1. Sản xuất nông nghiệp
Hiện nay các địa phương phía nam đang tập trung thu hoạch lúa đông xuân đại trà. Tuy một số địa phương bị hạn kéo dài nhưng kết quả thu hoạch cho thấy vụ đông xuân này ở phía nam vẫn được mùa với năng suất ước tính đạt 53,9 tạ/ha, tăng 4,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước và sản lượng có thể đạt khoảng 10 triệu tấn, tăng 75 vạn tấn. Riêng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản thu hoạch xong với năng suất bình quân 55,9 tạ/ha, tăng 5 tạ/ha và sản lượng gần 8,5 triệu tấn, tăng trên 71 vạn tấn so với vụ đông xuân 2001 (Tiền Giang năng suất bình quân 61,3 tạ/ha, tăng 5,5 tạ/ha và sản lượng đạt 55,4 vạn tấn, tăng 5 vạn tấn; Sóc Trăng 50,5 tạ/ha, tăng 5,7 tạ/ha và sản lượng đạt 70,9 vạn tấn, tăng 10,7 vạn tấn).
Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, đến ngày 15/5 các địa phương phía nam còn gieo xạ được 1166,7 nghìn ha lúa hè thu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo xạ 1047,7 nghìn ha (An Giang 210 nghìn ha; Đồng Tháp 175 nghìn ha; Long An 85 nghìn ha…). Tuy nhiên, so với vụ hè thu năm trước thì tiến độ gieo cấy vụ hè thu năm nay của nhiều địa phương chậm hơn, chủ yếu do hạn hán.
Cũng đến trung tuần tháng 5, cả nước còn gieo trồng được 439,2 nghìn ha ngô, bằng 99% cùng kỳ năm trước; 183,7 nghìn ha khoai lang, bằng 95,8%; 149,3 nghìn ha sắn, bằng 96%; 167,1 nghìn ha lạc, bằng 99,8%; 68,8 nghìn ha đậu tương, bằng 124,9%; trồng mới 58,4 nghìn ha mía, bằng 274,2% và 353,2 nghìn ha rau đậu, bằng 105,7%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm ước tính tăng 14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,4% (Trung ương quản lý tăng 12%; địa phương quản lý tăng 10,1%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,6% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 0,8%; các doanh nghiệp khác tăng 21%). Từ đầu năm đến nay, một số tỉnh và thành phố có quy mô công nghiệp tương đối lớn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá nên tính chung 5 tháng đầu năm các địa phương này đạt độ tăng cao hơn tốc độ tăng bình quân của cả nước: Hà Nội tăng 26%; Hải Phòng tăng 24,6%; Hà Tây tăng 22%; Hải Dương tăng 44%; Quảng Ninh tăng 17,1%; Đà Nẵng tăng 16,8%; Khánh Hòa tăng 28,5%; Bình Dương tăng 31,6%; Đồng Nai tăng 16,3%. Bên cạnh đó, tăng trưởng công nghiệp 5 tháng của một số địa phương khác lại chỉ đạt mức thấp, thậm chí còn giảm sút so với 5 tháng đầu năm 2001: Thành phố Hồ Chí Minh chỉ tăng 9,4%; Cần Thơ tăng 6,6%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,3%. Những sản phẩm đạt tốc độ tăng cao so với 5 tháng/2001 là: Điện tăng 16,1%; than sạch tăng 26,1%; xi măng tăng 27,1%; thép cán tăng 20,8%; động cơ diezen tăng 20,6%; máy biến thế tăng 44%; ti vi lắp ráp tăng 23,1%; ô tô lắp ráp tăng 47%; xe máy lắp ráp tăng 47,8%; xe đạp tăng 48,3%; thuỷ sản chế biến tăng 18,8%.
3. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 5 tháng đầu năm 2002 ước tính đạt 8296,3 tỷ đồng, bằng 38,2% kế hoạch năm và tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó trung ương quản lý đạt 5300,1 tỷ đồng, bằng 40,1% kế hoạch năm; địa phương quản lý đạt 2996,2 tỷ đồng, bằng 35,3%. Nhìn chung công tác đầu tư và xây dựng 5 tháng qua có một số tiến bộ so với cùng kỳ năm trước, nổi bật là tiến độ thi công của nhiều công trình chuyển tiếp được đẩy nhanh hơn và thời gian chuẩn bị thi công của một số dự án xây dựng mới cũng được rút ngắn hơn.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ 1/1- 20/5/2002 đã cấp giấy phép cho 209 dự án với tổng số vốn đăng ký 393,8 triệu USD, tuy tăng 20 dự án nhưng số vốn đăng ký chỉ bằng 73,9% cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp và xây dựng có 164 dự án với vốn đăng ký 322,6 triệu USD, chiếm 78,5% về số dự án và 82% về vốn đăng ký; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 13 dự án với số vốn đăng ký 27,2 triệu USD, chiếm 6,2% về dự án và 6,9% về vốn đăng ký.
Nếu theo địa phương thì có tới 164 dự án với số vốn đăng ký 291,3 triệu USD tập trung ở các tỉnh, thành phố phía nam, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 71 dự án với số vốn đăng ký 57 triệu USD; Đồng Nai 27 dự án và 96,9 triệu USD; Bình Dương 36 dự án và 50,3 triệu USD… Các tỉnh phía bắc có 45 dự án với số vốn đăng ký 102,5 triệu USD, trong đó Hà Nội 11 dự án với số vốn đăng ký 37,6 triệu USD; Hải Phòng 10 dự án và 19,7 triệu USD; Hà Tây 5 dự án và 9,8 triệu USD; Lạng Sơn 2 dự án và 9 triệu USD; Quảng Ninh 4 dự án và 9,3 triệu USD; Hải Dương 3 dự án và 5,4 triệu USD…
4. Thương mại và giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2002 tăng 0,3% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,7% (Lương thực giảm 0,5%; thực phẩm tăng 1,3%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,4%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,3%; dược phẩm, y tế tăng 0,2%; thiết bị và đồ dùng gia đình giữ mức tháng trước; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại giảm 0,1-0,2%. Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,8%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 5,5%; giáo dục giảm 1,1%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,3%; phương tiện đi lại, bưu điện không tăng; các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng trên dưới 1%. Chỉ số giá vàng tháng 5/2002 tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 11,6% so với tháng 12/2001; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,2% và tăng 1%.
Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng ước tính đạt 5885 triệu USD, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 3054 triệu USD, giảm 8,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 2831 triệu USD, giảm 4,6%. Mặc dù tháng 5 tình hình xuất khẩu đã được cải thiện hơn so với 4 tháng đầu năm nhưng tính chung 5 tháng vẫn có nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm sút so với cùng kỳ năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô 5 tháng giảm 17,7%; hàng thuỷ sản giảm 5,3%; hàng điện tử, máy tính giảm 31,1%; rau quả giảm 39,2%; cà phê giảm 45%; hạt tiêu giảm 26,1%… Tuy nhiên, 5 tháng đầu năm nay có một số mặt hàng đạt tốc độ tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Cao su tăng 53,6% về lượng và tăng 36,1% về giá trị; than đá tăng 22,6% và tăng 36,4%; chè tăng 26,6% và tăng 15,6%. Ngoài ra, còn một số mặt hàng khác cũng tăng đáng kể về giá trị xuất khẩu so với 5 tháng đầu năm 2001 như: Hàng thủ công mỹ nghệ tăng 36%; giày dép tăng 10,1%; hàng dệt may tăng 7,7%.
Kim ngạch nhập khẩu 5 tháng ước tính đạt 6847 triệu USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 4485 triệu USD, tăng 2,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 2362 triệu USD, tăng 15,3%. Một số mặt hàng nhập khẩu 5 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm trước là: Sắt thép tăng 20,7% về lượng và tăng 14% về giá trị; tương tự, phân bón tăng 24% và tăng 16%; chất dẻo tăng 30,5% và tăng 16,9%; sản phẩm hoá chất tăng 16,2% và tăng 22,5%; sợi dệt tăng 33% và tăng 20,3%, giá trị máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 21,9%; giá trị thuốc trừ sâu tăng 32,9%. Nhập siêu 5 tháng 962 triệu USD, bằng 16,3% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1431 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 469 triệu USD.
5. Ngân sách Nhà nước
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách 5 tháng ước tính đạt 43,5% tổng dự toán cả năm và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu từ doanh nghiệp Nhà ước đạt 39,1% và tăng 6,1%; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 40,5% và tăng 7,3%; thu từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (Không tính dầu thô) đạt 43% và tăng 13,2%; thu từ xuất khẩu, nhập khẩu đạt 43,2% và tăng 31,5%; thu từ dầu thô đạt 49,5%, nhưng chỉ bằng 89,1% cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá bán dầu thô 3 tháng đầu năm thấp nên mặc dù tháng 4 giá bán dầu thô của nước ta đã đạt 165,8 USD/tấn và tháng 5 đạt 198,8 USD/tấn, nhưng giá bán bình quân trong 5 tháng cũng chỉ đạt 158,2 USD/tấn.
Tổng chi ngân sách 5 tháng ước tính đạt 37,8% dự toán cả năm và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 36,7% và tăng 42%; chi giáo dục, đào tạo đạt 44,2% và tăng 7,4%; chi y tế đạt 44,3% và tăng 6,8%; chi văn hoá, thông tin đạt 44% và tăng 7,1%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 45,4% và tăng 9,7%. Bội chi ngân sách 5 tháng ước tính bằng 9,7% tổng số chi và bằng 18,2% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó 55,4% được bù đắp bằng vay trong nước và 44,6% còn lại bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.
6. Một số vấn đề xã hội
Tình hình chuẩn bị thi tốt nghiệp: Đến giữa tháng 5, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương trong cả nước đã cơ bản hoàn thành việc phổ biến các môn thi, qui chế, kế hoạch thi và chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cho các kỳ thi tốt nghiệp các cấp học phổ thông năm học 2001-2002, cũng như các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Theo báo cáo sơ bộ, năm học 2001-2002 cả nước có gần 1,9 triệu học sinh thi tốt nghiệp cấp tiểu học, giảm 1,1% so với năm học trước; 1,2 triệu học sinh thi tốt nghiệp trung học cơ sở, tăng 2,1% và 670 nghìn hoc sinh thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 3,2%.
Hoạt động văn hóa thông tin: Trong tháng 5/2002, hoạt động văn hoá thông tin tập trung vào tuyên truyền phục vụ bầu cử Quốc hội khoá XI, mừng ngày giải phóng miền Nam, ngày Quốc tế Lao động 1/5 và 112 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền bầu cử được tổ chức sâu rộng trong cả nước với nhiều hình thức phong phú từ trung ương đến cơ sở xã, phường. Nhiều đội thông tin lưu động đã tới các làng bản vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, đồng bào công giáo để tuyên truyền bầu cử và biểu diễn nghệ thuật. Ngoài ra, trong tháng 5 đã tổ chức thành công chương trình Festival Huế 2002. Có 9 quốc gia trong khu vực và trên thế giới tham dự lễ hội với nhiều tiết mục đặc sắc. Nước ta đã có một số tiết mục quy mô lớn như: Trình diễn áo dài Việt Nam với sự tham gia của 11 nhà tạo mẫu và 550 nữ sinh Đồng Khánh, thả diều nghệ thuật Huế, đua thuyền sông Hương. Các nước khác đã biểu diễn thành công nhiều tiết mục văn hoá nghệ thuật truyền thống như: Vũ nhạc truyền thống Lào, múa Campuchia, kinh kịch Trung Quốc… Festival Huế 2002 đã thu hút được đông đảo quần chúng cũng như khách du lịch trong nước và quốc tế.
Thiếu đói giáp hạt: Do ảnh hưởng của hạn hán nên mặc dù đã bước vào thu hoạch lúa đông xuân nhưng theo báo cáo của 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì tại thời điểm 20/5/2002 khu vực nông thôn của các địa phương này đã có 300,6 nghìn hộ với 1367,8 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, trong đó có 80,1 nghìn hộ với 328 nghìn nhân khẩu thiếu đói gay gắt. Để giúp đỡ các hộ trong diện thiếu đói, trước hết là những hộ thiếu đói gay gắt khắc phục khó khăn, trong tháng 5 các địa phương đã trợ cấp cho các hộ này trên 2,1 nghìn tấn lương thực và gần 2 tỷ đồng.
Dịch bệnh: Trong tháng 5/2002, số người mắc một số bệnh gây dịch tăng hơn tháng trước: Bệnh sốt rét có 12,2 nghìn lượt người mắc, tăng 2,3 nghìn lượt người; bệnh tiêu chảy 18,6 nghìn lượt người, tăng 224 lượt người; sốt xuất huyết 496 lượt người, tăng 53 lượt người. Tính chung từ đầu năm đến 18/5/2002, cả nước có 60 nghìn lượt người bị sốt rét; 281,9 nghìn lượt người bị bệnh tiêu chảy; 2,6 nghìn lượt người sốt xuất huyết; 1614 lượt người bị thương hàn. Cũng trong tháng 5/2002, cả nước phát hiện thêm 1583 người bị nhiễm HIV, tăng 348 người so với tháng trước; 330 bệnh nhân AIDS, tăng 172 bệnh nhân và 107 người bị chết do AIDS, tăng 30 người. Như vậy, tổng số người bị nhiễm HIV của cả nước đã được phát hiện từ trường hợp đầu tiên đến ngày 18/5/2002 đã lên tới 49675 người, trong đó có 7262 bệnh nhân AIDS và 3908 người đã chết do AIDS.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ