Trong 6 tháng đầu năm 2004, nền kinh tế diễn biến trong điều kiện trong nước và thế giới có nhiều khó khăn: hạn hán và rét đậm đầu vụ đông xuân ở các tỉnh phía Bắc, dịch cúm gia cầm phát sinh trên nhiều tỉnh và thành phố trong quí I, giá tiêu dùng tăng, giá một số vật tư trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng dầu tăng mạnh… Tuy vậy, do có sự chỉ đạo điều hành sát sao ngay từ đầu năm của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục phát triển và ổn định. Trên cơ sở số liệu thống kê 5 tháng và số liệu ước tính tháng 6, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2004 như sau:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2004 ước tính tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10%; khu vực dịch vụ tăng 7%. Trong 7% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,8% và khu vực dịch vụ đóng góp 2,8%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm nay có mức tăng trưởng thấp, chỉ đạt 2%; riêng ngành nông nghiệp đạt 1,6% (thấp nhất kể từ năm 2000 đến nay). Nguyên nhân chủ yếu do rét đậm kéo dài và hạn hán ở các tỉnh phía Bắc đầu vụ đông xuân làm giảm diện tích gieo trồng lúa và mưa lớn ở các tỉnh Nam Trung Bộ đã ảnh hưởng chung đến ngành trồng trọt. Về chăn nuôi, do dịch cúm gia cầm lan rộng ở nhiều địa phương trong những tháng đầu năm, trực tiếp làm giảm đàn gia cầm và tác động không thuận đến toàn ngành. Đến nay, đàn gia cầm đang từng bước được khôi phục.
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10%, xấp xỉ mức tăng của 6 tháng đầu năm trước; trong đó chỉ có ngành công nghiệp khai thác tăng mạnh, đạt 15% (cao hơn hẳn mức tăng 6,4% của 6 tháng đầu năm trước), các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, ga, nước đều chưa bằng mức tăng của 6 tháng đầu năm trước. Riêng ngành xây dựng, chịu tác động của giá thép xây dựng tăng cao trong những tháng đầu năm nên quý I đạt mức tăng trưởng thấp, gần đây giá thép tuy đã xuống, nhưng tốc độ xây dựng vẫn chưa bằng cùng kỳ năm trước, 6 tháng đầu năm nay tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng chỉ đạt 7,3% (6 tháng đầu năm trước là 10,6 %).
Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay đạt 7%, cao hơn mức tăng trưởng 6,4% của 6 tháng đầu năm trước. Một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm có mức tăng cao so với mức tăng của 6 tháng đầu năm trước: Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp là 8% (cùng kỳ năm trước 6,5%); ngành vận tải, bưu điện, du lịch tăng 7,2% (cùng kỳ năm trước tăng 5,1%); ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 10,1% (cùng kỳ năm trước tăng 7,2%).
Do tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục cao hơn mức tăng trưởng chung và cao hơn mức tăng trưởng của các khu vực dịch vụ và nông, lâm nghiệp, thuỷ sản nên cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng: Tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40% trong 6 tháng đầu năm 2003 lên 41,3% trong 6 tháng đầu năm nay, các con số tương ứng của dịch vụ là 38,3% và 37,6 %; của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 21,7% và 21,1%.
Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính đạt 49,7% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 50%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 50,5% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 51,9%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 54,1%; các khoản thu về nhà đất đạt 75,4%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 70,5%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 44,7%. Thu từ dầu thô đạt 60% dự toán năm, nhờ giá dầu thô trong 6 tháng tăng cao. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 42,1%, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu mới đạt 38,1% kế hoạch năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính đạt 43,9% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 51,5%; chi cho đầu tư phát triển đạt 37,6%, trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản mới đạt 38%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 50,4% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 50,1%; chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể đạt 54,5%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 56,3%; chi cho y tế đạt 50,3%; chi cho văn hoá thông tin đạt 50,3%. Bội chi ngân sách 6 tháng đầu năm ước tính bằng 23,3% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 85,4% và vay nước ngoài 14,6%.
2. Thị trường chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh
Sáu tháng đầu năm nay, Nhà nước đã thực hiện một số chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường chứng khoán phát triển. Trên thị trường chứng khoán đã có thêm nhiều trái phiếu và 1 cổ phiếu mạnh là cổ phiếu BBT. Tuy vậy, thị trường chứng khoán vẫn chưa sôi động, đặc biệt từ đầu tháng 6 đến nay lại bị ảnh hưởng bởi tăng lãi suất tiền gửi Ngân hàng nên đã có hơn 1/3 cổ phiếu bị xuống giá. Tổng giá trị giao dịch từ đầu năm đến nay đạt 8084,2 tỷ đồng; trong đó có đến 83,6% là giao dịch trái phiếu. Bình quân mỗi phiên giao dịch đạt 74,2 tỷ đồng. Giao dịch thỏa thuận chiếm 85,2%, phần lớn là giao dịch trái phiếu Chính phủ. Giao dịch khớp lệnh đạt bình quân 11 tỷ đồng/1 phiên, hầu hết là giao dịch cổ phiếu. Chỉ số VN-index từ tháng một đến tháng sáu: Tháng 1: 169,16; tháng 2: 213,26; tháng 3: 271,45; tháng 4: 279,71; tháng 5: 265,60; tháng 6: 253,54.
Đến nay, trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã có 169 chứng khoán tham gia giao dịch, trong đó có 24 cổ phiếu, 142 trái phiếu Chính phủ, 2 trái phiếu công ty và 1 trái phiếu địa phương, nhưng chỉ có 24 cổ phiếu và một số ít trái phiếu Chính phủ thường xuyên có phát sinh giao dịch. Những cổ phiếu chiếm thị phần cao là REE, SAM, SAV, BBC, GMD…
3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 1994 trong 6 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 77,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó nông nghiệp 60,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6%; lâm nghiệp 3,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,3%; thuỷ sản 14,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7%. Sản xuất nông nghiệp 6 tháng tăng không cao do thời tiết đầu vụ đông xuân không thuận ảnh hưởng đến tiến độ và làm giảm diện tích gieo trồng lúa đông xuân và do dịch cúm gia cầm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chăn nuôi. Sản xuất lâm nghiệp tăng chậm. Sản xuất thuỷ sản tăng khá do thuận lợi trong khai thác và tăng diện tích nuôi trồng, thêm nữa tăng nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản trong nước và tăng xuất khẩu thuỷ sản. Tình hình sản xuất cụ thể như sau:
a. Nông nghiệp
Diện tích lúa đông xuân cả nước sơ bộ đạt 2978,4 nghìn ha, giảm 44,2 nghìn ha và bằng 98,5% vụ đông xuân năm 2003. Các địa phương phía Bắc đạt 1164 nghìn ha, bằng 98,6%, do đầu vụ năm nay ở phía Bắc có rét đậm kéo dài và hạn hán trên diện rộng, làm ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy. Các địa phương phía Nam đạt 1814,4 nghìn ha, bằng 98,5%, do một phần diện tích lúa cho năng suất thấp đã được chuyển sang nuôi thuỷ sản.
Thời tiết cuối vụ diễn biến thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho trà lúa chính vụ phát triển tốt và cho năng suất khá. Đến trung tuần tháng 6, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 856 nghìn ha, chiếm 74% diện tích gieo cấy, năng suất ước tính đạt 57,8 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2003, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 62,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; vùng Bắc Trung Bộ đã thu hoạch xong với 56,6 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha; miền núi phía Bắc 49,4 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha. Sản lượng lúa đông xuân phiá Bắc ước tính đạt 6,73 triệu tấn, tăng 3,4 vạn tấn so với vụ đông xuân trước. Các địa phương phía Nam đã thu hoạch xong với năng suất đạt 56,6 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 10,3 triệu tấn, tăng 14 vạn tấn, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,6 triệu tấn, tăng 11,8 vạn tấn. Tính chung năng suất lúa đông xuân năm nay của cả nước ước tính đạt 57,1 tạ/ha, tăng 1,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2003 và sản lượng đạt 17 triệu tấn, tăng 17,4 vạn tấn. Nếu tính cả 1,7 triệu tấn lương thực có hạt khác thì sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm nay đạt 18,7 triệu tấn, tăng 45,3 vạn tấn so với vụ đông xuân trước.
Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương đang khẩn trương gieo cấy lúa hè thu và thu hoạch một số cây trồng chính của vụ đông xuân. Tính đến trung tuần tháng 6, cả nước đã gieo cấy được gần 2 triệu ha lúa hè thu, bằng 97,4% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long 1,58 triệu ha, bằng mức cùng kỳ năm 2003. Diện tích ngô đông xuân đạt 484,7 nghìn ha, bằng 112,1% vụ đông xuân năm trước, năng suất đạt 34,7 tạ/ha, tăng 2,3 tạ/ha, sản lượng đạt 1,7 triệu tấn, bằng 120%; diện tích đỗ tương tăng 20,3 nghìn ha, năng suất tăng 1,8 tạ/ha; diện tích lạc tăng 19,3 nghìn ha, năng suất tăng 1,3 tạ/ha và sản lượng tăng 59 nghìn tấn.
Sau dịch cúm gia cầm xảy ra trong quí I, các địa phương đang từng bước khôi phục đàn gia cầm trong quí II, nhưng tốc độ còn chậm do giá con giống và giá thức ăn cho chăn nuôi tăng cao, mặt khác người dân vẫn còn lo ngại dịch bệnh có thể tái phát và nông dân chuyển hướng sang chăn nuôi lợn nhiều hơn. Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/4/2004, đàn lợn cả nước có 24,68 triệu con, tăng 5% so với thời điểm 01/4/2003.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2004 tăng chậm hơn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 94,5 nghìn ha, bằng 99,9%, trong đó tập trung chủ yếu vào dự án 5 triệu ha rừng. Số cây trồng phân tán 101,4 triệu cây, bằng 103,5%. Sản lượng gỗ khai thác ở hầu hết các tỉnh đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, riêng vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ có tiến độ khai thác nhanh hơn do Nhà máy giấy Bãi Bằng đã đi vào hoạt động sản xuất trở lại, cả nước ước tính đạt 1315,7 nghìn m3, tăng 0,6%.
Thiệt hại rừng trong 6 tháng đầu năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng mức giảm không đáng kể: Diện tích rừng bị thiệt hại cả nước 4377 ha, giảm 270 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy 3469 ha, giảm 8 ha. Một số tỉnh xảy ra cháy lớn như Kiên Giang 716 ha, Điện Biên 690 ha, Long An 455 ha; diện tích rừng bị phá 908 ha, giảm 262 ha, trong đó Bình Phước 523 ha, Đắk Nông 124 ha.
c. Thuỷ sản
Khai thác và nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm nay tăng khá so với cùng kỳ năm trước do thời tiết thuận lợi và thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản trong và ngoài nước được mở rộng. Sản lượng thuỷ sản 6 tháng ước tính đạt 1416,8 nghìn tấn, tăng 4,9% so với 6 tháng đầu năm trước, trong đó sản lượng khai thác 988 nghìn tấn, tăng 3,8%, riêng khai thác biển 857,9 nghìn tấn, tăng 4,5%; sản lượng nuôi trồng 428,8 nghìn tấn, tăng 7,5%.
4. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất toàn ngành công nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2004 ước tăng 15,4% so với 6 tháng đầu năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,9% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 14,3% và doanh nghiệp Nhà nước địa phương tăng 7%), khu vực ngoài quốc doanh tăng 21,8% và khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,7%. Công nghiệp khai thác mỏ và khai khoáng 6 tháng ước tính tăng 20,7%, chủ yếu tăng do dầu mỏ và khí đốt, chiếm tỷ trọng trên 85% của ngành này (riêng sản lượng dầu thô khai thác 6 tháng ước đạt 9,9 triệu tấn và tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước); than sạch khai thác tăng 32,4%. Công nghiệp chế biến 6 tháng đầu năm 2004 ước tính tăng 14,9% so với 6 tháng đầu năm trước. Một số sản phẩm quan trọng trong công nghiệp chế biến vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao như: thuỷ sản chế biến tăng 16,2%; vải lụa thành phẩm tăng 15,3%; quần áo dệt kim tăng 17,3%; quần áo may sẵn tăng 17,8%; giấy bìa các loại tăng 29,7%; phân hoá học tăng 9,8%; xà phòng các loại tăng 17,6%; xi măng tăng 9,5%; gạch lát tăng 20,8%; gạch xây tăng 14,7%; máy công cụ tăng 25,5%; tivi lắp ráp tăng 34,6%; xe máy lắp ráp tăng 46,8%; xe đạp hoàn chỉnh tăng 105,4% và điện sản xuất tăng 12,1%. Bên cạnh các sản phẩm tăng cao trong công nghiệp chế biến, còn một số sản phẩm có khó khăn trong tiêu thụ, nên phải sản xuất cầm chừng, tốc độ tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: đường mật giảm 3%; bia tăng 5,6%; xút tăng 3,4%; thuốc trừ sâu tăng 4,7%; thuốc viên các loại tăng 2,4%; thuốc ống các loại giảm 4,4%; sứ vệ sinh tăng 5,2%; động cơ điện tăng 2,7%; máy biến thế tăng 7,5%; thép cán giảm 0,5%; động cơ diezen giảm 6,3%; quạt điện dân dụng giảm 9,1%; ô tô lắp ráp giảm 1,9%.
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn của 15 tỉnh thành phố trong cả nước (số liệu trong biểu đính kèm), chiếm khoảng 80% giá trị sản xuất công nghiệp, có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung đã góp phần chủ yếu tạo nên tăng trưởng ổn định trong công nghiệp. Các địa phương có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn cao hơn mức tăng 15,4% là Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Dương, Đồng Nai và Cần Thơ. Riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất cả nước (6 tháng chiếm khoảng 25% giá trị sản xuất công nghiệp) chỉ tăng 14,7%.
Sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được nhịp độ tăng cao và ổn định là do: (1) Chính phủ đã có những biện pháp xử lý, tháo gỡ kịp thời những khó khăn do tăng giá một số nguyên vật liệu đầu vào, do hạn ngạch xuất khẩu vào một số thị trường như Mỹ, Irắc, EU… và mở thêm thị trường mới, đẩy mạnh xuất khẩu tiểu ngạch các mặt hàng như thuỷ sản chế biến, nông sản, hàng may mặc, gốm, sứ, hàng thủ công mỹ nghệ; (2) Sản xuất công nghiệp vẫn được tiếp tục tăng theo chiều rộng, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có thêm nhiều doanh nghiệp mới, tập trung vào các ngành may mặc, da giầy, chế biến thuỷ sản, nông sản xuất khẩu, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, lắp ráp điện tử… là những ngành còn tiềm năng phát triển và thu hút nhiều lao động; (3) Chất lượng sản phẩm công nghiệp được nâng lên; việc sản xuất thay thế một số nguyên vật liệu, linh kiện phụ tùng nhập khẩu cũng được quan tâm, khuyến khích, bước đầu đã đạt được kết quả trong một số ngành như sản xuất xe máy, điện tử, thiết bị điện, sản phẩm phục vụ xây dựng…
5. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư phát triển 6 tháng đầu năm 2004 ước đạt 116,9 nghìn tỷ đồng, bằng 46,9% kế hoạch năm và tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số vốn đầu tư phát triển, vốn Nhà nước chiếm 52,9% tổng số, đạt 43,5% kế hoạch năm và tăng 12,8%; vốn ngoài quốc doanh chiếm 27,9%, đạt 48,7% kế hoạch và tăng 10,5%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 19,2%, đạt 55,8% và tăng 22,9%. Cụ thể như sau:

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 6 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 18,4 nghìn tỷ đồng, đạt 49,6% kế hoạch năm. Vốn đầu tư thuộc trung ương quản lý ước thực hiện 7,06 nghìn tỷ đồng, đạt 54,3% kế hoạch năm, trong đó các Bộ có khối lượng vốn đầu tư lớn: Bộ Giao thông Vận tải, chiếm 42% vốn trung ương quản lý, đạt 60,6%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chiếm 11%, đạt 47,8%; Bộ Y tế đạt 39,4%, Bộ Giáo dục- Đào tạo đạt 40%. Vốn đầu tư thuộc địa phương quản lý ước thực hiện 11,34 nghìn tỷ đồng, chiếm 61,4% tổng số, đạt 47,1% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 40,8%, Hải Phòng đạt 52,8%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 36%, Quảng Ninh đạt 45,3%, Thanh Hoá đạt 48,5%, Khánh Hoà đạt 44,9%, Đồng Nai đạt 35,9%, Tiền Giang đạt 51,3%… Trong 6 tháng, một số công trình đã được khởi công như Đường cao tốc sân bay Liên Khương- Pren thuộc quốc lộ 20; Dự án cải tạo và nâng cấp sân bay Chu Lai thành Cảng hàng không Chu Lai; gói thầu 3A nâng cấp đoạn Biểu Nghi- Phà Rừng; Cầu tầu cảng Cát Lái 2… Đã hoàn thành Nhà ga hành khách và Đài kiểm soát không lưu Cảng hàng không Điện Biên Phủ, hoàn thành nâng cấp cảng hàng không Vinh; nghiệm thu gói thầu 2 dự án Cảng Cái Lân… Công tác tu bổ đê thường xuyên của các địa phương chưa đạt tiến độ hoàn thành trước mùa mưa… Nhìn chung, mức độ thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 6 tháng đầu năm nay thấp hơn mức độ thực hiện kế hoạch của 6 tháng đầu năm trước do triển khai kế hoạch vốn đầu tư đến các đơn vị cơ sở chậm; mặt khác do biến động lớn về giá thép xây dựng trong những tháng đầu năm, gây áp lực làm không ít các công trình xây dựng của Nhà nước phải giãn tiến độ thi công để chờ phương án cấp bù chênh lệch giá sắt, thép.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến hết tháng 6/2004 có 280 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 806,6 triệu USD. Ngành công nghiệp xây dựng có 201 dự án với vốn đăng ký 479,6 triệu USD, chiếm 71,8% về số dự án và 59,5% về vốn đăng ký. Ngành nông nghiệp, thuỷ sản có 37 dự án với 207,6 triệu USD, chiếm 13,2% về số dự án và 25,7% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 42 dự án với 119,4 triệu USD, chiếm 16,2% về số dự án và 15,8% về vốn đăng ký.
Các tỉnh, thành phố phía Nam có 199 dự án với 454,7triệu USD, chiếm 71,1% về số dự án và 56,4% về số vốn đăng ký. Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu cả nước về số dự án được cấp phép, nhưng số vốn không lớn nên bình quân một dự án tương đối nhỏ (94 dự án với 82,4 triệu USD vốn đăng ký); Bình Dương 54 dự án với 157 triệu USD; Đồng Nai 22 dự án với 147,7 triệu USD, Bà Rịa-Vũng Tàu 6 dự án với 16,7 triệu USD. Các tỉnh, thành phố phía Bắc có 81 dự án với số vốn đăng ký 351,9 triệu USD, chiếm 28,9% về số dự án và 43,6% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 28 dự án với vốn đăng ký 35,7 triệu USD, Hải Phòng có 5 dự án với 15,1 triệu USD, Thái Nguyên 3 dự án với 147,7 triệu USD, Vĩnh Phúc 11 dự án với 41 triệu USD, Phú Thọ 4 dự án với 19,8 triệu USD, Quảng Ninh 5 dự án với 12,5 triệu USD, Hải Dương 5 dự án với 22,2 triệu USD…
Các đối tác có vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 65 dự án với số vốn 231,3 triệu USD; Ca-na-đa 6 dự án với 150,6 triệu USD; Hàn Quốc 66 dự án với 108,5 triệu USD; Malaixia 11 dự án với 49,5 triệu USD; Nhật Bản 18 dự án với 48,4 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 16 dự án với 40,4 triệu USD; Hoa Kỳ 13 dự án với 31,3 triệu USD; CHND Trung Hoa 27 dự án với 28,5 triệu USD; CH. Liên bang Nga 4 dự án với 18,4 triệu USD…
6. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 471,6 triệu lượt hành khách và gần 21,2 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,1% về lượt khách và tăng 13,8% về lượt khách.km. Đáng lưu ý là vận tải hành khách ngoài nước 6 tháng đầu năm nay tăng mạnh cả về số khách và khách luân chuyển, nhờ tăng khách du lịch đến và ra nước ngoài (năm trước du lịch thấp vì SARS). Vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 11,8% về số khách và tăng 14,5% về số khách.km, các con số tương ứng của vận tải hành khách bằng hàng không tăng 33% và tăng 50,2%, bằng đường ô tô tăng 6,5% và tăng 7,0%.
Vận chuyển hàng hoá đạt 128,5 triệu tấn và 27,6 tỷ tấn.km, so với 6 tháng đầu năm 2003 tăng 5% về tấn và tăng 7,5% về tấn.km, trong đó vận tải hàng hoá bằng đường sắt tăng 11,2% và tăng 11,5%, bằng đường biển tăng 6,5% và tăng 7,6%, bằng đường bộ tăng 4,9% và tăng 5,7%, bằng đường sông tăng 4,2% và tăng 6,9%. Vận tải bằng đường biển tăng cao hơn mức tăng chung cả về tấn và tấn.km, do nhu cầu vận tải hàng hoá bằng đường biển tăng lên với lợi thế luôn rẻ hơn vận tải bằng các phương tiện khác và do khối lượng xuất khẩu một số mặt hàng năm nay tăng khá, đặc biệt là vận tải theo các đơn hàng xuất khẩu đi xa. Nhìn chung, hoạt động vận tải đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, 6 tháng qua trật tự an toàn giao thông tiếp tục có những diễn biến phức tạp cần được khắc phục.
Về bưu chính viễn thông, trong 6 tháng đầu năm 2004 doanh thu đạt gần 12334 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số máy điện thoại của cả nước hiện có 8462,1 nghìn chiếc, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại cố định 4992,6 nghìn chiếc, tăng 22,8%. Số thuê bao internet là 551,5 nghìn, tăng 61%.
7. Thương mại, giá cả và du lịch
Thị trường trong nước 6 tháng đầu năm nay sôi động hơn 6 tháng năm trước, tuy giá tiêu dùng diễn biến khác thường và tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ 2003, nhưng việc tiêu thụ nông sản trong nước thuận lợi hơn và giá nông sản tăng đã tăng thêm thu nhập cho nông dân và tăng sức mua. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 178,6 nghìn tỷ đồng (giá thực tế), tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ giá tổng mức còn tăng khoảng 11%, là mức tăng tương đối cao, chủ yếu tăng do hoạt động của khu vực kinh tế cá thể và tư nhân. Khu vực kinh tế Nhà nước đạt 28,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 16,1%), tăng 12%; khu vực kinh tế tập thể đạt 1,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 0,9%), tăng 18,2%; khu vực kinh tế cá thể đạt 112,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 63,3%), tăng 16,1%; khu vực kinh tế tư nhân đạt 31,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 17,6%) tăng 30,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,1%) giảm 0,1%. Phân tích theo các ngành kinh doanh thương nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tăng chủ yếu do hoạt động của ngành thương nghiệp, chiếm hơn 80% tổng mức và tăng tới 19,8% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng của nó trong 6 tháng trước. Ngành du lịch, tuy tỷ trọng thấp nhưng tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Số liệu cụ thể của các ngành như sau:

Giá tiêu dùng trong 6 tháng diễn biến phức tạp và tăng cao hơn mức tăng trong 6 tháng đầu năm trước. Giá tiêu dùng tháng 6/2004 tăng 0,8% so với tháng trước, chủ yếu tăng do tăng giá nhóm lương thực thực phẩm; các nhóm hàng khác tăng thấp hoặc giảm và ảnh hưởng không đáng kể vào tăng giá tiêu dùng tháng 6 so với tháng trước. Giá tiêu dùng nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,5% (trong đó lương thực tăng 0,5%, thực phẩm tăng 1,8%; các nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,1%; các nhóm hàng đồ uống, thuốc lá và phương tiện đi lại, bưu điện không thay đổi so với tháng trước; riêng nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng giảm 0,2%; nhóm dược phẩm, y tế giảm 0,1%; nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%; nhóm giáo dục giảm 0,1%. So với tháng 12 năm 2003, giá tiêu dùng tháng 6 tăng 7,2%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 13,2% (lương thực tăng 11,5%, thực phẩm tăng 14,6%), vẫn là nhóm chính góp phần tăng giá tiêu dùng tháng 6 so với tháng 12/2003; các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng khác tăng ở các mức độ khác nhau và do cơ cấu trong tiêu dùng, chúng cũng đều có ảnh hưởng nhẹ đến tăng giá. Giá dược phẩm, y tế tăng 6,6%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 4,8%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 2,9%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,3%; may mặc, giày dép, mũ nón, tăng 2,1%. Riêng nhóm giáo dục giảm 3,1%.
Giá vàng tháng 6/2004 tiếp tục giảm so với tháng trước và so với tháng 12/2003: giảm 1,4% so với tháng trước và giảm 0,9% so với tháng 12/2003. Giá đô la Mỹ không thay đổi so với tháng trước và tăng 0,2% so với tháng 12 năm trước; tính chung 6 tháng chỉ tăng 2% so với cùng kỳ năm trước.
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2004 ước đạt 11,8 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 1 tháng đạt gần 2 tỷ USD (6 tháng năm trước đạt mức bình quân 1 tháng là 1,64 tỷ USD). Xuất khẩu dầu thô ước đạt 2,5 tỷ USD, tăng 29,3% so với 6 tháng đầu năm trước và đóng góp tới 29,1% vào tăng trưởng xuất khẩu 6 tháng. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 9,3 tỷ USD, tăng 17,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,34 tỷ USD tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,96 tỷ USD, tăng 30,8%.
Các mặt hàng đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng là dầu thô, than đá, dệt may, giày dép, điện tử máy tính, gạo và sản phẩm gỗ. Theo các nhóm sản phẩm chính, sản phẩm của mỏ và khai khoáng đóng góp khoảng trên 30% vào tăng xuất khẩu 6 tháng, do xuất khẩu dầu thô và than đá tăng mạnh cả giá và lượng; Nhóm nông sản chính và nông sản chế biến đóng góp trên 10%; Hàng thuỷ sản đóng góp khoảng 1%; Nhóm hàng công nghiệp chế biến và hàng khác đóng góp trên 50%. Kim ngạch xuất khẩu của phần lớn các mặt hàng chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu dầu thô 6 tháng đầu năm ước đạt 2,5 tỷ USD, tương ứng với 9,7 triệu tấn, tăng 29,3% về kim ngạch và tăng 12,6% về lượng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt xấp xỉ 2 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong 5 tháng đầu năm nay xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản tăng 10,2%, vào EU tăng 53,8%, vào Ca-na-đa tăng 17,9% và vào Đài Loan tăng 5,3% đã bù lại được sự giảm sút của mặt hàng này vào thị trường Mỹ, ASEAN, Hàn Quốc và Hồng Kông. Kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt 1,29 tỷ USD và tăng 12,9%; thuỷ sản đạt gần 1 tỷ USD và tăng 1,7%, sản phẩm gỗ đạt 0,49 tỷ USD và tăng 88,5%, hàng điện tử máy tính đạt 0,4 tỷ USD và tăng 28%. Xuất khẩu gạo 6 tháng ước đạt 2,25 triệu tấn, tương ứng với 506 triệu USD, lượng xuất khẩu giảm 3,3% nhưng kim ngạch tăng 14,5%, do chất lượng gạo xuất khẩu được nâng cao và giá đạt khoảng 225 USD/tấn, tăng hơn 35 USD/tấn so với giá cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu than đá, cà phê, hạt tiêu, chè tăng mạnh cả về kim ngạch và lượng xuất khẩu: than đá tăng 59,9% về kim ngạch và tăng 48,8% về lượng; cà phê tăng 46% và tăng 52,5%; hạt tiêu tăng 19,7% và tăng 19,8%; chè tăng 44,4% và tăng 71,1%. Đáng lưu ý là giá các mặt hàng dầu thô, than đá, cao su và hạt điều đều tăng có lợi cho xuất khẩu, nhất là giá dầu thô, gạo và cao su. Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, rau quả, cao su và lạc đạt mức thấp hơn 6 tháng đầu năm trước.
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng tăng do: (1) Một số mặt hàng xuất khẩu, nhất là một số mặt hàng công nghiệp, thuỷ sản và nông lâm thuỷ sản đã tăng được khối lượng xuất khẩu trong 6 tháng; (2) Kinh tế thế giới phục hồi, cầu tăng lên và giá xuất khẩu cũng được tăng lên, tuy không nhiều (trong gần 830 triệu USD tăng thêm so với 6 tháng đầu năm trước của 9 mặt hàng có thống kê về lượng kèm theo, tăng do giá gần 430 triệu USD); (3) Kết quả tích cực của các hoạt động nhằm mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu của Chính phủ và các cơ quan liên quan.
Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 14,16 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 9,09 tỷ USD, tăng 12,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 5,07 tỷ USD, tăng 18,2%. Nhiều mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước có kim ngạch nhập khẩu tăng khá so với cùng kỳ năm trước, song đáng lưu ý là giá nhập khẩu một số mặt hàng như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước đã làm tăng đáng kể kim ngạch nhập khẩu trong khi lượng nhập của các mặt hàng tương ứng lại tăng thấp hoặc giảm: Nhập khẩu xăng dầu ước đạt 5,6 triệu tấn, tương ứng với 1,6 tỷ USD, chỉ tăng 5% về lượng nhưng tăng 25,6% về kim ngạch, do giá xăng dầu trong 6 tháng tăng khoảng 20%. Nhập khẩu sắt thép ước đạt 2,55 triệu tấn, tương ứng với 1,11 tỷ USD, lượng giảm 0,7% so với cùng kỳ, nhưng kim ngạch tăng 21,3%, do giá tăng khoảng 22%; nhập khẩu phân bón 1,9 triệu tấn, tương ứng với 346 triệu USD, giảm 2,5% về lượng nhưng kim ngạch tăng 23,9%, do giá tăng 27%. Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 11,4%; vải tăng 43,6%; hoá chất tăng 17,5%; chất dẻo tăng 37%; tân dược tăng 7,6%; sản phẩm hoá chất tăng 16,9%; riêng kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 17,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị cao do nhập nhiều thiết bị phục vụ các công trình SEA Games 22).
Nhập siêu 6 tháng đầu năm nay là 2,36 tỷ USD, bằng 20% kim ngạch xuất khẩu, là tỷ lệ tích cực hơn so với tỷ lệ 25,4% của 6 tháng năm trước, do tốc độ xuất khẩu tăng nhanh hơn tốc độ nhập khẩu hàng hoá.

Hoạt động kinh doanh du lịch 6 tháng đầu năm nay thuận hơn nhiều so với 6 tháng năm trước, là thời kỳ có SARS xảy ra trong quí I và ảnh hưởng của SARS đến khách du lịch vào Việt Nam trong quí II. Mặt khác, năm nay cũng đã tổ chức một số ngày kỷ niệm lớn như 50 năm giải phóng Điện Biên, Festival Huế… thu hút nhiều khách vào Việt Nam hơn. Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2004 đạt 1392,5 nghìn lượt người, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khách đến với mục đích du lịch 731,8 nghìn lượt người, tăng 36,1%; vì công việc 253 nghìn lượt người, tăng 26,6%; thăm thân nhân 235,6 nghìn lượt người, tăng 29,5%; vì mục đích khác 172,1 nghìn lượt người, tăng 11,1%. Khách đến Việt Nam nhiều nhất là từ CHND Trung Hoa với 383,8 nghìn lượt người, tăng 32,5%, từ Mỹ 139,8 nghìn lượt người, tăng 30,5%, từ Đài Loan 123,5 nghìn lượt người, tăng 52,6%, từ Nhật Bản 112,8 nghìn lượt người, tăng 7,3%, từ Hàn Quốc 95,7 nghìn lượt người, tăng 89,8%, từ Ô- xtrây-li-a 60,2 nghìn lượt người, tăng 44,6%…
B. XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Đời sống dân cư trong 6 tháng đầu năm 2004 nhìn chung chịu tác động theo những chiều hướng khác nhau do biến động của giá tiêu dùng, nhất là giá lương thực, thực phẩm và điều chỉnh tăng giá bán xăng dầu.
Thu nhập danh nghĩa của cán bộ viên chức và công nhân, lao động không có biến động lớn, nhưng không đồng đều giữa các ngành, các địa phương, đơn vị. Trong bốn triệu lao động khu vực Nhà nước quản lý, mức thu nhập bình quân 1,25 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân một lao động Nhà nước trung ương đạt 1,65 triệu đồng và một lao động nhà nước địa phương đạt gần một triệu đồng. Cũng có sự khác biệt giữa thu nhập ở các ngành do mức độ phát triển và lợi thế trong phân công lao động. Tuy nhiên, do giá lương thực, thực phẩm tăng cao nên thu nhập thực tế của những người làm công ăn lương bị tác động không thuận.
Đời sống nông dân ổn định, do sản lượng lúa đông xuân và rau quả tăng khá, cùng với giá nông sản và thực phẩm tăng lên đã góp phần bù đắp phần nào thiệt hại từ dịch cúm gia cầm và các thiệt hại do thiên tai xảy ra trong những tháng đầu năm. Thiếu đói trong nông dân 6 tháng đầu năm nay giảm cả về số lượt hộ và số lượt người so với cùng kỳ năm trước: Số lượt hộ thiếu đói trong 6 tháng giảm 37,2% so với cùng kỳ năm trước và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 38,6%. Riêng trong tháng 6, tính đến 20/6/2004 có 30,4 nghìn lượt hộ với khoảng 15,7 vạn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 0,25% số hộ và 0,28% số nhân khẩu nông nghiệp; số hộ và số nhân khẩu thiếu đói giảm gần một nửa so với tháng 6/2003 và cũng giảm mạnh so với tháng 5/2004 (chỉ bằng 19% số hộ và 22% số nhân khẩu thiếu đói tháng 5/2003). Thiếu đói trong 6 tháng đầu năm 2004 tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là các tỉnh bị ảnh hưởng nhiều bởi thiên tai hoặc có điều kiện đất đai và thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, chưa có hoặc thiếu kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, thiếu vốn… Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 3,68 nghìn tấn lương thực và 7,55 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 6 là 93 tấn lương thực và trên 1,14 tỷ đồng.
Trong 6 tháng đầu năm, các cấp, các ngành và các địa phương tham gia tích cực vào công tác đền ơn đáp nghĩa thông qua thăm hỏi, tặng quà các đối tượng và gia đình chính sách như người hoạt động tiền khởi nghĩa, hoạt động cách mạng (kể cả người hoạt động cách mạng đang hưởng lương); gia đình liệt sỹ, người có công kháng chiến, có công với nước; anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương bệnh binh, quân nhân… đồng thời trợ giúp xã hội các đối tượng khó khăn, các đối tượng chính sách và dân cư vùng nghèo khắc phục khó khăn, ổn định đời sống.
2. Tình hình dịch bệnh
Sốt rét: Trong tháng 6 không có dịch sốt rét, có 8559 ca mắc, giảm 2590 ca so với tháng trước và giảm 2482 ca so với tháng 6 năm 2003. Tính từ đầu năm 2004 đến nay trên cả nước có là 45,6 nghìn ca mắc, trong đó có 6 ca tử vong.
Sốt xuất huyết: Theo báo cáo của 31 địa phương, trong tháng 6 có 4109 ca mắc, trong đó 10 ca tử vong. So với tháng trước số ca mắc tăng 2414 ca, số chết tăng 8 ca và so với tháng 6 năm 2003 số ca mắc tăng 2851 ca, số chết tăng 7 ca. Tính từ đầu năm 2004 đến nay có 17,7 nghìn ca mắc, trong đó có 33 ca tử vong. Bệnh tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Bộ Y tế đã yêu cầu chính quyền các cấp đầu tư kinh phí, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động phòng và chống dịch, chuần bị đầy đủ cơ số thuốc, phương tiện điều trị, thành lập các đội cấp cứu lưu động sẵn sàng hỗ trợ cho công tác cấp cứu.
Nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 6/2004 phát hiện thêm 753 người nhiễm HIV; có 180 người chuyển sang AIDS, trong đó 100 người đã chết do AIDS, so với tháng 6 năm trước số người nhiễm HIV giảm 55,2%, số bệnh nhân chuyển sang AIDS giảm 6,3% và số tử vong do AIDS giảm 39%. Tính đến nay cả nước có 81,65 nghìn người bị nhiễm HIV, số chuyển sang AIDS là 12,78 nghìn và số chết do AIDS là 7,25 nghìn.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong 6 tháng đầu 2004, trên phạm vi cả nước có 609 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 35 người đã bị tử vong, trong đó riêng tháng 6 có 10 vụ ngộ độc thực phẩm với tổng số 192 ca mắc, trong đó có 4 ca tử vong.
3. Hoạt động văn hoá, thể thao
Trong 6 tháng đầu năm 2004, đã tập trung thực hiện tốt việc truyên truyền các nhiệm vụ chính trị và tổ chức tốt các ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước như kỷ niệm 74 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 114 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh… đồng thời cổ động, tuyên truyền cho bầu cử hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 với nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao rộng khắp trong cả nước. Kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đã tổ chức Chương trình liên hoan thông tin lưu động, triển lãm toàn quốc chủ đề “Về với Điện Biên” tại thành phố Điện Biên Phủ với sự tham gia của 17 đội thông tin lưu động và 3 trung tâm thông tin triển lãm đại diện cho các tỉnh, thành phố 3 miền trong cả nước đã diễn ra tại 11 điểm, thu hút được khoảng 24500 lượt người xem; Lễ công bố năm du lịch Điện Biên với các chương trình nghệ thuật đặc sắc do hàng nghìn diễn viên chuyên và không chuyên nghiệp của trung ương và địa phương trình diễn… Festival Huế 2004 diễn ra từ ngày 12 đến 20 tháng 6 năm 2004, tuy thời tiết xấu, nhưng đã thành công. Chương trình lễ hội rất đa dạng với chủ đề “Di sản văn hoá với hội nhập và phát triển” cùng với sự tham gia của rất nhiều đoàn nghệ thuật trong nước và quốc tế.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được tiếp tục duy trì và đẩy mạnh tại các địa phương. Nhiều tỉnh, thành phố đã tổ chức bình xét danh hiệu Gia đình văn hoá, Làng, bản văn hoá với phương châm chú trọng đến chiều sâu chất lượng, nhân rộng các mô hình điển hình văn hoá… Công tác thanh tra, kiểm tra tiếp tục được đẩy mạnh, đã tiến hành nhiều đợt thanh, kiểm tra văn hoá.
Hoạt động thể thao diễn ra sôi động. Trong 6 tháng đầu năm 2004, đã tổ chức tốt các hoạt động thể dục thể thao gắn với những ngày lễ lớn và 58 năm thành lập ngành TDTT. Ngành Thể dục thể thao phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức thành công Hội khoẻ Phù Đổng ở các cấp, ở khu vực để tiến tới Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lần thứ VI năm học 2003-2004 được tổ chức tại tỉnh Thừa Thiên-Huế vào tháng 8/2004; Chuẩn bị tổ chức Đại hội TDTT trong lực lượng vũ trang; Tổ chức thành công giải đua xe đạp về Điện Biên; Hội thi thể thao văn hoá các tỉnh phía bắc tại tỉnh Điện Biên… Hoạt động thể dục thể thao quần chúng tiếp tục diễn ra sôi nổi, sâu rộng trên địa bàn cả nước. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Trong thể thao thành tích cao, tiếp tục triển khai kế hoạch huấn luyện, tập luyện của các đội tuyển quốc gia chuẩn bị cho các giải thi đấu quốc tế trong năm và chuẩn bị cho SEA Games 23. Tính đến nay có 900 VĐV, 140 HLV đã được tập trung huấn luyện tại 3 trung tâm thể thao quốc gia. Đặc biệt là các hoạt động chuẩn bị cho Olimpic Athens 2004, đến nay thể thao Việt Nam đã có 9 suất tham dự Olimpic Athens 2004 (trong đó có 4 suất chính thức và 5 suất đặc cách), so với các kỳ thế vận hội trước, số lượng vận động viên Việt Nam tham dự kỳ này đông nhất từ trước tới nay. Trong tháng 5 và tháng 6/2004, Uỷ ban thể dục thể thao tổ chức 9 giải vô địch quốc gia; cử 6 đội tuyển quốc gia các môn Cờ vua, Cầu mây, Canoeing, Bóng đá, Bóng bàn, Taekwondo tham dự các giải quốc tế. Việt Nam giành 1 HCV, 2 HCB, 4 HCĐ tại giải Taekwondo Châu Á lần thứ 16; 1 HCB cho đội tuyển vật tự do tại giải Vô địch tự do Châu Á; 3 HCV tại giải đấu kiếm Singapo và được xếp thứ 2 toàn đoàn; 2 HCV tại giải Vô địch thể hình Đông Nam Á; 2 HCB tại giải Taekwondo ngôi sao Thế giới tổ chức tại Iran.
4. Giáo dục
Năm học 2003-2004 ngành Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp các cấp phổ thông với sự chuẩn bị chu đáo từ trung ương đến địa phương. Đề thi ra đúng chương trình, nằm trong nội dung sách giáo khoa; phù hợp với thực tế và trình độ học sinh. Kỳ thi đã được tổ chức an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, theo đúng thời gian quy định. Theo báo cáo sơ bộ của 60 tỉnh, thành phố, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông các cấp năm học 2003-2004 như sau:

Tuy nhiên, vẫn cần rút kinh nghiệm cho các kỳ thi tiếp theo trong công tác coi thi nhằm hạn chế đến mức thấp nhất số học sinh và số cán bộ, giáo viên coi thi phạm qui nhằm đảm bảo công bằng trong học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục chung.
Cũng trong năm học 2003-2004 cả nước có 157 nghìn người tham gia học lớp xoá nạn mù chữ, tăng 31,2% so với năm học trước; có 118,4 nghìn học viên bổ túc tiểu học và sau xoá mù, tăng 15,8%; có 188,1 nghìn học viên bổ túc trung học cơ sở, tăng 12,19%; có 300,8 nghìn học viên bổ túc trung học phổ thông, tăng 12,5%.
Về phổ cập giáo dục, tính đến tháng 6 năm 2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công nhận 19 tỉnh đạt phổ cập trung học cơ sở là Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Hải Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nam, T.p Hồ Chí Minh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Bình Dương.
Đăng ký dự thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm học 2004-2005: Tổng số hồ sơ đăng ký dự thi đại học và cao đẳng là 1565,5 nghìn, (trong đó có 1089,4 nghìn hồ sơ đăng ký dự thi tuyển vào đại học và 476,1 nghìn hồ sơ dự thi cao đẳng), tăng 6,4% so với số đăng ký dự thi tuyển năm học trước. Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ tăng 10-15% của số học sinh lớp 12 năm học 2003-2004 so với năm học trước, như vậy trong số học sinh tốt nghiệp lớp 12 sẽ có một số học sinh lựa chọn thi tuyển vào các hình thức đào tạo khác. Tỷ lệ đăng ký vào các trường đại học có điểm trúng tuyển cao cho năm học 2003-2004 thấp hơn năm học trước.
5. An toàn giao thông
Trong những tháng đầu năm nay, tuy các ngành và các cấp đã có nhiều biện pháp triển khai tích cực nhằm lập lại trật tự an toàn giao thông, nhưng tình hình vẫn diễn biến phức tạp và chưa được cải thiện nhiều. Tính chung 5 tháng đầu năm 2004, số vụ tai nạn giao thông tuy đã giảm 20,7%, nhưng số người chết do TNGT tăng 7% so với 5 tháng đầu năm 2003, do đã xảy ra một số vụ tại nạn giao thông nghiêm trọng. Riêng trong tháng 5, từ 21/4/2004 đến hết ngày 20/5/2004, trên phạm vi cả nước đã xẩy ra 1522 vụ tai nạn giao thông (TNGT), làm chết 1090 người và bị thương 1409 người, đặc biệt trong tháng đã xảy ra 11 vụ TNGT nghiêm trọng, làm 34 người chết và 60 người bị thương. So với tháng 4/2004, số vụ TNGT tăng 10,5%, số người chết tăng 21,8% và số người bị thương tăng 18,1%. So với tháng 5/2003, số vụ TNGT giảm 2,6%, số người bị thương giảm 8,4%, nhưng số người chết tăng 20%. Trong số các vụ TNGT, hầu hết là TNGT đường bộ, chiếm 96,52% số vụ (tăng 0,44% so với tháng 4/2004). Phân tích trên các vụ TNGT tháng 5/2004, nguyên nhân gây ra TNGT đường bộ chủ yếu do lỗi của người tham gia giao thông, chiếm tới 77% số vụ đã xẩy ra, trong đó do chạy qúa tốc độ quy định chiếm 24,9%; tránh, vượt sai quy định 14 %; do say rượu, bia 5,1%; thiếu quan sát 16,5%; đi sai phần đường 13,6%. Ngoài ra, còn do các nguyên nhân khác như phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn; cầu, đường… Phân tích theo đối tượng và loại phương tiện giao thông, tai nạn giao thông chủ yếu do lái mô tô, xe máy, chiếm 62,3% và do lái xe ô tô chiếm 31,7%.
6. Thiệt hại do thiên tai
Trong 6 tháng đầu năm 2004 có 32 tỉnh, thành phố ở các vùng, miền khác nhau trong cả nước đã bị ảnh hưởng của bão và thời tiết bất thường như mưa đá, mưa lớn, lũ quét, lốc… trong các tháng 3, 4, 5, 6 với mức độ bị ảnh hưởng khác nhau. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 37 người chết (riêng bão số 2 đã làm 18 người bị chết); 32 người bị mất tích và 121 người bị thương (riêng bão số 2 làm bị thương 22 người). Về vật chất, đã làm hư hỏng một số công trình phòng chống lụt bão và công trình công cộng như đê, mương, cầu cống, đường giao thông, cột điện, tầu thuyền, nhà ở, phòng học…, 95 nghìn ha lúa bị ngập và hư hại, trong đó mất trắng 15,8 nghìn ha; trên 6 nghìn ha cây ăn quả, cây công nghiệp và gần 4 nghìn ha nuôi trồng thuỷ sản bị ảnh hưởng do thiên tai… Tổng trị giá thiệt hại ước tính khoảng 305 tỷ đồng, bằng 76,6% tổng số giá trị thiệt hại 6 tháng đầu năm 2003.
Khái quát lại, tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2004 tiếp tục phát triển và ổn định. Các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực then chốt đạt kết quả cao hơn so với 6 tháng đầu năm trước. Tổng sản phẩm trong nước tăng, chủ yếu do tăng công nghiệp và dịch vụ. Xuất khẩu tăng với qui mô bình quân 1 tháng gần 2 tỷ USD và tăng nhanh hơn tốc độ nhập khẩu, nên đã giảm được tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu. Thu ngân sách đạt khoảng 50% kế hoạch năm và tăng so với cùng kỳ. Tỷ giá không có biến động lớn. Đời sống dân cư một phần được cải thiện. Tình hình xã hội ổn định; văn hoá, y tế, giáo dục tiếp tục phát triển.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm chưa đạt được mức cần thiết để tạo tiền đề đạt kế hoạch tăng trưởng cả năm. Nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm còn khá nặng nề, cần có sự nỗ lực cao của các cấp, các ngành và sự tập trung chỉ đạo cao độ. Đặc biệt cần quan tâm hơn nữa đến đầu tư phát triển công nghiệp theo chiều sâu, đầu tư tăng mạnh các ngành dịch vụ có giá trị tăng thêm cao và kiềm chế mức độ tăng giá tiêu dùng và giá một số nguyên liệu, vật tư quan trọng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ