1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp
Lúa đông xuân: Hiện nay, các địa phương phía Nam đang tập trung thu hoạch lúa đông xuân đại trà, năng suất ước tính đạt 56,5 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng ước tính 10,2 triệu tấn, tăng 94,2 nghìn tấn. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch xong lúa đông xuân với năng suất ước đạt 58,7 tạ/ha, tăng 2 tạ/ha và sản lượng đạt 8,6 triệu tấn, tăng 11,7 vạn tấn. Năng suất lúa đông xuân tại các tỉnh Đông Nam Bộ ước tính đạt 42,9 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha và sản lượng ước tính đạt 48,7 vạn tấn, tăng 13,7 nghìn tấn. Riêng các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, do thời tiết không thuận lợi khi trà đầu trỗ bông nên năng suất lúa trung bình ước tính đạt 49,6 tạ/ha, giảm 1,7 tạ/ha và sản lượng ước đạt 85,9 vạn tấn, giảm 31,6 nghìn tấn.
Đến nay, các địa phương phía Bắc cũng đã kết thúc gieo cấy lúa đông xuân với diện tích ước tính đạt 1158 nghìn ha, giảm 21,8 nghìn ha so với vụ đông xuân 2003, trong đó đồng bằng sông Hồng giảm 11,4 nghìn ha, các tỉnh miền núi giảm 6,5 nghìn ha và Bắc Trung Bộ giảm 3,9 nghìn ha.
Lúa hè thu: Tính đến 15/5 các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã gieo sạ được 1168,8 nghìn ha lúa hè thu chính vụ, bằng 96,3% cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh tiến độ gieo cấy chậm do thiếu nước như: Kiên Giang bằng 78%; Tiền Giang bằng 86%.
Rau, màu khác: Cũng đến trung tuần tháng 5, cả nước đã gieo trồng được 533,1 nghìn ha ngô, bằng 108,6%; 138,5 nghìn ha khoai lang bằng 86,5%; 185,3 nghìn ha lạc, bằng 108,8%; 87,3 nghìn ha đậu tương, bằng 121,6%; 16,1 nghìn ha thuốc lá, bằng 74,5% và 28,7 nghìn ha mía, bằng 83,7%.
Chăn nuôi: Theo báo cáo điều tra chăn nuôi 1/4/2004 đàn lợn cả nước hiện có khoảng 24,7 triệu con, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2003 và gần bằng đàn lợn 1/8/2003. Đàn lợn tăng do giá thực phẩm cao và sau dịch cúm gia cầm người dân đã chuyển hướng sang chăn nuôi lợn. Các địa phương đang tập trung triển khai khôi phục đàn gia cầm sau dịch cúm, khó khăn là giá con giống và thức ăn cao.
Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trong tháng 5 tập trung vào trồng, chăm sóc rừng trồng mới và quản lý, bảo vệ rừng hiện có, đồng thời duy trì công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Thời tiết trong tháng tương đối thuận đã tạo điều kiện cho công tác trồng và chăm sóc rừng. Diện tích rừng trồng tập trung tháng 5 bằng 100% cùng kỳ năm trước; diện tích rừng được chăm sóc bằng 101%. Tính chung 5 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung cả nước bằng 99% cùng kỳ 2003; diện tích rừng được chăm sóc bằng 100%; sản lượng gỗ khai thác bằng 99,2%.
Thuỷ sản
Thời tiết trong tháng 5 tương đối thuận, đồng thời vụ cá nam năm nay được mùa; chủng loại cá đánh bắt được phong phú, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao như: Cá thu, cá chim, cá ngừ đại dương… Sản lượng thuỷ sản khai thác trong tháng ước đạt 174 nghìn tấn tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 162 nghìn tấn tăng 6,6%.
Đến nay, các địa phương cũng đang bước vào thu hoạch tôm, cá nuôi vụ chính, tuy nhiên vẫn còn một số tỉnh phải tiếp tục thả lại tôm giống trên diện tích bị dịch bệnh trong những tháng trước. Hiện nay tôm giống khan hiếm, nên giá tôm giống tăng và hiện đang ở mức cao. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 69 nghìn tấn, tăng 6,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 8,6%; tôm tăng 5,9%.
Tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 1171,4 nghìn tấn, tăng 5,3% so cùng kỳ năm trước, trong đó thuỷ sản khai thác đạt 823,3 nghìn tấn, tăng 4,7%; thuỷ sản nuôi trồng 348,1 nghìn tấn, tăng 6,8%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng 5 tăng 14,4% so với cùng kỳ, do khu vực các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là các doanh Nhà nước địa phương quản lý tăng chậm hơn mức tăng trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm. Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực Nhà nước tháng 5 chỉ tăng 9% so với cùng kỳ (trung ương quản lý tăng 11,9% và địa phương quản lý chỉ tăng 3,4%); khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 23,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,1% (dầu khí tăng 3,1% và các ngành khác tăng 18,1%). Bên cạnh các sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn giữ được mức tăng cao so với tháng 5/2003 như: Than sạch khai thác, quần áo dệt kim, quần áo may sẵn, giấy bìa, phân hoá học, máy công cụ…, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của nền kinh tế tăng chậm, mức sản xuất đạt thấp như: Dầu thô ước tính chỉ tăng 0,7%; thép cán tăng 4%, xi măng tăng 5,9%; điện sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước trung ương, thuốc trừ sâu, động cơ diêsel, đông cơ điện, ô tô lắp ráp… thấp hơn mức sản xuất của tháng 5/2003; riêng đường mật giảm chỉ bằng 41,2%.
Tính chung 5 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính đạt 144,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 53,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% (trung ương quản lý đạt 36,4 nghìn tỷ, tăng 15,2%; địa phương quản lý đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8%); khu vực ngoài quốc doanh đạt 39,1 nghìn tỷ đồng, tăng 21,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 52,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14% (dầu, khí tăng 19% và các ngành khác tăng 12,2%). Tuy mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp đã dần chững lại, nhưng vẫn ở mức cao hơn 15% so với cùng kỳ năm trước.
Một số địa phương có qui mô lớn về sản xuất công nghiệp trên địa bàn có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ là: Hải Phòng tăng 16%; Vĩnh Phúc tăng 20,3%; Quảng Ninh tăng 15,5%; Bình Dương tăng 32,5%; Đồng Nai tăng 18,5%… Riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất cả nước (5 tháng chiếm 25,8% giá trị sản xuất công nghiệp) chỉ tăng 14,6%; Bà Rịa – Vũng Tàu chiếm 8,9% và chỉ tăng 0,5%.
Một số sản phẩm công nghiệp có tỷ trọng lớn vẫn giữ được mức tăng cao như: Than sạch khai thác ước đạt 10,4 triệu tấn, tăng 30,4%; dầu thô khai thác ước đạt 8,3 triệu tấn, tăng 12,8%; thủy sản chế biến tăng 18,4%; quần áo may sẵn tăng 18,7%; giấy, bìa tăng 26,6%; xà phòng các loại tăng 22,3%; gạch lát tăng 20,6%; máy công cụ tăng 33%; tivi lắp ráp tăng 25,3%; xe máy lắp ráp tăng 40,9%; xe đạp hoàn chỉnh tăng 130,5%; điện phát ra tăng 12,9% (đáng lưu ý là điện sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước trung ương chiếm tỷ trong 85,7% nhưng chỉ tăng 0,8%)… Bên cạnh những sản phẩm tăng cao và ổn định, trong 5 tháng qua do giá nhập khẩu một số nguyên liệu đầu vào như xăng dầu, sắt thép, sợi dệt, chất dẻo… tăng cao đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và khó khăn trong tiêu thụ nên còn một số sản phẩm tăng chậm so với cùng kỳ như: Vải lụa tăng 9,8%; xi măng tăng 7,8%; máy biến thế tăng 7,3%; ô tô lắp ráp tăng 2,1%; thuốc viên các loại tăng 1,1%,… và các sản phẩm giảm so với 5 tháng 2003 như: Đường mật, thép cán, thuốc trừ sâu, động cơ diesel, động cơ điện, quạt dân dụng…
3. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 5 tháng đầu năm 2004 ước đạt 14719,4 tỷ đồng, đạt 39,7% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 5618 tỷ đồng, đạt 43,2% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 2400,6 tỷ đồng (chiếm 42,7% tổng vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện trong 5 tháng), đạt 49,1% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 601,4 tỷ đồng, đạt 38,1%; Bộ Y tế 202,1 tỷ đồng, đạt 29,2%, Bộ Giáo dục và Đào tạo 109,5 tỷ đồng, đạt 27,0%; Bộ Văn hoá Thông tin 84 tỷ đồng, đạt 31,5%…
Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung do địa phương quản lý ước thực hiện 9100,7 tỷ đồng, đạt 37,8% kế hoạch năm, trong đó: Hà Nội 834 tỷ đồng đạt 33,4%; thành phố Hồ Chí Minh 1787,7 tỷ đồng, đạt 28,8%; Hải Phòng 370,2 tỷ đồng, đạt 40,4%; Thanh Hoá 201,5 tỷ đồng, đạt 33,3%; Khánh Hoà 170,5 tỷ, đạt 33,2%; Đồng Nai 227,6 tỷ đồng, đạt 34,5%; Tiền Giang 137,5 tỷ đồng, đạt 41,3%…
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài: 5 tháng đầu năm có 188 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 621,5 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước giảm 20% về số dự án và giảm 1,9% về vốn đăng ký. Các ngành công nghiệp và xây dựng có 125 dự án với số vốn đăng ký 348 triệu USD, chiếm 66,5% về số dự án và 56% về vốn đăng ký. Các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 24 dự án với số vốn đăng ký 155,4 triệu USD, chiếm 12,8% về số dự án và 25% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 39 dự án với số vốn đăng ký 118,1 triệu USD, chiếm 20,7% về số dự án và 19,0% về vốn đăng ký.
Số dự án được cấp phép trong 5 tháng ở các tỉnh và thành phố phía Nam nhiều hơn so với các tỉnh và thành phố phía Bắc, nhưng số vốn đăng ký thấp hơn: Các tỉnh thành phố phía Nam có 127 dự án với số vốn đăng ký là 295,0 triệu USD, chiếm 67,6% về số dự án và 47,5% về vốn đăng ký; Các tỉnh phía Bắc có 61 dự án với số vốn 326,5 triệu USD, chiếm 32,4% về số dự án và 52,5% về vốn đăng ký. Trong các địa phương có dự án đầu tư được cấp phép, Thái Nguyên tuy có 3 dự án được cấp phép nhưng số vốn đăng ký là 147,7 triệu USD, là số vốn đăng ký lớn nhất trong các địa phương và bình quân mỗi dự án gần 50 triệu USD; thành phố Hồ Chí Minh có 75 dự án với vốn 74,9 triệu USD; Bình Dương 25 dự án với vốn 100,3 triệu USD; Đồng Nai 11 dự án với vốn 74,3 triệu USD; Hà Nội có 23 dự án với 33,8 triệu USD; Vĩnh Phúc 9 dự án với 36,5 triệu USD; Lạng Sơn có 4 dự án với 39,5 triệu USD; Hải Dương 5 dự án với 22,2 triệu USD; Quảng Ninh 3 dự án với 11,6 triệu USD…
Theo đối tác đầu tư, Đài Loan đứng đầu về vốn đăng ký với 34 dự án và 176,4 triệu USD; tiếp theo là Ca-na-đa với 5 dự án và 150 triệu USD; Hàn Quốc 53 dự án và 98,5 triệu USD; Nhật Bản 14 dự án và 46,3 triệu USD; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 12 dự án và 31,7 triệu USD; Mỹ 9 dự án và 25,6 triệu USD; Ôx-trây-li-a 4 dự án và 21,6 triệu USD; CH Liên bang Nga 4 dự án và 18,4 triệu USD; Trung Quốc 17 dự án và 18 triệu USD…
4. Vận tải
Vận chuyển hành khách 5 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 390,9 triệu lượt hành khách và 17,3 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,8% về lượt hành khách và tăng 10,8% về lượt hành khách.km. Trong các loại hình, vận chuyển hành khách bằng đường sắt tăng 5,2% và tăng 4,8%; bằng đường bộ tăng 6,1% và tăng 6,9%; bằng đường không tăng 21,7% và tăng 33,4%.
Vận chuyển hàng hoá 5 tháng ước đạt 106,9 triệu tấn và 22,8 tỷ tấn.km, tăng 5% về tấn và tăng 7,6% về tấn.km so với 5 tháng đầu 2003, trong đó vận chuyển hàng hoá bằng tất cả các loại đường đều tăng cả hai chỉ số: Vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt tăng 11,2% và tăng 12%; bằng đường bộ tăng 4,8% và tăng 5,8%; bằng đường biển tăng 6,4% và tăng 7,8%; bằng đường sông tăng 4,1% và tăng 7%; bằng hàng không tăng 17,8% và tăng 15,2%.
Nhìn chung, hoạt động vận tải đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân, song ngành vận tải cần có những biện pháp hữu hiệu để đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại tăng lên của dân cư trong mùa thi vào các trường đại học và cao đẳng cũng như nhu cầu đi du lịch, tham quan trong mùa hè sắp tới.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 5 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 147,7 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 23,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,2%; kinh tế cá thể đạt 93,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2%; kinh tế tư nhân đạt 26 nghìn tỷ đồng, tăng 31,5%. Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 81,4% tổng mức bán lẻ, tăng 19,6%; khách sạn nhà hàng chiếm 12,3%, tăng 9,7%; dịch vụ chiếm 5,6% tăng không đáng kể.
Giá tiêu dùng tháng 5/2004 tăng 0,9% so với tháng trước, chủ yếu do tăng giá nhóm lương thực, thực phẩm; các nhóm hàng ngoài lương thực, thực phẩm (trừ giá dược phẩm và dịch vụ y tế tăng 1%) tăng nhẹ và ảnh hưởng không đáng kể vào tăng giá tiêu dùng: Giá lương thực, thực phẩm tăng 1,8% (trong đó lương thực tăng 2,3%; thực phẩm tăng 1,8%); Các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng nhẹ từ 0,1-0,4%. So với tháng 12 năm 2003, giá tiêu dùng tháng 5/2004 tăng 6,3%. Giá của nhóm lương thực, thực phẩm tăng 11,5% (trong đó lương thực tăng 10,9%; thực phẩm tăng 12,6%) vẫn là nhóm hàng hoá có ảnh hưởng lớn đến tăng giá tiêu dùng trong 5 tháng qua; nhóm dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 6,7%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 5%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,3%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,9%… Tính chung 5 tháng, giá tiêu dùng so với cùng kỳ năm trước tăng 5,2%.
Giá vàng tháng 5/2004 giảm 4,1% so với tháng trước và tăng 0,5% so với tháng 12/2003. Tương tự giá đô la Mỹ giảm 0,3% và tăng 0,2%.
Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2004 ước đạt 9,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, bình quân một tháng đạt 1,9 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 7,5 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 8,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,2 tỷ USD, tăng 28,9%. Xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng có thống kê về lượng đều tăng cả về kim ngạch và khối lượng xuất khẩu: Dầu thô tăng 21,3% về kim ngạch và tăng 10,9% về khối lượng xuất khẩu; than đá tăng 54,9% và tăng 48,7%; cà phê tăng 36,1% và tăng 42,2%; hạt tiêu tăng 16,8% và tăng 19,9%; hạt điều tăng 24,4% và tăng 14,5%; gạo tăng 17,2% và lượng xấp xỉ cùng kỳ… Kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng 6,9%; giày dép tăng 10,8%; điện tử, máy tính tăng 31%; thủ công mỹ nghệ tăng 7,2%; thuỷ sản tăng 1,7%…
Kim ngạch nhập khẩu 5 tháng ước đạt 11,5 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 7,5 tỷ USD, tăng 12,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4 tỷ USD, tăng 13,9%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất trong nước tăng khá như: Xăng dầu tăng 20,8%; sắt thép tăng 21,8%; phân bón tăng 23,1%; chất dẻo tăng 40,3%; hoá chất 23,6%; thuốc trừ sâu tăng 14,3%… Đáng lưu ý là giá nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo đều tăng cao so với cùng kỳ và kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 14,5%. Nhập siêu 5 tháng đầu năm nay ước khoảng 2 tỷ USD, bằng 20,5% kim ngạch xuất khẩu.
Khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm 2004 ước đạt 1,2 triệu lượt người, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 608,7 nghìn lượt người (chiếm 52,7% tổng số khách), tăng 20,4%; vì công việc 206,1 nghìn lượt người, tăng 23,5%; thăm thân nhân 199,1 nghìn lượt người, tăng 23,8%; vì các mục đích khác 141,5 nghìn lượt người, tăng 5,6%.
Khách đến Việt Nam nhiều nhất là từ CHND Trung Hoa: 318,4 nghìn lượt người, tăng 20,7%; tiếp theo từ Mỹ 117,5 nghìn người, tăng 22,5%; Đài Loan 101,4 nghìn lượt người, tăng 37,5%; Nhật Bản 94,1 nghìn lượt người, giảm 5,4%; Hàn Quốc 79,2 nghìn lựơt người, tăng 78,8%; Ô-xtrây-li- a 50,7 nghìn lượt người, tăng 35,8%, Pháp 41 nghìn lượt người, bằng 100% cùng kỳ năm trước…
6. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách 5 tháng ước tính đạt 41,3% dự toán cả năm; trong đó thu nội địa đạt 41,3%, thu từ dầu thô đạt 49,5%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 36,0%. Một số khoản thu nội địa đạt cao như: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 42,7% dự toán cả năm; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 43,7%; thu thuế thu nhập với người có thu nhập cao đạt 45,2%. Riêng thu từ doanh nghiệp nhà nước mới đạt 37,2% dự toán cả năm.
Tổng chi ngân sách nhà nước 5 tháng đầu năm ước đạt 36,1% dự toán cả năm; trong đó chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội (chi thường xuyên) đạt 43,3%; chi đầu tư phát triển đạt 30,5%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đều đạt khá: Chi giáo dục- đào tạo đạt 43%, chi y tế đạt 42,6%, chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 43%, chi sự nghiệp kinh tế đạt 45,4%. Bội chi ngân sách 5 tháng bằng 17,2% mức bội chi ngân sách cả năm Quốc hội cho phép và được cân đối chủ yếu bằng nguồn vay trong nước.
7. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, trong tháng (tính đến 20/5) có 157,4 nghìn lượt hộ với khoảng 70 vạn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,4% số hộ và 1,3% số nhân khẩu nông nghiệp. So với tháng trước, số hộ thiếu đói giảm 10% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 9,7%; so với cùng kỳ năm 2003, số hộ và số nhân khẩu thiếu đói giảm khoảng 20%. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 3,6 nghìn tấn lương thực và 6,4 tỷ đồng, trong đó riêng tháng Năm là 1 nghìn tấn lương thực và trên 600 triệu đồng.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 5/2004 có 6 nghìn người mắc bệnh sốt rét; 1,7 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 4 người chết và 43 trường hợp bị bệnh viêm não do vi rút, trong đó 1 trường hợp đã chết. Tính từ đầu năm đến 19/5/2004, trong cả nước có 32,9 nghìn người mắc bệnh sốt rét, trong đó chết 5 người; 11,9 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó chết 19 người và 300 trường hợp bị bệnh viêm não do vi rút, trong đó chết 19 người.
Cũng trong tháng 5, đã xảy ra 7 vụ ngộ độc thực phẩm với 64 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 6 người đã chết, nâng tổng số người bị ngộ độc thực phẩm từ đầu năm đến nay lên 405 người, trong đó 27 người đã tử vong.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 5/2004 đã phát hiện thêm 977 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/5/2004 lên 80,9 nghìn người, trong đó có 12,6 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 7,1 nghìn người đã chết do AIDS.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 4/2004, trong cả nước đã xảy ra gần 1,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 0,9 nghìn người và làm bị thương 1,2 nghìn người. So với tháng trước, giảm ở cả ba loại chỉ số: Số vụ tai nạn giao thông giảm 4,1%; số người chết giảm 7,6% và số người bị thương giảm 5,3%. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 15,5%; số người bị thương giảm 27,4%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 6,4 nghìn vụ tai nạn giao thông làm chết 4,2 nghìn người và làm bị thương 5,9 nghìn người. So với cùng kỳ năm 2003, số vụ tai nạn giao thông 4 tháng đầu năm nay giảm 24,1%; số người bị thương giảm 35,5%; riêng số người chết tăng 4,1%. Bình quân mỗi ngày trong 4 tháng đầu năm xảy ra 53 vụ tai nạn, làm chết 34 người và làm bị thương 49 người. Tai nạn giao thông xảy ra trong 4 tháng đầu năm chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ: chiếm tới 96,7% số vụ; 97% số người chết và 98,7% số người bị thương.
Thiệt hại do thiên tai
Từ cuối tháng 4 đến trung tuần tháng 5/2004, tại Phú Thọ, Lào Cai, Bắc Kạn, Điện Biên, Thanh Hoá, Nghệ An, Đắk Lắk, Trà Vinh, Tây Ninh, Hậu Giang, Sóc Trăng và Cà Mau đã xảy ra tình trạng mưa to, gió lốc và mưa đá gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai làm 3 người chết; 48 người bị thương; 2 nghìn mét đê bị sạt lở; khoảng 5 nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại; 500 ngôi nhà bị sập đổ và khoảng 2 nghìn nhà bị tốc mái. Ước tính thiệt hại trên 9 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ