năm mà Quốc hội cho phép. Trong tổng số bội chi, 72,6% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước; số còn lại bằng nguồn vay nước ngoài.
2. Tình hình sản xuất nông nghiệp.
a. Nông nghiệp
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm là gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, vụ đông xuân này cả nước đã gieo cấy được 3022,8 nghìn ha, bằng 99,7% vụ đông xuân 2002, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1179,9 nghìn ha, bằng 100,2%; các địa phương phía Nam do chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nhiều diện tích lúa năng suất thấp được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc cây trồng khác nên diện tích gieo cấy chỉ đạt 1842,9 nghìn ha, bằng 99,3%.
Mặc dù đầu vụ năm nay ở phía Bắc có rét đậm kéo dài, nhưng từ giữa vụ thời tiết diễn biến thuận lợi nên vụ đông xuân tiếp tục đạt sản lượng khá. Đến trung tuần tháng 6, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 1126 nghìn ha, chiếm 95,4% diện tích gieo cấy, năng suất ước tính đạt 56,3 tạ/ha, tăng 1,04 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2002 (Đồng bằng sông Hồng đạt 61,0 tạ/ha, tăng 1,15 tạ/ha; Bắc Trung Bộ đạt 54,2 tạ/ha, tăng 0,97 tạ/ha; miền núi phía Bắc đạt 47,7 tạ/ha, tăng 1,18 tạ/ha). Sản lượng lúa đông xuân phía Bắc ước tính đạt 6,64 triệu tấn, tăng 13,6 vạn tấn so với vụ đông xuân trước. Các địa phương phía Nam đã thu hoạch xong với năng suất 54,9 tạ/ha, xấp xỉ vụ đông xuân 2002; sản lượng ước đạt 10,12 triệu tấn, giảm 9,7 vạn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,49 triệu tấn, giảm 13,8 vạn tấn. Như vậy, tính chung năng suất vụ lúa đông xuân năm 2003 của cả nước đạt 55,4 tạ/ha, tăng 0,32 tạ/ha so với vụ lúa đông xuân năm 2002 và sản lượng ước đạt 16,76 triệu tấn, chỉ tăng khoảng 4 vạn tấn. Nếu tính cả 1,4 triệu tấn lương thực có hạt khác thì sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm nay đạt 18,16 triệu tấn, tăng 25,8 vạn tấn so với vụ đông xuân trước.
Cùng với việc khẩn trương thu hoạch lúa đông xuân cuối vụ, các địa phương còn đẩy mạnh gieo cấy lúa hè thu, gieo trồng ngô và khoai lang. Tính đến trung tuần tháng 6 cả nước đã gieo cấy được 2 triệu ha lúa hè thu, bằng 113,4% cùng kỳ năm trước (Riêng Đồng bằng sông Cửu Long 1,58 triệu ha, bằng 113,7%); 432,5 nghìn ha ngô, bằng 112,1% và 156,4 nghìn ha khoai lang, bằng 87,9%.
Do trồng trọt, nhất là sản xuất lương thực có hạt đạt kết quả khá, tạo thêm nguồn thức ăn cho chăn nuôi đã khuyến khích nông dân đầu tư phát triển đàn gia súc và gia cầm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2003, đàn lợn cả nước có 13,3 triệu con, tăng 5,2% so với thời điểm 1/4/2002.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm nay tăng cao hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác đạt 1,3 triệu m3, tăng 4,2%. Diện tích rừng trồng ở một số vùng tăng khá (Tây Bắc 37,9%; Bắc Trung Bộ 23,2%; Đồng bằng sông Cửu Long 9,3%; Đồng bằng sông Hồng 6,9%). Tuy nhiên, thời tiết nắng, nóng và khô hạn kéo dài đã làm ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng của một số vùng (Duyên hải Nam Trung Bộ giảm 73%; Đông Nam Bộ giảm 41%; Tây Nguyên giảm 36%), tính chung cả nước diện tích rừng trồng tập trung đạt 94,6 nghìn ha, giảm 0,4%.
Thiệt hại rừng tuy giảm nhiều so với các năm trước do công tác bảo vệ và tuyên truyền phòng chống cháy rừng được Nhà nước, chính quyền địa phương quan tâm nhiều hơn nhưng vẫn ở mức cao. Trong 6 tháng đầu năm 2003, diện tích rừng bị cháy là 3477,2 ha, giảm 6776 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh xảy ra cháy lớn như Hoà Bình 718,2 ha, Kiên Giang 312 ha, Lai Châu 269,1 ha; diện tích rừng bị phá làm nương rẫy 1170,7 ha, giảm 1392,1 ha, trong đó Đắk Lắk 332,6 ha, Bình Phước 302 ha, Lâm Đồng 154 ha.
c. Thuỷ sản
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tiếp tục phát triển. Do thời tiết và thị trường tiêu thụ hải sản khá thuận lợi nên sản lượng thuỷ sản khai thác 6 tháng đầu năm nay đạt 940 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2002. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục được mở rộng, đạt 791,4 nghìn ha, tăng 8,7%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 386,3 nghìn tấn, tăng 12,2%, trong đó cá tăng 13,3%, tôm tăng 19,9%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2003 giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 74,22 nghìn tỷ đồng, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp 57,81 nghìn tỷ đồng, tăng 2,38%; lâm nghiệp 3,04 nghìn tỷ đồng, tăng 1,06%; thuỷ sản 13,37 nghìn tỷ đồng, tăng 9%.
3. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm ước tính tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,8% (Trung ương quản lý tăng 11,7%; địa phương quản lý tăng 11,9%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,1% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 11,4%; các doanh nghiệp khác tăng 20,8%). Như vậy, tốc độ tăng 6 tháng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 36,1% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp) vẫn ổn định ở mức xấp xỉ 12%; khu vực ngoài quốc doanh (chiếm 26,1%) có tốc độ tăng cao; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 37,8%) có mức tăng trưởng cao nhất so với mức tăng của cùng kỳ những năm gần đây, chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác có chiều hướng tăng dần trở lại.
Một số tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp lớn trong 6 tháng đầu năm nay đạt tốc độ tăng trên mức tăng bình quân của cả nước là: Hà Nội tăng 31,0%; Bình Dương tăng 35,2%; Đồng Nai tăng 17,7%; thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 26,7% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước) tăng 15,9%, các tỉnh Hà Tây, Hải Dương, Cần Thơ tăng khoảng 24%; Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Khánh Hoà tăng 18-21%; riêng Quảng Ninh tăng 14,6% và Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 9,3% (cùng kỳ năm trước giảm gần 1%).
Một số sản phẩm quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm nay tiếp tục duy trì được tốc độ tăng tương đối cao so với 6 tháng đầu năm 2002 là: Thuỷ sản chế biến tăng 19,5%; bột ngọt tăng 20,5%; đường mật tăng 59,1%; quần áo may sẵn tăng 62,8%; quần áo dệt kim tăng 37,1%; giấy bìa tăng 17,8%; sứ vệ sinh tăng 32,4%; thép cán tăng 18,9%; động cơ diesel tăng 89,4%; động cơ điện tăng 28,2%; quạt điện dân dụng tăng 46,8%; tivi lắp ráp tăng 27,9%; ô tô lắp ráp tăng 40,6%; xe máy lắp ráp tăng 15,0% và điện tăng 15,3%. Sản lượng dầu thô khai thác ước tính 6 tháng đạt 8,9 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ 2002 (6 tháng đầu năm 2002 sản lượng dầu thô khai thác giảm khoảng 3% so với cùng kỳ 2001).
Dự kiến 6 tháng cuối năm một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có xu hướng tăng so với 6 tháng đầu năm là: các sản phẩm dệt, may, da giầy, thuỷ sản chế biến do thị trường xuất khẩu được mở rộng (như thị trường Mỹ, EU, Nhật…). Các sản phẩm thép cán, than sạch, sữa, một số sản phẩm hoá chất (như săm lốp ô tô), xe đạp tiếp tục phát triển tốt. Tuy nhiên, một số sản phẩm có xu hướng tăng chậm hoặc giảm vào 6 tháng cuối năm do một số mặt hàng cùng loại được nhập khẩu từ các nước ASEAN từ 1/7 sẽ rẻ hơn giá nhập hàng nhập khẩu trước đây, thậm chí còn rẻ hơn giá sản xuất trong nước, đó là các sản phẩm giấy bìa các loại, đồ điện, điện tử… Các mặt hàng như ô tô lắp ráp, xe máy lắp ráp có thể sẽ giảm do chính sách điều tiết của Nhà nước.
4. Đầu tư
Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển 6 tháng đầu năm 2003 đạt 102,6 nghìn tỷ đồng, đạt 47,7% kế hoạch năm và tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số vốn đầu tư phát triển, vốn Nhà nước chiếm 53,4% và tăng 18% so với cùng kỳ; vốn ngoài quốc doanh chiếm 28,8% và tăng 24,5%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,8% và tăng 22%. Cụ thể như sau:

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 6 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 11,7 nghìn tỷ đồng, đạt 51,8% kế hoạch năm và tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thuộc trung ương quản lý thực hiện 6,9 nghìn tỷ đồng, đạt 58,1% kế hoạch năm, trong đó các Bộ có khối lượng vốn đầu tư lớn: Bộ Giao thông Vận tải đạt 61,4%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 63%; Bộ Y tế đạt 40,0%, Bộ Xây dựng đạt 33,4%. Vốn đầu tư thuộc địa phương quản lý thực hiện 4,8 nghìn tỷ đồng, đạt 44,8% kế hoạch năm, có 26 tỉnh, thành phố đạt từ 50% kế hoạch trở lên: Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Cần Thơ… Trong 35 tỉnh, thành phố đạt dưới 50% kế hoạch năm có tới 22 tỉnh, thành phố chỉ đạt dưới 40% kế hoạch: Bắc Giang, Hoà Bình, Thừa Thiên-Huế, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cà Mau…
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, các bộ, địa phương đã tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm như: Công trình đê điều, thuỷ lợi, công trình phục vụ SEA GAME 22, công trình giao thông và dự án xây dựng cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long. Ngành giao thông đã hoàn thành nhiều dự án lớn: Quốc lộ 1 (đoạn Đông Hà – Quảng Ngãi), quốc lộ 10 (Thái Bình-Hải Phòng), quốc lộ 18 (Bắc Ninh-Chí Linh), quốc lộ 1B (Lạng Sơn-Thái Nguyên), quốc lộ 1 (thành phố Hồ Chí Minh-Trung Lương), cơ bản hoàn thành đường Xuyên Á… Riêng dự án đường Hồ Chí Minh, đoạn Hà Tĩnh-Kon Tum đã rải bê tông được 793/965 km và thông xe kỹ thuật được 177/181 cầu lớn, dự kiến đoạn đường này sẽ hoàn thành vào ngày 2/9/2003.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 20/6/2003 đã có 281 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 710,2 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước giảm 19,3% về số dự án, nhưng tăng 13,7% về vốn đăng ký. Ngành công nghiệp xây dựng có 225 dự án với vốn đăng ký 473,4 triệu USD, chiếm 80% về số dự án và 66,6% về vốn đăng ký. Ngành nông nghiệp, thuỷ sản có 13 dự án với 23,6 triệu USD, chiếm 4,6% về số dự án và 3,3% về vốn đăng ký.
Một số dự án có số vốn đầu tư lớn là: Dự án của công ty TNHH Sài Gòn Sport City có vốn cam kết 130 triệu USD của quần đảo Virgin thuộc Anh. Dự án sản xuất đĩa CD, VCD, DVD của Hồng Kông tại Hải Phòng 39,9 triệu USD. Dự án trạm nghiền xi măng của Singapore tại Đồng Nai 27 triệu USD. Hợp đồng khai thác dầu khí của Malaixia 16 triệu USD. Dự án sản xuất dầu bóng tại Long An 14 triệu USD. Dự án sản xuất bao bì nhựa của Hà Lan tại Bình Dương 12,6 triệu USD. Dự án sản xuất vải bạt và bao bì PP, PE tại Phú Thọ 10 triệu USD. Dự án phát triển hạ tầng cơ sở khu công nghệ, khu chế xuất tại Bến Lức-Long An 13 triệu USD.
Các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài tập trung chủ yếu vào các tỉnh, thành phố phía Nam: 212 dự án với 505,7 triệu USD, chiếm 75,4% về số dự án và 71,2% về số vốn đăng ký. Trong đó thành phố Hồ Chí Minh có 72 dự án với 182,3 triệu USD vốn đăng ký; Bình Dương 58 dự án với 101,8 triệu USD; Đồng Nai 30 dự án với 77,8 triệu USD, Bà Rịa-Vũng Tàu 6 dự án với 22,9 triệu USD (không kể dự án dầu khí ngoài khơi). Các tỉnh, thành phố phía Bắc có 69 dự án với số vốn đăng ký 204,5 triệu USD, chỉ chiếm 24,6% về số dự án và 28,8% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 13 dự án với vốn đăng ký 12,3 triệu USD, Hải Phòng có 16 dự án với 82,5 triệu USD, Vĩnh Phúc 11 dự án với 41,1 triệu USD, Phú Thọ 4 dự án với 13,3 triệu USD, Quảng Ninh 3 dự án với 12,2 triệu USD, Hải Dương 5 dự án với 11,6 triệu USD…
Các đối tác có vốn đăng ký lớn là: Quần đảo Virgin thuộc Anh có 11 dự án với số vốn 164,2 triệu USD; Đài Loan 83 dự án với số vốn 153,9 triệu USD; Hàn Quốc 70 dự án với 97,9 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 20 dự án với 75,6 triệu USD; Singapore 11 dự án với 37,9 triệu USD; CHND Trung Hoa 18 dự án với 33,4 triệu USD; Nhật Bản 13 dự án với 25,4 triệu USD; Malaixia 6 dự án với 23,7 triệu USD; Mỹ 10 dự án với 23,7 triệu USD; Liên bang Nga 2 dự án với 10 triệu USD…
Trong 6 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã có 10 dự án đầu tư ra nước ngoài với số vốn khoảng 3,8 triệu USD tại các nước Lào, U-crai-na, U-dơ-bê-ki-xtan, Ô-xtrây-li-a, Hàn Quốc và Singapore.
5. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 435,9 triệu lượt hành khách và gần 19 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 4,6% về khối lượng vận chuyển và tăng 1,8% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 123,7 triệu tấn và 27 tỷ tấn.km, tăng 5,4% về khối lượng vận chuyển và 2,1% về khối lượng luân chuyển.
Hoạt động vận tải nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và nhu cầu đi lại của dân cư. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh SARS nên vận tải hành khách bằng hàng không giảm cả về số lượt khách và hành khách luân chuyển so với cùng kỳ năm trước: Hành khách vận chuyển giảm 11% và hành khách luân chuyển giảm 13%. Sau chiến tranh I Rắc, vận tải hàng hoá đường biển đã tăng trở lại, nhưng ở mức thấp: 6 tháng khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng 2,8% và khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng 0,9%.
6. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 148,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 24,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9%; khu vực kinh tế tập thể tăng 21,8%; khu vực kinh tế cá thể đạt 97 nghìn tỷ đồng (chiếm 65,2%), tăng 9%; khu vực kinh tế tư nhân (chiếm 15,6%) tăng 21,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ tăng 5,9%, thấp nhiều so với mức tăng của những tháng đầu năm (mức tăng của 4 tháng đầu năm là 14%). Xét theo ngành kinh doanh, trừ doanh thu của ngành du lịch giảm 10,8% còn các ngành khác đều tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Thương nghiệp chiếm 81% và tăng 9,5%; khách sạn, nhà hàng tăng 12,7%; dịch vụ tăng cao nhất 15,5%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2003 giảm 0,3% so với tháng trước. Trong đó giảm nhiều nhất là nhóm lương thực, thực phẩm 0,5% (lương thực giảm 1,6%); nhà ở, vật liệu xây dựng giảm 0,4%; dược phẩm, y tế và văn hoá, thể thao, giải trí đều giảm 0,2%; riêng nhóm giáo dục tăng 0,5%. Các nhóm còn lại giữ nguyên hoặc tăng giảm không đáng kể (0,1%).
So với tháng 12/2002, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2003 tăng 2,1% với hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng, trong đó nhóm dược phẩm, y tế tăng cao nhất 13,5%; lương thực, thực phẩm tăng 1,6% (lương thực giảm 1,2%); đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giầy dép; nhà ở, vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại, bưu điện; đồ dùng và dịch vụ khác tăng từ 1,9% đến 2,5%; riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%.
Chỉ số giá vàng tháng 6/2003 tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 10,1% so với tháng 12/2002; tương tự chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,1% và tăng 0,6%.
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 9,8 tỷ USD, tăng 32,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 4,9 tỷ USD (chỉ cao hơn kim ngạch xuất khẩu của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 100 triệu USD) tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 39,2%. Hầu hết các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đều tăng so với cùng kỳ năm 2002, trừ mặt hàng rau quả giảm 27,5% do ảnh hưởng của thị trường Trung Quốc (năm 2002 thị trường này chiếm 60,4%). Một số mặt hàng chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn có tốc độ tăng cao là: Dầu thô tăng 35,7% (lượng xuất khẩu chỉ tăng 4,6%) và đóng góp vào mức tăng xuất khẩu chung là 21,6%; hàng dệt, may tăng 66,4% và đóng góp 29%; giày dép tăng 25% và đóng góp 9,4%; gạo tăng 36,4% (lượng xuất khẩu tăng tới 54,1%) và đóng góp 5,1%; điện tử, máy tính tăng 33,5%; cà phê tăng 75,5% (lượng xuất khẩu giảm 6%); cao su tăng 36,7% (lượng xuất khẩu giảm 12,7%); hạt điều tăng 33,8%.
Mặt hàng dệt, may có mức tăng trưởng cao như vậy chủ yếu là do các doanh nghiệp tranh thủ đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ. Trong những tháng đầu năm khi chưa bị áp đặt quota, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Mỹ chiếm trên 57%. Mặt hàng thuỷ sản, mặc dù bị ảnh hưởng bởi vụ kiện cá basa và cá tra, Mỹ vẫn là thị trường đứng đầu về xuất khẩu hải sản của Việt Nam chiếm 37,4% (6 tháng năm 2002 chiếm 29,5%). Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng 16,9% so với cùng kỳ 2002 và đóng góp 6% vào mức tăng trưởng chung.
Nguyên nhân chủ yếu tác động đến tốc độ tăng trưởng cao của kim ngạch xuất khẩu là: (1) Chính phủ và các cơ quan chức năng đã chỉ đạo sát sao hoạt động xuất khẩu; kịp thời tháo gỡ các vướng mắc lớn; khuyến khích thưởng xuất khẩu; hỗ trợ xúc tiến thương mại được chú trọng hơn cùng với sự năng động của các doanh nghiệp nên thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam đã được mở rộng, đặc biệt là thị trường Mỹ và EU. Thị trường Mỹ đã trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất đối với hàng dệt, may, hải sản, hạt điều, hạt tiêu của Việt Nam và chiếm tới 20,2% tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm; (2) Sản xuất mở rộng, chất lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam đã được nâng lên do đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ mới; (3) Kinh tế thế giới đã dần phục hồi, sức mua tăng trở lại khiến cho giá một số mặt hàng xuất khẩu tăng lên so với cùng kỳ 2002, như dầu thô, cà phê, cao su, hải sản… góp phần tích cực làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Trong khoảng gần 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng lên của các mặt hàng dầu thô, than đá, nông sản, thuỷ sản riêng yếu tố giá tăng đã góp phần tăng trên 600 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 12,2 tỷ USD, tăng 38,5% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu khoảng 8 tỷ USD, tăng 36,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4,2 tỷ USD, tăng 42,9%. Kim ngạch nhập khẩu tăng cao ở hầu hết các mặt hàng chủ yếu. Một số mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước và cho sản xuất hàng xuất khẩu đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Đứng đầu là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng với kim ngạch nhập khẩu gần 2,4 tỷ USD, tăng 40,4% và đóng góp vào tăng nhập khẩu chung là 20,2%; xăng dầu nhập 1,2 tỷ USD, tăng 30,2% (lượng nhập giảm 0,1%) và đóng góp 8,3%; sắt thép nhập gần 1 tỷ USD, tăng 85,6% (lượng nhập chỉ tăng 25,4%) và đóng góp 13,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 31,6% và đóng góp 7,6 %; vải tăng 58,4% và đóng góp 8%; hoá chất tăng 30%; chất dẻo tăng 24,7% (lượng nhập chỉ tăng có 3,6%); tân dược tăng 29,2%; sản phẩm hoá chất tăng 24,5%.
Nhập siêu 6 tháng đầu năm nay khoảng 2,4 tỷ USD, bằng 24,3% kim ngạch xuất khẩu, là mức cao nhất trong nhiều năm nay; trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 624 triệu USD.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nhập siêu cao là do: (1) Nhu cầu sản xuất và đầu tư trong nước tăng mạnh để phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng (trong đó có phần phục vụ các công trình SEAGAMES), sản xuất hàng xuất khẩu, đầu tư đổi mới thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường; (2) Tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu; (3) Do ảnh hưởng của chiến tranh I Rắc, giá nhập khẩu một số mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu tăng cao. Theo tính toán sơ bộ, giá một số mặt hàng xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, sợi dệt, bông tăng trên 30% làm cho trị giá nhập khẩu những mặt hàng này tăng thêm khoảng 730 triệu USD; trong khi do lượng nhập khẩu của những mặt hàng này chỉ tăng khoảng 4%, tương đương 100 triệu USD.

Hoạt động kinh doanh du lịch: Sau khi đã tăng mạnh trong quí I, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã giảm từ tháng 4, do ảnh hưởng của bệnh dịch SARS và chiến tranh I-Rắc. Do vậy, khách quốc tế đến nước ta 6 tháng đầu năm 2003 giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước: Số lượng khách quốc tế trong 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1074,1 nghìn lượt người, giảm17,3% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khách đến với mục đích du lịch 537,5 nghìn lượt người, giảm tới 24,2%; vì công việc 199,8 nghìn lượt người, giảm 7,3%; thăm thân nhân 181,9 nghìn lượt người, giảm 19%; mục đích khác 154,9 nghìn lượt người, tăng 3,8%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Giải quyết việc làm
Ước tính 6 tháng đầu năm, khu vực thành thị của cả nước đã giải quyết được việc làm cho 257,7 nghìn lượt người vào làm việc chủ yếu trong các tổ chức kinh tế-xã hội thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó 198,5 nghìn lượt người có việc làm ổn định, tăng 7,1%. Số người đăng ký xin việc làm ước tính đến cuối tháng 6 là 294,7 nghìn người, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong số người đăng ký xin việc có 11,8 nghìn người là bộ đội hoàn thành nghĩa vụ, tăng 2,3% và 71,8 nghìn người là học sinh thôi học, tăng 0,5%. Nhìn chung, số người được giải quyết việc làm và số người đăng ký xin việc đều tăng hơn so với 6 tháng đầu năm 2002, do có sự chỉ đạo của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong tạo việc làm mới; sắp xếp lại việc làm và tổ chức đăng ký xin việc làm; ngày càng có nhiều Trung tâm giải quyết việc làm được thành lập để làm các dịch vụ hướng nghiệp thuận tiện cho người lao động muốn tìm việc làm; nhiều tổ chức kinh tế- xã hội thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia với nhiều hình thức như tổ chức Hội chợ việc làm ở các thành phố lớn, cho vay vốn lập nghiệp, tư vấn đào tạo nghề…; một số địa phương đã khôi phục và mở rộng các ngành nghề truyền thống và phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày để tạo ra nhiều chỗ làm mới.

2. Đời sống dân cư
Do sản xuất phát triển và giá cả hàng hoá tiêu dùng ổn định nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện. Từ tháng 1 năm 2003 mức lương tối thiểu được tăng từ 210 nghìn đồng lên 290 nghìn đồng theo Nghị định 03/2003/NĐ ngày 15 tháng 1 năm 2003 của Chính phủ đã góp phần nâng cao mức sống của người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp và các đối tượng chính sách xã hội. Trong 6 tháng đầu năm ước tính thu nhập bình quân hàng tháng của một lao động trong khu vực Nhà nước đạt 1168,9 nghìn đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nhập bình quân hàng tháng của lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1463,7 nghìn đồng, tăng 16,2%; của lao động địa phương quản lý đạt 961,9 nghìn đồng, tăng 25,6%. Năm ngành có mức thu nhập bình quân hàng tháng trên 1,8 triệu đồng là: Công nghiệp điện, ga, nước: 2035,7 nghìn đồng; tài chính, tín dụng: 1966,4 nghìn đồng; công nghiệp khai thác mỏ: 1956,4 nghìn đồng; kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn: 1896,6 nghìn đồng; giao thông vận tải, thông tin liên lạc: 1831,3 nghìn đồng.
Ở nông thôn, đời sống dân cư nhìn chung ổn định và từng bước được cải thiện nhờ các chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hưởng lợi từ các công trình đầu tư, các chính sách phát triển vùng kinh tế trọng điểm, chính sách hỗ trợ vùng nghèo của Nhà nước; mặt khác giá một số nông sản, thực phẩm tăng lên cũng làm tăng thu nhập của nông dân. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lũ quét ở một số tỉnh miền Trung và hạn hán ở các tỉnh Tây Nguyên trong những tháng cuối năm 2002 nên trong 6 tháng đầu năm nay số hộ thiếu đói tăng 1,4%. Để giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, đến ngày 20/6/2003, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói gần 6 nghìn tấn lương thực và 8,3 tỷ đồng.
Trong 6 tháng qua, công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội và giúp đỡ người nghèo đã được các cấp, các ngành tham gia hưởng ứng tích cực, với nhiều hình thức như trao nhà tình nghĩa, tặng quà, thăm hỏi động viên… Các đối tượng nghèo, đồng bào vùng bị thiên tai, các đối tượng già cả, cô đơn, trẻ em nghèo, đối tượng bị di chứng chiến tranh, bệnh tật đều được trợ cấp, hỗ trợ để ổn định cuộc sống.
3. Tình hình dịch bệnh
Trong 6 tháng đầu năm có 58,6 nghìn người bị sốt rét, trong đó 22 người đã bị chết và không xảy ra dịch. Cũng trong 6 tháng đầu năm có 9,3 nghìn người bị sốt xuất huyết, trong đó chết 22 người. Một số tỉnh có nhiều bệnh nhân sốt xuất huyết là: Thành phố Hồ Chí Minh 1838 người; Tiền Giang 1483 người; Bến Tre 622 người, và Đồng Tháp 585 người.
Về dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), nước ta đã khống chế thành công. Không kể 5 trường hợp bị tử vong, đến nay 58 bệnh nhân SARS đều đã được ra viện; kể từ 8/4/2003 không có bệnh nhân SARS mới. Ngay từ những ngày đầu có dịch ngành Y tế đã có nhiều biện pháp tích cực phòng chống dịch bệnh. Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch SARS do Bộ trưởng Bộ Y tế làm Trưởng ban, đồng thời Bộ Y tế cũng đã thành lập các Tiểu ban trực thuộc Ban Chỉ đạo Quốc gia, tiến hành tích cực và có hiệu quả phòng chống dịch. Do các kết quả đạt được, ngày 28/4/2003 Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới khống chế được dịch SARS. Hiện nay, công tác phòng chống SARS vẫn tiếp tục triển khai để giám sát chặt chẽ, nhất là với những người đến từ vùng có dịch.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 6 đã phát hiện thêm 1299 trường hợp nhiễm HIV nâng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/6/2003 lên 67,1 nghìn người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 10,2 nghìn người và đã có trên 5,7 nghìn người chết do AIDS. Tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS tập trung chủ yếu vào nhóm có nguy cơ cao là tiêm chích ma tuý, gái mại dâm. Cũng trong tháng 6 đã xảy ra 7 vụ ngộ độc thực phẩm với 271 người bị ngộ độc, nâng số người bị ngộ độc từ đầu năm đến 19/6/2002 lên 2 nghìn người, trong đó 17 người đã bị chết (2 người chết do ăn cá nóc).
4. Hoạt động văn hoá, thể thao
Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao trong 6 tháng đầu năm tập trung thực hiện tốt việc truyên truyền các nhiệm vụ chính trị cũng như tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn, đồng thời đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho SEA GAMES 22 bằng nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao rộng khắp cả nước. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được duy trì. Công tác xuất bản 6 tháng đạt 67,2% kế hoạch năm với 195 triệu bản sách, trong đó sách giáo khoa phổ thông phục vụ cho năm học mới là 162 triệu bản, đạt 90% kế hoạch cả năm. Lĩnh vực báo chí đã xuất bản 330 triệu bản, đạt 50% kế hoạch năm. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá được đẩy mạnh. Công tác phát thanh và truyền hình đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị về thông tin tuyên truyền, phản ánh nhanh nhạy, đồng thời đã có những phân tích, đánh giá sát thực về các sự kiện và vấn đề lớn xảy ra trong nước và quốc tế. Trong 6 tháng đầu năm, Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng khoảng 200 nghìn giờ, với số giờ chương trình truyền hình đạt 18,3 nghìn giờ; Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng 162 nghìn giờ, với số giờ chương trình phát thanh đạt 24 nghìn giờ.
Hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi động. Ngành Thể thao đã tổ chức tốt các hoạt động thể dục thể thao quần chúng gắn với những ngày lễ lớn và hoạt động kỷ niệm những sự kiện trọng đại của đất nước, đồng thời khẩn trương tích cực triển khai các công việc phục vụ SEA GAMES 22 và Paragames 2. Tổ chức thành công Hội thi Thể thao các Dân tộc miền núi lần thứ III khu vực I tại Lào Cai thu hút 19 đoàn tham dự với trên 500 cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên người dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc; thí điểm ngày hội văn hóa dân tộc Chăm; Hội khoẻ Thanh niên Thủ đô… thu hút đông đảo các vận động viên, thanh niên và nhân dân tham dự. Trong thể thao thành tích cao, 6 tháng đầu năm nay đã tổ chức trên 40 giải thi đấu quốc gia và tham gia một số giải thi đấu quốc tế. Một số đội tuyển quốc gia đã đạt thành tích xuất sắc tại các giải thi đấu quốc tế như: Huy chương bạc giải cờ vua đồng đội Châu Á; vô địch cá nhân tại giải Cờ vua khối thịnh vượng chung; trong giải Canoing Đông Nam Á Việt Nam đã giành 25 huy chương vàng, 5 huy chương bạc và 1 huy chương đồng. Các công trình, dự án trực tiếp phục vụ SEA GAMES 22 và Paragames 2 được triển khai tích cực, dự kiến tới cuối tháng 8/2003 sẽ hoàn thiện và có thời gian vận hành thử trước lễ khai mạc.
5. Giáo dục
Năm học 2002 – 2003 ngành Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp phổ thông các cấp với sự chuẩn bị chu đáo từ trung ương đến địa phương và tiến hành an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Đề thi đảm bảo đúng chương trình, nằm trong nội dung sách giáo khoa và phù hợp với thực tế, trình độ học sinh đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu phân loại trình độ học sinh. Theo báo cáo sơ bộ của 48 tỉnh, thành phố, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học năm học 2002-2003 đạt 99,41%; học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 96,37% và học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 91,64%.
Cũng trong năm học 2002-2003 cả nước có 119,7 nghìn người tham gia học lớp xoá mù chữ, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm trước; 102,3 nghìn người học bổ túc tiểu học và sau xoá mù, tăng 145,5%; 167,7 nghìn người học bổ túc trung học cơ sở, tăng 60,6%; 267,3 nghìn người học bổ túc trung học phổ thông tăng 8%.
Về phổ cập giáo dục, tính đến tháng 3/2003, đã có 15 tỉnh, thành phố được công nhận đạt phổ cập trung học cơ sở là Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Đà Nẵng, Hải Dương, Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hà Tĩnh.
Để chuẩn bị cho năm học mới, đến nay ngành giáo dục đã tiến hành tập huấn giáo viên chương trình thay sách lớp 2. Theo kế hoạch, năm nay Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng sẽ tổ chức tập huấn cho gần 80 nghìn giáo viên trung học cơ sở trong toàn quốc. Nội dung tập huấn tập trung nghiên cứu sâu về chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, thực hành soạn giảng, sử dụng trang thiết bị dạy học. Trong tháng 4/2003 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành tập huấn đợt 1 cho 800 giáo viên cốt cán của các tỉnh phía Bắc.
6. An toàn giao thông
Tình hình trật tự an toàn giao thông những tháng đầu năm nay đã có sự chuyển biến tích cực; ý thức chấp hành luật giao thông của người dân đã chuyển biến tốt hơn; tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn đã giảm đáng kể; tai nạn giao thông, đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, xảy ra gần 10 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 4,9 nghìn người và làm bị thương 10,7 nghìn người. Bình quân 1 ngày trong cả nước xảy ra 65,9 vụ tai nạn, làm chết 32,5 người và làm bị thương 71,1 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 25,7% ( trong đó tai nạn giao thông đường bộ giảm 26,6%); số người chết giảm 5,9% (trong đó đường bộ giảm 7,2%) và số người bị thương giảm 30,4% (trong đó đường bộ giảm 30,7%). Bình quân một ngày trong 5 tháng đầu năm số vụ tai nạn giao thông giảm 22,8 vụ; số người chết giảm 2 người và người bị thương giảm 31 người. Mặc dù tai nạn giao thông 5 tháng qua đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước nhưng số vụ tai nạn xảy ra, số người chết và bị thương vẫn ở mức cao.
Trong 5 tháng đầu năm, Nhà nước đã có một số biện pháp nhằm giảm số lượng phương tiện giao thông cá nhân nhưng số lượng phương tiện giao thông vẫn tăng đáng kể: Từ đầu năm đến nay có 17 nghìn xe ô tô và gần 400 nghìn mô tô, xe máy được đăng ký mới, đồng thời số trường hợp vi phạm luật lệ giao thông vẫn cao (khoảng trên 1 triệu trường hợp bị phạt với số tiền 119 tỷ đồng).
7. Thiệt hại thiên tai
Trong 6 tháng đầu năm 2003, thiên tai xảy ra rải rác với cường độ thấp tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Tính đến 20/6/2003, đã có 33 tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng của mưa, mưa đá, lũ, lốc, tuy nhiên mức độ thiệt hại không lớn. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 24 người chết, 2 người mất tích và 105 người bị thương; 5 nghìn ha lúa, màu bị ngập úng, hư hại; 8,5 nghìn ngôi nhà bị tốc mái, hư hại và nhiều công trình kinh tế – xã hội bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 52 tỷ đồng.
Khái quát lại, tình hình kinh tế- xã hội 6 tháng đầu năm 2003 tiếp tục ổn định và phát triển. Các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực then chốt đạt kết quả cao so với cùng kỳ năm trước: Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng tăng ở mức cao do tăng trưởng khá trong công nghiệp và xây dựng; Trong nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; Sản xuất thuỷ sản tăng khá; Xuất khẩu tăng đáng kể so với 6 tháng đầu năm 2002; Đầu tư trong nước tăng khá, đầu tư nước ngoài tăng cả về số thực hiện và số cấp phép; Thu ngân sách đạt trên 50% kế hoạch cả năm và tăng gần 10% so với cùng kỳ; Giá cả ổn định; Tỷ giá không có biến động lớn; Đời sống của các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện; Tình hình xã hội ổn định; Văn hoá, y tế giáo dục phát triển tốt; Dịch SARS được khống chế; Tai nạn giao thông giảm.
Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế-xã hội của năm 2003, nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với những thách thức: (1) Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng ổn định và tương đối cao, nhưng tăng nhiều ở các sản phẩm như dệt may, giày dép, lắp ráp hàng điện tử, lắp ráp ô tô, xe máy, là những sản phẩm có tỷ lệ giá trị tăng thêm thấp và phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu; (2) Giá nhập khẩu một số mặt hàng như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, sợi dệt và bông… đều tăng cao sẽ làm tăng chi phí đầu vào của các ngành sản xuất liên quan; (3) Kim ngạch xuất khẩu tăng cao nhưng phần nhiều do yếu tố tăng giá, nhập siêu 6 tháng ở mức cao (2,4 tỷ USD); (4) Theo các nhà phân tích, kinh tế thế giới trong 6 tháng cuối năm sẽ tăng trưởng khá hơn và như vậy nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng thêm, thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam; nhưng yêu cầu ngày càng cao hơn về chất lượng hàng hoá và các rào cản thuế quan và phi thuế ở các thị trường lớn cũng là những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam; (5) Theo lộ trình AFTA, từ 1/7 Việt Nam bắt đầu chuyển khoảng 750 mặt hàng nhập khẩu trong danh mục loại trừ tạm thời vào danh mục cắt giảm thuế với mức thuế suất bắt đầu đưa vào cắt giảm phải thấp hơn hoặc bằng 20%, đồng thời phải loại bỏ ngay lập tức các hạn chế về mặt định lượng với các mặt hàng chính mà trong số đó có những mặt hàng trong nước đã sản xuất được, việc này sẽ có lợi cho người tiêu dùng Việt Nam nhưng đối với các nhà sản xuất trong nước đây là thách thức không nhỏ vì phải cạnh tranh khốc liệt hơn ngay trên thị trường nội địa.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ