1. Tình hình sản xuất nông nghiệp.
Tính đến 15/11 cả nước đã thu hoạch được 1471 nghìn ha lúa mùa, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc đã thu hoạch 1178,1 nghìn ha, chiếm trên 93% diện tích gieo cấy và bằng 102,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương vùng Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng cơ bản thu hoạch xong, vùng núi phía Bắc thu hoạch trên 88% diện tích gieo cấy và bằng 107,8%. Thời tiết cuối vụ thuận lợi, tạo điều kiện cho lúa mùa ở phía Bắc phát triển tốt, đạt năng suất cao hơn so với vụ mùa năm 2001 (Thái Bình đạt 58 tạ/ha, tăng 8 tạ/ha; Nam Định đạt 51,5 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha; Hưng Yên đạt 58,3 tạ/ha, tăng 3,8 tạ/ha; Hà Tây 56,6 đạt tạ/ha, tăng 6,7 tạ/ha; Thanh Hoá đạt 42,5 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha; Thái Nguyên đạt 42,5 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha; riêng Hà Tĩnh do ảnh hưởng của mưa lớn làm mất trắng trên 3500 ha lúa mùa nên năng suất chỉ đạt 11,8 tạ/ha, giảm 7,2 tạ/ha). Các địa phương phía Nam cũng đã thu hoạch được 292,9 nghìn ha lúa mùa sớm, chiếm trên 35% diện tích gieo cấy và bằng 103,5% cùng kỳ năm trước.
Cùng với việc thu hoạch lúa mùa sớm, các địa phương phía Nam còn tranh thủ gieo cấy được 350,3 nghìn ha lúa đông xuân, trong đó đồng bằng sông Cửu Long 346,2 nghìn ha, bằng 130,5% cùng kỳ năm trước.
Các địa phương phía Bắc cũng đang đẩy mạnh việc chăm sóc và gieo trồng cây màu và cây công nghiệp vụ đông. Tính đến trung tuần tháng 11, đã gieo trồng được 151 nghìn ha ngô đông, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước; 106,4 nghìn ha khoai lang, bằng 98,4% cùng kỳ năm trước; 134,8 nghìn ha rau đậu, bằng 107,9%; 27,6 nghìn ha đậu tương, bằng 94,2%.
2. Sản xuất công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp tháng 11 có tốc độ tăng trưởng cao hơn các tháng trước, dự tính giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực Nhà nước tăng 12,3%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 21,7% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ tăng 14,2%. Một số ngành công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng cao, ổn định trong tháng 11 quyết định tốc độ tăng chung toàn ngành công nghiệp là: Chế biến thuỷ sản, quần áo may sẵn, xi măng, máy công cụ, động cơ điện, ô tô lắp ráp, xe máy lắp ráp, ti vi lắp ráp.
Tính chung 11 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,8% (trung ương tăng 12,7%, địa phương tăng 9,9%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,5% (riêng dầu mỏ, khí đốt giảm 0,2%, các ngành khác tăng 21,8%).
Một số địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn tương đối lớn có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của công nghiệp cả nước 11 tháng so với cùng kỳ 2001 là: Hà Nội tăng 24,5%; Hải Phòng tăng 25,6%; Bình Dương tăng 35,4%; Đồng Nai tăng 17%; Quảng Ninh tăng 17,5%,… Riêng thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục tăng ở mức 13,8% và Bà Rịa -Vũng Tàu do ảnh hưởng của khai thác dầu khí giảm nên chỉ tăng 0,4%.
Các sản phẩm công nghiệp quan trọng vẫn duy trì ở mức tăng cao so với 11 tháng năm 2001 như: Thuỷ sản chế biến tăng 22,5%; quần áo may sẵn tăng 32,2%; xi măng tăng 26,5%; ti vi lắp ráp tăng 36,5%, ô tô lắp ráp tăng 47,3%, xe máy lắp ráp tăng 44,9%… Sở dĩ các mặt hàng trên đạt tốc độ tăng cao là do (1) mở rộng được thị trường xuất khẩu; (2) nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình dân dụng tăng; (3) sức mua trong nước tăng. Riêng mặt hàng ô tô, xe máy tuy Nhà nước có chủ trương chấn chỉnh lại hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực này và sản xuất chững lại ở một số tháng giữa năm nhưng do nhu cầu tiêu thụ trong nước về các mặt hàng này vẫn cao nên sản xuất đã ổn định và tăng cao trở lại vào các tháng cuối năm.
3. Đầu tư.
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 11 tháng đầu năm 2002 ước tính đạt gần 20,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,1% kế hoạch năm. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương quản lý đạt 12,8 nghìn tỷ đồng, bằng 97,3%, trong đó các Bộ có khối lượng vốn lớn là Bộ Giao thông Vận tải đạt 98,6%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 98%, Bộ Y tế đạt 94,9%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương quản lý đạt gần 7,7 nghìn tỷ đồng, bằng 86,9% kế hoạch, trong đó các tỉnh đã hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương quản lý từ mức 100% trở lên là: Bắc Ninh, Ninh Bình, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh. Tuy nhiên, còn có một số địa phương đạt dưới 70% kế hoạch năm: Hà Tây, Nghệ An, An Giang …
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 20/11/2002 đã có 607 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1170,9 triệu USD; so với cùng kỳ năm trước tăng 30,3% về số dự án, nhưng giảm 46,4% về vốn đăng ký. Trong tổng số, ngành công nghiệp có 469 dự án với số vốn đăng ký 868,8 triệu USD; ngành xây dựng 25 dự án với 57,7 triệu USD; ngành nông, lâm nghiệp 13 dự án với 25 triệu USD.
Các dự án tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía Nam: 464 dự án với 864,7 triệu USD, chiếm 76,4% về dự án và 73,2% về vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 194 dự án với 238,3 triệu USD; Bình Dương 122 dự án với 221 triệu USD; Đồng Nai 73 dự án với 217 triệu USD… Các tỉnh phía Bắc có 143 dự án với số vốn đăng ký 306,2 triệu USD, chỉ chiếm 23,6% về số dự án và 26,8% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 51 dự án với vốn đăng ký 120,6 triệu USD, Hải Phòng có 22 dự án với 36,7 triệu USD, Quảng Ninh 11 dự án với 37,6 triệu USD, Vĩnh Phúc 9 dự án với 37,3 triệu USD, Lạng Sơn có 6 dự án với 11,2 triệu USD…
Trong 11 tháng đã có 37 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đầu tư, trong đó các quốc gia châu Á, đặc biệt là các nước Đông Á có nhiều dự án đầu tư. Các nước và vùng lãnh thổ có nhiều dự án và vốn đăng ký lớn là Hàn Quốc 120 dự án với 223,9 triệu USD; Đài Loan 151 dự án với số vốn đăng ký 223,7 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 52 dự án với 137,3 triệu USD, Nhật Bản 39 dự án với 87,6 triệu USD; Mỹ 28 dự án với 108 triệu USD, Ma-lai-xi-a 24 dự án với 68,8 triệu USD; CHND Trung Hoa 46 dự án với 56,9 triệu USD; Thái Lan 13 dự án với 40,5 triệu USD, Xin-ga-po 21 dự án với 31,3 triệu USD, Liên bang Nga 5 dự án với 27,5 triệu USD…
4. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 11 tháng ước tính đạt 778,3 triệu lượt hành khách và 28,6 tỷ lượt hành khách.km; So với cùng kỳ năm trước tăng 3,4% về hành khách vận chuyển và tăng 6,6% về hành khách luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 148,4 triệu tấn và 46,2 tỷ tấn.km; tăng 5,4% về hàng hoá vận chuyển và 6,1% về hàng hoá luân chuyển.
Hoạt động vận tải 11 tháng đầu năm nhìn chung tăng trưởng ổn định, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, đáng lo ngại là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra với mức độ lớn.
5. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 11 tháng năm 2002 ước tính đạt 250,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 245,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 4,5 nghìn tỷ đồng, giảm 0,7%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2002 so với tháng trước tăng 0,3%, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao 1,9%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,6%; nhóm giáo dục tăng 0,5%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,3%. Nhóm lương thực, thực phẩm tuy không tăng so với tháng trước nhưng riêng lương thực tăng 1,1% trong khi thực phẩm lại giảm 0,5%. So với tháng 12 năm 2001, chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng 3,7%, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao nhất 6,6%; lương thực, thực phẩm tăng 5,4% (thực phẩm tăng 8,1%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,9%; phương tiện đi lại, bưu điện và đồ dùng và dịch vụ khác đều tăng 1,7%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1%; Riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,9%. Chỉ số giá tiêu dùng 12 tháng (tại thời điểm tháng 11 năm 2002) tăng 4,6%, trong đó các nhóm hàng tăng mạnh là: lương thực, thực phẩm tăng 7,4%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,5%; một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ năm trước là: dược phẩm, y tế giảm 0,8%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%.
Chỉ số giá vàng tháng 11 năm 2002 giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 18% so với tháng 12 năm 2001; tương tự chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,1% và tăng 2%.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 11 tiếp tục tăng trưởng khá so với các tháng trước do một số mặt hàng có trị giá xuất khẩu cao như hàng dệt may, thuỷ sản… mở rộng được thị trường đã nâng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng lên gần 15 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu gần 8,1 tỷ USD, tăng 8,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 6,9 tỷ USD, tăng 8,8% (dầu thô giảm 3,4% còn các mặt hàng khác tăng 19,5%). Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt mức tăng cao về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước như dệt, may tăng 34,7%; thuỷ sản tăng 13,6%; giày dép tăng 17,9%; gạo tăng 22,2%. Một số mặt hàng khác tuy kim ngạch không cao nhưng có tốc độ tăng đáng kể so với 11 tháng 2001 là hàng thủ công mỹ nghệ tăng 42,4%, cao su tăng 53,6%, hạt điều tăng 38,7%; than đá tăng 31,5%. Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu mặt hàng gạo tuy lượng xuất khẩu mới đạt 88,9% mức cùng kỳ nhưng được lợi về giá nên kim ngạch vẫn đạt mức tăng cao; các mặt khác như hạt tiêu, điều, chè, lạc khối lượng xuất khẩu đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước nên đã bù được giảm nhẹ về giá. Tuy nhiên, có một vài mặt hàng kim ngạch giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước như điện tử, máy tính giảm 19,3%; cà phê giảm 18,2%; rau quả giảm 40,3%.
Kim ngạch nhập khẩu 11 tháng năm 2002 ước tính đạt 17,3 tỷ USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 11,4 tỷ USD, tăng 14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 5,9 tỷ USD, tăng 28,6%. Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu là nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong nước đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 33,2%; sắt thép nhập khẩu tăng 28,8% về lượng và tăng 37,6% về trị giá; chất dẻo tăng 22,6% và tăng 20,7%; sợi dệt tăng 30,3% và tăng 29,2%; thuốc trừ sâu tăng 23,1% về trị giá; hoá chất tăng 17,7%; sản phẩm hoá chất tăng 33,5%; đặc biệt vải, do mặt hàng may mặc xuất khẩu tăng mạnh nên nhập khẩu tăng tới 236,7% về trị giá. Riêng nhập khẩu xe máy dạng linh kiện và xe máy nguyên chiếc đã giảm đáng kể chỉ đạt 43% về lượng và 50,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Nhập siêu 11 tháng năm nay khoảng 2,3 tỷ USD, bằng 15,4% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 1 tỷ USD.
Khách quốc tế đến Việt Nam 11 tháng năm nay ước tính đạt 2394,8 nghìn lượt người, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 1339,4 nghìn lượt người, tăng 18,8%; vì công việc là 404,9 nghìn lượt người, tăng 11,1%; thăm thân nhân là 382,6 nghìn lượt người, tăng 7,4% và mục đích khác 267,9 nghìn lượt người, giảm 8%.
6. Một số vấn đề xã hội.
Thiếu đói trong dân
Theo báo cáo của 30 tỉnh, thành phố, tại thời điểm 21/11/2002 cả nước có 77 nghìn hộ với 352,7 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,7% số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. Trong thời gian qua, tình trạng hạn hán kéo dài ở một số tỉnh đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất vụ mùa nên số hộ thiếu đói tháng này đã tăng 3,5% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước thì chỉ bằng 76,7%. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói, từ đầu năm đến 21/11/2002 các cấp, các ngành và các địa phương đã trợ giúp các hộ thiếu đói gần 12 nghìn tấn lương thực và 10,9 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 11 là 1152 tấn lương thực và 843 triệu đồng.
Hoạt động văn hoá
Hoạt động văn hoá thông tin trong tháng tập trung đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống văn hoá thông tin cơ sở và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Các địa phương như Bình Định, Đồng Nai, Hà Nam, Hà Tĩnh, Thái Bình, Phú Yên, Vĩnh Phúc, Kon Tum, Kiên Giang, Hoà Bình, Hải Phòng, Cần Thơ… đã thực hiện tốt phong trào này bằng nhiều hình thức phong phú như tăng cường đưa hoạt động văn hoá thông tin về cơ sở, bảo tồn các giá trị văn hoá, âm nhạc, cưới hỏi truyền thống, xây dựng các điểm văn hoá cụm, xã, làng văn hoá và gia đình văn hoá.
Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá tiếp tục được đẩy mạnh. Thanh tra ngành đã tập trung chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra trong toàn ngành, tăng cường các biện pháp ngăn chặn tiêu cực trong hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá, trong đó chỉ đạo việc truy quét băng, đĩa hình đồi truỵ trên toàn quốc, với đối tượng tập trung là các điểm in, nhân bản lậu, phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng mới như in các hình ảnh có nội dung xấu trên sản phẩm tiêu dùng. Tính đến tháng 11/2002, thanh tra toàn ngành đã tiến hành kiểm tra 12,8 nghìn lượt cơ sở, phát hiện 2914 cơ sở vi phạm, đã đình chỉ hoạt động 96 cơ sở, phạt hành chính 2,8 tỷ đồng, thu giữ 234,8 nghìn băng, đĩa các loại; 193 đầu máy; 41 máy đánh bạc; và trên 8,7 nghìn cuốn sách các loại.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 11 có 15,2 nghìn lượt người bị sốt rét; 3,1 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết và 82,9 nghìn lượt người bị tiêu chảy. Tính từ đầu năm đến ngày 19/11/2002 trên địa bàn cả nước có 141,5 nghìn lượt người bị sốt rét, làm chết 33 người; 20,7 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết, làm chết 40 người và 824 nghìn lượt người bị tiêu chảy, làm chết 11 người. Mặc dù thời gian qua không xảy ra dịch bệnh lớn, nhưng cần có các biện pháp giám sát, phòng ngừa và can thiệp kịp thời để tránh một số bệnh như tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy có thể bùng phát thành dịch, nhất là ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long.
Trong tháng 11/2002, tại An Giang, Hà Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre và Quảng Ngãi đã xảy ra 6 vụ ngộ độc thực phẩm với 86 người bị ngộ độc nâng số người bị ngộ độc trong cả nước từ đầu năm đến ngày 17/11/2002 lên khoảng 4,1 nghìn người, trong đó 61 người đã bị chết.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong tháng 11 cả nước phát hiện thêm 1040 người nhiễm HIV, tăng 379 người so với tháng trước, trong đó có 158 bệnh nhân AIDS. Tính đến ngày 19/11/2002 trong cả nước đã phát hiện 57,1 nghìn người nhiễm HIV, trong đó số bệnh nhân AIDS là 8,6 nghìn người và 4,7 nghìn người đã chết do AIDS.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 10 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2320 vụ làm chết 972 người và làm bị thương 2548 người, trong đó có 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng làm chết 26 người và làm bị thương 29 người; so với tháng trước số vụ đã giảm 106; số người bị thương giảm 154 và số người chết giảm 8; nhưng so với tháng 10 năm 2001 thì số người chết tăng 7,6% và số người bị thương tăng 15,1%. Tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2002, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 25,1 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 10,2 nghìn người và làm bị thương 28,3 nghìn người; so với cùng kỳ năm trước tăng 15,1% số vụ; tăng 18,1% số người chết và tăng 16,6% số người bị thương. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng qua trên phạm vi cả nước đã xảy ra 83 vụ tai nạn giao thông, làm chết 34 người và làm bị thương 93 người. Tai nạn giao thông 10 tháng qua chủ yếu xảy ra trên đường bộ với 24,5 nghìn vụ, chiếm 97,5% tổng số vụ; làm chết 9,9 nghìn người, chiếm 96,8% và làm bị thương 28,1 nghìn người, chiếm 99,3%.
Thiệt hại do thiên tai
Từ ngày 18/10 đến ngày 12/11/2002 đã xảy ra tình trạng mưa, lốc, lũ, lụt ở Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Bình, Khánh Hòa, Đồng Nai, Tiền Giang và Bạc Liêu làm chết 12 người và làm bị thương 6 người; giá trị thiệt hại ước tính trên 35 tỷ đồng, trong đó gần 8,7 nghìn ha lúa, mầu bị ngập, hư hại; 716 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại; 343 ngôi nhà; 553 phòng học bị sập đổ cuốn trôi… Tính từ đầu năm đến nay, thiên tai đã làm 428 người chết; 291 người bị thương; 99,3 nghìn ha lúa, màu bị ngập úng, hư hại; 5635 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại; 10657 ngôi nhà và 720 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; 269 km đê, kè và 4861 km kênh mương bị sạt lở, cuốn trôi cùng nhiều công trình kinh tế xã hội khác bị thiệt hại, hư hỏng. Tổng thiệt hại ước tính từ đầu năm đến nay gần 2 nghìn tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ