1. Sản xuất nông nghiệp.
Tính đến ngày 15/11 cả nước đã thu hoạch được 1489,1 nghìn ha lúa mùa, bằng 101,2% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc thu hoạch 1199,8 nghìn ha, chiếm 96% diện tích gieo cấy và bằng 101,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương vùng Bắc Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng đã cơ bản thu hoạch xong; vùng núi phía Bắc thu hoạch trên 92% diện tích gieo cấy và bằng 103%. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa mùa của một số tỉnh đồng bằng sông Hồng giảm so với vụ mùa năm 2002 chủ yếu do ảnh hưởng mưa lớn kéo dài của cơn bão số 3 (Thái Bình giảm 18 tạ/ha; Ninh Bình giảm 7,6 tạ/ha; Hà Nam giảm 4,5 tạ/ha; Nam Định giảm 4 tạ/ha). Các địa phương phía Nam cũng đã thu hoạch được 289,3 nghìn ha lúa mùa sớm, chiếm trên 35% diện tích gieo cấy và bằng 98,8% cùng kỳ năm trước.
Cùng với việc thu hoạch lúa mùa sớm, các địa phương phía Nam còn tranh thủ gieo cấy được 489,5 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 139,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 481,4 nghìn ha, bằng 139,1%.
Các địa phương phía Bắc cũng đang đẩy mạnh việc chăm sóc và gieo trồng cây vụ đông. Tính đến trung tuần tháng 11 đã gieo trồng được 180,9 nghìn ha ngô, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước; 32,9 nghìn ha đậu tương, tăng 19,2%; 145,9 nghìn ha rau đậu, tăng 8,2%. Riêng khoai lang mới gieo trồng được 93,3 nghìn ha, giảm 12,3%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11 ước tính tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực Nhà nước tăng 11,5%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,3%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng cao, ổn định trong tháng 11 quyết định tốc độ tăng chung của toàn ngành công nghiệp là: Thuỷ sản chế biến, sữa hộp, đường mật, bia, phân hoá học, động cơ điện, máy biến thế, động cơ diezen, ô tô, sứ vệ sinh, xi măng, gạch xây, gạch lát, ti vi, radio,…
Tính chung giá trị sản xuất công nghiệp 11 tháng tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,3% (Trung ương tăng 12,5%, địa phương tăng 12%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,3% (Dầu mỏ, khí đốt tăng 6,3%, các ngành khác tăng 22,3%).
Một số địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn tương đối lớn trong 11 tháng qua đã đạt tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp cả nước như: Hà Nội tăng 27,7%; Hải Phòng tăng 16,9%; Đà Nẵng tăng 22%; Khánh Hoà tăng 20,8%; Bình Dương tăng 36,2%; Đồng Nai tăng 20,4%; Quảng Ninh tăng 18,2%; Vĩnh Phúc tăng 34,1%…
Các sản phẩm công nghiệp quan trọng vẫn duy trì ở mức tăng cao so với 11 tháng năm 2002 là: Than khai thác tăng 19,1%; thuỷ sản chế biến tăng 18,4%; đường mật tăng 39,4%; bia tăng 16,9%; quần áo dệt kim tăng 37,6%; quần áo may sẵn tăng 41,3%; quạt điện dân dụng tăng 40,6%; ti vi lắp ráp tăng 31,4%; ô tô lắp ráp tăng 38,3%; động cơ diezen tăng 69,2%; động cơ điện tăng 25,7%. Các sản phẩm như xi măng, thép cán, phân hoá học đều tăng 11-14% so với cùng kỳ năm trước.
3. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước tập trung 11 tháng được 23191,8 tỷ đồng, đạt 102,1% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương quản lý 13027,8 tỷ đồng, đạt 108,8% (Bộ Giao thông Vận tải 5885,8 tỷ đồng, đạt 116,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được 2025 tỷ đồng, đạt 108%; Bộ Y tế 450 tỷ đồng đạt 95,7%; Bộ Thuỷ sản 110 tỷ đồng, đạt 93,8%; Bộ Công nghiệp 91,9 tỷ đồng, đạt 85,3%; Bộ Văn hoá Thông tin 201,8 tỷ đồng, đạt 86,7%; Bộ Xây dựng 175,3 tỷ đồng, đạt 54,8%.
Vốn địa phương quản lý thực hiện được 10164 tỷ đồng, đạt 94,7% kế hoạch năm. Có 9 tỉnh, thành phố đã đạt và vượt kế hoạch năm là: Yên Bái, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Sơn La, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Nam, Đắk Lắk, Cần Thơ. Còn lại 52 tỉnh, thành phố đạt dưới 100% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 91,7%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 91,5%, Đà Nẵng 91,7%….
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20 tháng 11 năm 2003 đã có 584 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1439,7 triệu USD. Các dự án được cấp giấy phép tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 377 dự án và 900 triệu USD, chiếm 64,6 % về số dự án và 62,5% về vốn đăng ký; ngành nông, lâm, nghiệp và thuỷ sản 82 dự án và 146,1 triệu USD, chiếm 14% về dự án và 10,1% về vốn đăng ký…
Các tỉnh phía Nam có 424 dự án và 1003,8 triệu USD, chiếm 72,6% về số dự án và 69,7% về vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 162 dự án và 218,2 triệu USD; Bình Dương 96 dự án và 192,8 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu (Kể cả dự án dầu khí ngoài khơi) 17 dự án và 170 triệu USD; Đồng Nai 75 dự án và 251,3 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 160 dự án với 435,9 triệu USD, chiếm 27,4% về dự án và 30,3% về vốn đăng ký, trong đó Hải Phòng đứng đầu về số vốn đăng ký với 26 dự án và 95 triệu USD; Hà Nội 51 dự án và 86,5 triệu USD; Quảng Ninh 13 dự án và 60,3 triệu USD; Vĩnh Phúc 12 dự án và 43,8 triệu USD; Phú Thọ 13 dự án và 53,5 triệu USD,…
Các dự án được cấp giấy phép nêu trên thuộc đối tác của 37 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Đài Loan 150 dự án và 290,6 triệu USD; Hàn Quốc 144 dự án và 230,1 triệu USD; Quần đảo Virgin thuộc Anh 24 dự án và 193 triệu USD; CHND Trung Hoa 48 dự án và 115,9 triệu USD; Ôx-trây-li-a 11 dự án và 110,3 triệu USD; Hồng Công 34 dự án và 102,5 triệu USD; Nhật Bản 40 dự án và 78,1 triệu USD…
4. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 11 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 797,4 triệu lượt hành khách và 36,1 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 4,5% về khối lượng vận chuyển và 3,9% về khối lượng luân chuyển, trong đó đường sắt tăng 7,7% và 10%; đường bộ tăng 4,9% và 5,2%; đường sông tăng 2,4% và 2,4%. Vận chuyển hàng hoá đạt 232,9 triệu tấn và 52,8 tỷ tấn.km, tăng 6,9% về khối lượng vận chuyển và 4,5% về khối lượng luân chuyển, trong đó vận tải trong nước thực hiện 220,5 triệu tấn và 22,7 tỷ tấn.km, tăng 7,1% và 6,4%; vận tải ra nước ngoài được 12,4 triệu tấn và 30,2 tỷ tấn.km, tăng 3,2% và 3%.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm nay ước tính đạt 281,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 47,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 16.8% tổng mức và tăng 9,4%; khu vực ngoài quốc doanh đạt 229,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 81,4% và tăng 12,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,8% và tăng 14,5%. Trong các ngành kinh doanh thì hoạt động thương nghiệp tăng 11,8%; khách sạn nhà hàng tăng 13,5%; dịch vụ tăng 15,9%.
Giá tiêu dùng tháng 11/2003 tăng 0,6% so với tháng trước, trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 0,9% (Lương thực tăng 2,8%; thực phẩm tăng 0,3%); dược phẩm, y tế tăng 0,9%; các nhóm hàng may mặc, mũ nón, giầy dép; nhóm hàng nhà ở, vật liệu xây dựng và nhóm hàng thiết bị, đồ dùng gia đình đều tăng 0,5%; giáo dục tăng 0,4%. Riêng văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%; phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,5%.
So với tháng 12/2002, giá tiêu dùng tháng 11/2003 tăng 2,2%, trong đó nhóm dược phẩm, y tế tăng 20,8%; giáo dục tăng 4,8%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 3,5%; đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 2,9%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 2,6%; lương thực, thực phẩm tăng 1,7%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,5%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ giảm là phương tiện đi lại, bưu điện giảm 2,2%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 1,5%.
Giá vàng tháng 11/2003 tăng 3% so với tháng trước và tăng 20,5% so với tháng 12/2002. Hai chỉ tiêu tương ứng của giá đô la Mỹ tăng 0,5% và tăng 1,7%.
Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2003 ước tính đạt 18,3 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 9,2 tỷ USD, tăng 15%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 9,1 tỷ USD, tăng 29,6%. Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn vẫn giữ được mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2002 như: Dầu thô đạt 3,4 tỷ USD, tăng 16,5% (đóng góp vào mức tăng xuất khẩu chung là 14,7%); hàng dệt, may đạt 3,36 tỷ USD, tăng 37,9% (đóng góp 28,2%); giày dép tăng 21,1% (đóng góp 10,6%); điện tử, máy tính tăng 38,8%; thuỷ sản tăng 12,7%; cà phê tăng 46,3%; cao su tăng 51,8%; hạt điều tăng 36%; sản phẩm gỗ tăng 35,2%; xe đạp và phụ tùng xe đạp tăng 36,2%. Riêng kim ngạch hàng rau quả xuất khẩu giảm 24,8% và chè giảm 28,4% so với cùng kỳ năm trước.
Kim ngạch nhập khẩu 11 tháng ước tính đạt gần 22,7 tỷ USD, tăng 28,8% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 14,7 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 8 tỷ USD, tăng 33,3%. Kim ngạch nhập khẩu tăng cao ở hầu hết các mặt hàng chủ yếu. Một số mặt hàng xuất khẩu quan trọng đã đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Đứng đầu là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu đạt gần 5 tỷ USD, tăng 48,1% và đóng góp vào tăng nhập khẩu chung là 31,8%; xăng dầu nhập khẩu 2,2 tỷ USD, tăng 19,4% và đóng góp 7%; sắt thép nhập 1,5 tỷ USD, tăng 25,2% và đóng góp 6%; nguyên phụ liệu dệt, may, da 1,8 tỷ USD, tăng 18,3% và đóng góp 5,6%.
Do nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất, nhưng mặt khác còn do nhập khẩu 2 chiếc máy bay mới đã làm cho nhập siêu 11 tháng tăng cao, ước tính gần 4,4 tỷ USD, bằng 23,8% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 5,5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1,1 tỷ USD.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tháng 11 tăng khá so với mức tăng bình quân 10 tháng và sẽ tiếp tục tăng vì SEA Games 22 đã đến gần. Tuy nhiên do những tháng đầu năm giảm nhiều nên tính chung 11 tháng mới đạt 2,1 triệu lượt người, vẫn còn giảm 12,1% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1,1 triệu lượt người, giảm 20%; vì công việc 383,1 nghìn lượt người, giảm 5,4%; thăm thân nhân 318,7 nghìn lượt người, giảm 16,7%; mục đích khác 332 nghìn lượt người, tăng 23,9%.
6. Một số vấn đề xã hội
Hoạt động thể dục thể thao
Hướng tới SEA Games 22 và ASEAN Paragames 2, Uỷ ban Thể dục Thể thao đã chỉ đạo toàn ngành tổ chức tốt các hoạt động thể dục thể thao, đồng thời khẩn trương triển khai và hoàn thành các công tác chuẩn bị. Hầu hết các địa phương trong cả nước đều tổ chức các hoạt động hưởng ứng phong trào SEA Games 22, nhất là những nơi có tổ chức thi đấu. Bên cạnh đó, ngành Thể dục Thể thao còn tập trung mọi nguồn lực chuẩn bị lực lượng vận động viên tham dự SEA Games 22 với 1005 người, trong đó có 762 vận động viên, 1 trưởng đoàn, 11 phó đoàn, 23 bác sỹ, 13 lãnh đạo các đội tuyển và 32 chuyên gia. Tối 22/11/2003, tại Sân Vận động Quốc gia Mỹ Đình đã tổ chức trang trọng Lễ xuất quân của Đoàn Thể thao Việt Nam. Tại SEA Games 22, đoàn Thể thao Việt Nam sẽ tham dự 32 môn thi đấu với 442 nội dung.
Về cơ sở vật chất cho SEA Games 22, đến thời điểm hiện nay, tất cả các công trình, dự án trực tiếp phục vụ tổ chức SEA Games 22 đã cơ bản hoàn thành, các địa điểm tổ chức thi đấu đã được tiến hành kiểm tra. Trung tâm Báo chí, Truyền hình và Trung tâm Điều hành SEA Games đã hoàn tất và đi vào hoạt động từ ngày 15/11. Các công việc chuẩn bị cho lễ khai mạc và bế mạc SEA Games 22 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng đã hoàn tất. Lực lượng tình nguyện viên đã được Uỷ ban Thể dục Thể thao phối hợp với Bộ Giáo dục- Đào tạo và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tuyển chọn, đồng thời cũng đã thực tập lễ đón và lễ tiễn các đoàn ở tại sân bay Nội Bài vào ngày 16/11 vừa qua.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, trong tháng 11 có 10,6 nghìn lượt người bị sốt rét, trong đó 7 người bị chết; 3,3 nghìn người bị sốt xuất huyết, trong đó 6 người bị chết. So với tháng trước, số người bị sốt rét giảm 12,4% và số người bị sốt xuất huyết giảm 15,2%. Tính chung từ đầu năm đến 19/11/2003 đã có 124,2 nghìn lượt người bị sốt rét, trong đó có 37 người đã chết và 31,8 nghìn người bị sốt xuất huyết, trong đó 57 người đã tử vong. Trong tháng cũng đã xảy ra 10 vụ ngộ độc thực phẩm với 1073 người bị ngộ độc, đưa số người bị ngộ độc thực phẩm từ đầu năm đến 19/11/2003 lên gần 5 nghìn người, trong đó có 30 người đã tử vong.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 11 đã phát hiện thêm 1310 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV trong cả nước đến 19/11/2003 lên 74,1 nghìn người, trong đó có 11,3 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 6,4 nghìn người đã chết do AIDS.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 10/2003, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1498 vụ tai nạn giao thông, làm chết 907 người và làm bị thương 1421 người. So với tháng 10/2002, số vụ tai nạn giảm 35,4%; số người chết giảm 6,7% và số người bị thương giảm 44,2%. Kể từ khi thực hiện Nghị quyết 13/2002/NQCP của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn và ùn tắc giao thông đến nay, tình hình an toàn giao thông đã có những chuyển biến đáng kể. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông 10 tháng qua đã giảm 30,9% số vụ; giảm 5,1% số người chết và giảm 37,8% số người bị thương. Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn còn ở mức cao, trong 10 tháng năm 2003, trên phạm vi cả nước vẫn xảy ra tới 17,3 nghìn vụ tai nạn làm chết 9,7 nghìn người và làm bị thương 17,6 nghìn người. Bình quân mỗi ngày xảy ra 57 vụ tai nạn, làm chết 32 người và làm bị thương 58 người.
Thiệt hại thiên tai
Từ nửa cuối tháng 10 đến nay đã xảy ra mưa, lũ, lụt tại các tỉnh: Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Tháp và Vĩnh Long đã làm 80 người chết và 91 người bị thương, trong đó riêng mưa lớn và lũ lụt xảy ra tại Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Ninh Thuận trong tháng 11 đã làm 66 người chết và 86 người bị thương. Ngoài ra, thiên tai còn làm thiệt hại một số công trình giao thông, thuỷ lợi, trường học, nhà cửa, hoa màu với tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 500 tỷ đồng. Ngay sau khi thiên tai xảy ra, chính quyền các địa phương và trung ương đã có các biện pháp khắc phục hậu quả ban đầu để ổn định cuộc sống cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng, trong đó Quảng Ngãi đã trợ giúp mỗi gia đình có người chết 1 triệu đồng; mỗi người bị thương 500 nghìn đồng và 1 triệu đồng cho gia đình có nhà bị trôi hoặc sập đổ hoàn toàn. Bình Định cũng đã trợ cấp cho các gia đình bị thiệt hại do lũ, lụt gần 3,1 tỷ đồng; Thừa Thiên-Huế 10 triệu đồng; Khánh Hoà 18 triệu đồng và Vĩnh Long 28,9 triệu đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ