1. Sản xuất nông nghiệp.
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng này là gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân. Tính đến 15 tháng 4, các địa phương phía Bắc đã cơ bản kết thúc gieo cấy lúa đông xuân, đạt 1172 nghìn ha, xấp xỉ vụ đông xuân 2002. Một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng tiếp tục chuyển đổi diện tích lúa đông xuân cho năng suất thấp sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn hoặc nuôi trồng thuỷ sản và xây dựng các khu công nghiệp (Thái Bình giảm 515 ha; Hà Tây giảm 880 ha; Hải Dương giảm 980 ha; Hải Phòng giảm 595 ha).
Cũng đến trung tuần tháng 4, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1666,7 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 90% diện tích gieo cấy và bằng 107,5% cùng kỳ năm trước, riêng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản thu hoạch xong 1468,4 nghìn ha, đạt 98% diện tích gieo cấy và tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa đông xuân của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ước tính 56 tạ/ha, giảm hơn 1tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước do một số địa phương bị ảnh hưởng sâu bệnh và thời tiết diễn biến không thuận như An Giang năng suất ước đạt 64,1 tạ/ha, giảm 1,3 tạ/ha; Cần Thơ 62 tạ/ha, giảm 1,4 tạ/ha; Tiền Giang 59 tạ/ha, giảm 2,3 tạ/ha.
Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam còn gieo sạ được 732,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 162,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 695,5 nghìn ha, bằng 168,4%.
Đến ngày 15 tháng 4 cả nước đã gieo trồng được 405,5 nghìn ha ngô, bằng 116,8% cùng kỳ; sắn 142 nghìn ha, bằng 119%; lạc 164,7 nghìn ha, bằng 101,3%; đậu tương 65,3 nghìn ha, bằng 104,6%; rau đậu 334,6 nghìn ha, bằng 103,3%. Gieo trồng một số cây đạt thấp so với cùng kỳ năm trước như khoai lang 152,4 nghìn ha, bằng 88,5%; thuốc lá 21,2 nghìn ha, bằng 93,4%; riêng mía do ảnh hưởng nắng hạn nên chỉ đạt 32,3 nghìn ha, bằng 57,6%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2003 ước tính tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,2% (Trung ương quản lý tăng 12,3%, địa phương quản lý tăng 12,1%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 18,9% và khu vực có vốn đầu từ nước ngoài tăng 16,6% (trong đó: Dầu mỏ và khí đốt tăng 10,6%; các ngành khác tăng 19%).
Các tỉnh, thành phố có qui mô công nghiệp trên địa bàn lớn, có mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng so với cùng kỳ cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Bình Dương tăng 35,2%; Hà Nội tăng 25,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,6%; Đồng Nai tăng 16,9%. Đáng chú ý là giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Bà Rịa-Vũng Tàu (chiếm tỷ trọng khoảng 11% tổng giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng) tăng 9,8% (4 tháng năm 2002 giảm khoảng 2% so với cùng kỳ 2001).
Trong tháng 4 năm 2003, nhiều sản phẩm công nghiệp có mức tăng trưởng cao trong quý I vẫn tiếp tục ổn định và tăng trưởng cao và ngành dầu khí 4 tháng đầu năm nay đã tăng trở lại ở mức 10,6% (4 tháng năm 2002 giảm 0,2% so với cùng kỳ) là yếu tố quyết định mức độ tăng trưởng công nghiệp 4 tháng đầu năm nay.
Có tới 29 trong tổng số 34 sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất 4 tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước: trong đó các sản phẩm quan trọng như dầu thô tăng 8,5%, xi măng tăng 16,6%; điện tăng 16,1% và có 15 sản phẩm có mức tăng trên 20% là: Thuỷ sản chế biến tăng 20,5%; bột ngọt tăng 26,7%; đường mật tăng 42,7%; quần áo dệt kim tăng 39,6%; quần áo may sẵn tăng 65,9%; sứ vệ sinh tăng 35,5%; thép cán tăng 24,8%; máy công cụ tăng 27,9%; động cơ diezen tăng 159,8%; động cơ điện tăng 48,1%; Ắc qui tăng 29,4%; quạt điện dân dụng tăng 45,9%; tivi lắp ráp tăng 27,8%; ô tô lắp ráp tăng 48%; xe máy lắp ráp tăng 21,3%. Sản phẩm sữa, chè … tháng 4 có giảm, do ảnh hưởng của thị trường I Rắc, nhưng không nhiều.

3. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 4 tháng đầu năm 2003 được trên 6,9 nghìn tỷ đồng, đạt 31,1% kế hoạch năm, trong đó trung ương thực hiện gần 3,8 nghìn tỷ đồng, đạt 32,1% kế hoạch, địa phương thực hiện 3,1 nghìn tỷ đồng, đạt 30,1% kế hoạch.
Nhìn chung hoạt động đầu tư và xây dựng 4 tháng đầu năm ở cả Trung ương và địa phương đều có tiến bộ trên một số mặt : công tác chuẩn bị đầu tư, tổ chức đấu thầu, thanh quyết toán khối lượng hoàn thành và triển khai kế hoạch vốn xuống công trình đều sớm hơn năm trước. Tuy nhiên, việc giải phóng mặt bằng ở một số công trình trọng điểm chậm so với kế hoạch là khó khăn và tồn tại lớn trong công tác đầu tư xây dựng hiện nay, đã làm ảnh hưởng tới tiến độ thi công công trình.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 21/4/2003 đã cấp giấy phép cho 184 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 382,1 triệu USD; So với cùng kỳ năm trước số dự án bằng 86% và số vốn bằng 98%. Trong đó ngành công nghiệp, xây dựng với 146 dự án với số vốn đăng ký 295 triệu USD, chiếm 79,3% về số dự án và chiếm 77,2% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 9 dự án với số vốn đăng ký 15,7 triệu USD, chiếm 4,9% về số dự án và 4,1% về vốn đăng ký.
Các dự án vẫn tập trung phần lớn vào các tỉnh, thành phố phía Nam với 132 dự án, vốn đăng ký đạt 262 triệu USD, chiếm 71,7% về số dự án và 68,6% về vốn đăng ký. Trong đó Bình Dương 34 dự án với vốn 68,4 triệu USD; Đồng Nai có 18 dự án với vốn gần 56 triệu USD; Thành phố Hồ Chí Minh 44 dự án với vốn 29,6 triệu USD… Các tỉnh phía Bắc chỉ có 52 dự án với số vốn 120,1 triệu USD, chiếm 28,3% về dự án và 31.4% về vốn. Hà Nội có 12 dự án với 11,6 triệu USD, Hải Phòng 11 dự án với 29,3 triệu USD, Vĩnh Phúc 7 dự án với 26 triệu USD, Phú Thọ có 4 dự án với 13,3 triệu USD, Hải Dương có 4 dự án với 10,4 triệu USD , Quảng Ninh 2 dự án với 11,2 triệu USD…
Theo đối tác đầu tư, Đài Loan đứng đầu về cả số dự án và vốn đăng ký: 54 dự án và 108,3 triệu USD; Hàn Quốc 45 dự án và 70,4 triệu USD;; Đặc khu hành chính Hồng Công(TQ) 13 dự án và 27,1 triệu USD; Trung Quốc 15 dự án và 26,1 triệu USD; Singapo 7 dự án và 34,5 triệu USD; Mỹ 5 dự án và 12,5 triệu USD; Nhật Bản 8 dự án và 9,8 triệu USD….
4. Vận tải.
Vận chuyển hành khách, 4 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 297,8 triệu lượt hành khách và 11,1 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,7% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,4% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển hàng hoá đạt trên 55,7 triệu tấn và 16,7 tỷ tấn.km, tăng 4,3% về khối lượng vận chuyển và 0,4% về khối lượng luân chuyển. Khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng thấp do vận chuyển bằng đường biển ( chiếm trên 70% tổng số) giảm 1% so với cùng kỳ năm truớc, chủ yếu do ảnh hưởng của chiến tranh Irắc nên vận tải biển tuyến Trung Đông bị ngưng trệ.
5. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt khoảng 99,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 16,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,9%; khu vực kinh tế tập thể tăng 21,4%; khu vực kinh tế cá thể chiếm 65,3% tổng mức tăng 9,7%; khu vực kinh tế tư nhân tăng 19,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,0%.
Giá tiêu dùng tháng 4/2003 không tăng so với tháng trước, nhưng có biến động theo chiều khác nhau trong các nhóm và phân nhóm: lương thực, thực phẩm giảm 0,3% (Lương thực giảm 0,6%; thực phẩm giảm 0,2%); nhóm đồ uống, thuốc lá và nhóm phương tiện đi lại, bưu điện đều giảm 0,2% trong khi nhóm dược phẩm, y tế tăng 2,6% so với tháng trước; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng đều tăng 0,4%; các nhóm còn lại tăng giảm không đáng kể.
So với tháng 12/2002, giá tiêu dùng tháng 4/2003 tăng 2,5% với tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm; đồ uống và thuốc lá; phương tiện đi lại, bưu điện tăng ở mức 2,2% đến 2,4%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 3,4%; đặc biệt là nhóm dược phẩm, y tế tăng 12,2%.
Giá vàng tháng 4/2003 giảm 3,1% so với tháng trước và tăng 5,9% so với tháng 12/2002; giá đô la Mỹ tăng 0,1% và tăng 0,5%.
Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt trên 6,2 tỷ USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu hơn 2,9 tỷ USD, tăng 22,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu gần 3,3 tỷ USD, tăng 50,8%. Khoảng 70% tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu là do đóng góp của các mặt hàng dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản. So với cùng kỳ năm trước kim ngạch xuất khẩu dầu thô 4 tháng năm 2003 tăng 52,5% (lượng xuất khẩu chỉ tăng 6,5%); hàng dệt, may tăng 71,9%; giày dép tăng 26,8%; hàng thuỷ sản tăng 15,9%; hàng điện tử, máy tính tăng 34,7%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản tăng khá so với 4 tháng đầu năm ngoái như gạo tăng 28,6% (lượng xuất khẩu tăng tới 59,2%); cà phê tăng 41,6% (lượng xuất khẩu giảm 28,3%); cao su tăng 55,9% (lượng xuất khẩu giảm 0,3%); hạt điều tăng 45,8%. Đáng chú ý là ngoài giá gạo giảm so với cùng kỳ, các mặt hàng nông sản xuất khẩu của ta đang được giá, nhất là cà phê và cao su. Tuy nhiên, có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm khoảng 1/4 so với cùng kỳ như: rau quả, hạt tiêu và lạc.
Kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt hơn 7,2 tỷ USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước (nhập khẩu khoảng 65%) tăng 33,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 36,6%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 27,7%; xăng dầu tăng 63,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 25,2%; sắt thép tăng 56,3%; vải tăng 65%; hoá chất tăng 27,9%; chất dẻo tăng 27,4%; phân bón tăng 22%. Đáng lưu ý là trong các mặt hàng trên gía một số mặt hàng đã tăng lên nhiều so với cùng kỳ trong khi lượng nhập khẩu một số mặt hàng lại chỉ tăng nhẹ hoặc giảm sút: lượng xăng dầu nhập khẩu chỉ tăng 5,4%, sắt thép tăng 6% (phôi thép giảm 7,5%); phân urê tăng 5,5%, chất dẻo chỉ tăng 0,3%, sợi dệt giảm 16,5%; riêng nhập khẩu bông giảm 25,3% về kim ngạch và giảm 30,2% về lượng nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu tân dược tăng 38,4%; xe máy tăng 54,7%; riêng ô tô nguyên chiếc giảm 23,6% so với cùng kỳ.
Nhập siêu 4 tháng đầu năm nay ước tính 1023 triệu USD, bằng 16,4% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1740 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 717 triệu USD.
Khách quốc tế đến nước ta tháng 4 năm nay giảm nhiều do ảnh hưởng của dịch SARS, chỉ bằng 70,7% tháng trước và bằng 69,8% tháng 4/2002. Do vậy, khách quốc tế đến nước ta 4 tháng đầu năm 2003 tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước (mặc dù 3 tháng đầu năm tăng 11,4%). Lượng khách ước tính đạt 867,6 nghìn lượt người, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khách đến với mục đích du lịch 463 nghìn lượt người (chiếm 53,4% tổng số khách) giảm 2,4%; vì công việc 143,6 nghìn lượt người, tăng 4%; thăm thân nhân 148,4 nghìn lượt người, giảm 0,9%; mục đích khác 112,6 nghìn lượt người, tăng 13,3%.
6. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói giáp hạt
Theo báo cáo của 37 tỉnh, thành phố, tại thời điểm 21/4/2003, có 214,5 nghìn lượt hộ với 935,7 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,7% số hộ và 1,6% số nhân khẩu nông nghiệp. Tình hình thiếu đói trong tháng 4 xảy ra tập trung ở các tỉnh vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Tuy số hộ và số nhân khẩu thiếu đói trong tháng 4 tăng so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ năm trước số hộ thiếu đói chỉ bằng 85,3% và số nhân khẩu thiếu đói bằng 82,5%. Từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 5 nghìn tấn lương thực và 6,5 tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 4 có 6,8 nghìn lượt người bị sốt rét, tăng 3,8% so với tháng trước nhưng giảm 51,1% so với cùng kỳ năm trước. Tại Tây Ninh bệnh sốt rét diễn biến phức tạp, trong 4 tháng đầu năm nay số bệnh nhân tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Cũng trong tháng 4 có trên 1,3 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết, nâng tổng số người bị sốt xuất huyết trong cả nước tính từ đầu năm đến ngày 18/4/2003 lên 4,8 nghìn lượt người, trong đó 7 người đã bị chết. Một số tỉnh có số người bị sốt xuất huyết cao là Tiền Giang 213 người; Vĩnh Long 112 người; Bến tre 85 người.
Về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS), tính đến ngày 18/4/2003, có 68 trường hợp mắc bệnh, trong đó 5 người đã tử vong. Đến nay có 53 trường hợp khỏi bệnh đã ra viện; trong 10 trường hợp đang được điều trị tại Viện Y học Lâm sàng các bệnh nhiệt đới có một số bệnh nhân đã khỏi đang chờ ra viện. Để đối phó với dịch bệnh, Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống SARS đã được thành lập do Bộ trưởng Bộ Y tế làm Trưởng ban, đồng thời các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp phòng chống dịch bệnh nên đã ngăn chặn được sự lây lan trong cộng đồng; đã nhiều ngày nay trong cả nước không có thêm người nào nhiễm SARS.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong tháng 4 đã phát hiện thêm 1480 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 18/4/2003 lên 64,1 nghìn người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 9,9 nghìn người và gần 5,5 nghìn người chết do AIDS. Cũng trong tháng 4, tại Đắk Lắk, Gia Lai, Yên Bái, Hải Dương, Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi, Hải Phòng đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm với 177 người bị ngộ độc làm chết 4 người, đưa tổng số người bị ngộc độc trong cả nước từ đầu năm đến ngày 18/4/2003 lên 1192 người, trong đó 13 người đã tử vong.
Tai nạn giao thông
Tình hình trật tự an toàn giao thông trong cả nước 3 tháng đầu năm đã có sự chuyển biến tích cực. Ý thức chấp hành luật giao thông của người dân đã tốt lên; tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã giảm đáng kể; bước đầu ngăn chặn được tình trạng đua xe trái phép. Tai nạn giao thông, đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ đã giảm mạnh cả về số vụ, số người chết và số người bị thương. Tính chung 3 tháng đầu năm 2003, trên phạm vi cả nước xảy ra 6,8 nghìn vụ vụ tai nạn giao thông làm chết 3,1 nghìn người và làm bị thương 7,6 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 14,4%; số người chết giảm 9,8% và số người bị thương giảm 15,5%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông đã giảm 13 vụ; giảm 4 người chết và giảm 15 người bị thương. Một số tỉnh, thành phố tình hình tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm giảm mạnh là: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Khánh Hoà và Cần Thơ.
Thiệt hại thiên tai
Trong tháng 4 đã xảy ra tình trạng lốc xoáy, mưa đá, mưa lớn, sét đánh ở Thừa Thiên – Huế, Kon Tum, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Nghệ An, Thanh Hoá, Đồng Nai, Yên Bái, Thái Nguyên gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo của các địa phương, thiên tai đã làm 6 người chết (do lốc xoáy ở Thừa Thiên – Huế làm 2 người chết; mưa lớn kèm sét đánh ở Đồng Tháp làm 3 người chết; mưa đá, lốc ở Thanh Hoá làm 1 người chết), 21 người bị thương; 225 ngôi nhà và 33 phòng học bị sập đổ; gần 1,7 nghìn ngôi nhà và 71 phòng học bị tốc mái, hư hỏng; hàng nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập úng, hư hại. Tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 14 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ