1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tháng này gặp khó khăn lớn là cơ bão số 5 đổ bộ vào một số tỉnh Trung Bộ. Mưa bão đã gây thiệt hại đối với diện tích lúa mùa đang trỗ, hoặc sắp đến kỳ thu hoạch và diện tích cây vụ đông đã gieo trồng. Theo báo cáo của các tỉnh, đã có trên 48 nghìn ha lúa mùa bị ngập úng, trong đó khoảng 11 nghìn ha có khả năng mất trắng và nhiều diện tích bị ảnh hưởng giảm năng suất; 94,8 nghìn ha cây vụ đông mới gieo trồng bị gẫy đổ, cuốn trôi, chủ yếu là diện tích ngô, đỗ tương. Hiện nay các tỉnh đang tập trung khắc phục khó khăn, thu hoạch lúa mùa và gieo trồng lại cây vụ đông. Kết quả sản xuất cụ thể như sau:

Thu hoạch vụ mùa: Tính đến 15/10 các tỉnh miền Bắc đã thu hoạch 763,2 nghìn ha lúa mùa, chiếm  65,7 % diện tích gieo cấy và bằng 92,2%  cùng kỳ năm trước. Các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng đã thu hoạch 386,7 nghìn ha, chiếm 71,4% diện tích gieo cấy; năng suất trên diện tích đã thu hoạch ước tính đạt 54 tạ/ha, tăng 1-2 tạ/ha so với cùng kỳ, trong đó trà lúa đầu tăng trên 3 tạ/ha, trà trung và trà cuối do ảnh hưởng của bão nên năng suất bị ảnh hưởng. Các tỉnh Bắc Trung Bộ thu hoạch được 137,8 nghìn ha, chiếm 77,5% diện tích gieo cấy, năng suất ước tính giảm từ 1-2 tạ/ha, do nhiều diện tích ở miền núi bị ngập và cuốn trôi.

Thu hoạch lúa hè thu: Các địa phương miền Nam đang khẩn trương kết thúc thu hoạch lúa hè thu muộn và vụ 3. Tính đến 15/10, các địa phương đã thu hoạch 1776,4 nghìn ha, chiếm 93,6% diện tích gieo cấy, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch 1542,5 nghìn ha, chiếm 93,2%. Theo đánh giá của các tỉnh, năng suất lúa thu đông tăng từ 3-4 tạ/ha nên khả năng vụ hè thu (bao gồm lúa hè thu chính vụ và lúa vụ thu đông) có năng suất khá cao, đạt khoảng 46 tạ/ha, tăng hơn 4 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2006.

Gieo trồng vụ đông: Đến trung tuần tháng 10, diện tích gieo trồng cây vụ đông đạt 339,5 nghìn ha, bằng 82,1% cùng kỳ năm trước, trong đó ngô 178 nghìn ha, bằng 98,6%; khoai lang 39,3 nghìn ha, bằng 64,4%; đỗ tương 54,3 nghìn ha, bằng 81,7%; rau đậu các loại 61,5 nghìn ha, bằng 64,3%. Các tỉnh có cây vụ đông bị thiệt hại nặng do bão số 5 như Thanh Hoá, Nghệ An đã hỗ trợ giống cho bà con gieo lại diện tích vụ đông đã mất để phấn đấu đạt kế hoạch gieo trồng.

Chăn nuôi trong tháng ổn định, không bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh. Số lượng gia cầm ước tính tăng khá, chủ yếu do đàn thuỷ cầm tăng mạnh ở đồng bằng sông Cửu Long; đàn bò tăng nhẹ; đàn lợn không tăng. Tính đến ngày 23/10/2007, cả nước có ba tỉnh có lợn mắc bệnh Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) chưa qua 21 ngày là Khánh Hòa, Cà Mau và Hải Dương.

Lâm nghiệp

Thời tiết tháng 10 mưa nhiều nên thuận lợi cho việc trồng rừng. Diện tích rừng trồng mới tháng 10 ước tính đạt 15,1 nghìn ha; trồng cây phân tán 6,1 triệu cây, bằng 94,6% cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác 308,4 nghìn m3,  bằng 102,2%. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 163,3 nghìn ha, bằng 100,4% cùng kỳ năm trước; trồng cây phân tán 172,5 triệu cây, bằng 98,3%; sản lượng gỗ khai thác 2641,8 nghìn m3, bằng 101,8%.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 10/2007 ước tính đạt 386,4 nghìn tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 227,1 nghìn tấn, tăng 17,1% và khai thác 159,3 nghìn tấn, tăng 0,8 % (khai thác biển 142,6 nghìn tấn, tăng 0,3%). Nuôi trồng thuỷ sản tăng khá, chủ yếu tăng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, với nhiều thuận lợi như giá cá nguyên liệu tăng so với tháng trước, tôm sú đang ở thời kỳ cuối vụ thu hoạch (chủ yếu ở Bạc Liêu, Bến Tre, Sóc Trăng); nuôi cá lồng bè, ruộng trũng và nuôi các loại thuỷ sản khác khá ổn định. Tuy nhiên, trong tháng 10 bão số 5 đã gây mưa, lũ lớn ở một số tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, làm nhiều diện tích nuôi, trồng thuỷ sản bị ngập nước; bờ ao, đầm bị sạt lở, nước tràn bờ gây thất thoát đàn cá (diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ở Ninh Bình ngập gần 3 nghìn ha, sản lượng cá thất thoát ước tính 2,9 nghìn tấn; diện tích nuôi trồng thuỷ sản của Nghệ An bị hư hỏng trên 2,7 nghìn ha; Hà Tĩnh  460 ha,…).

Nhìn chung, khai thác thuỷ sản tháng 10 trong điều kiện thời tiết không thuận, nhiều tàu đánh cá ở khu vực biển miền Trung phải nằm bờ để tránh bão số 5 và những ngày thời tiết xấu. Tuy nhiên, sản lượng khai thác biển tăng nhẹ so với tháng 10 năm trước, do ngư dân tích cực ra khơi bám biển khi thời tiết thuận lợi và nước lên ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nên khai thác nội địa đạt khá. Tính chung 10 tháng, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 3382,4 nghìn tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó nuôi trồng 1650 nghìn tấn, tăng 18,5%, khai thác 1732,4 nghìn tấn tăng 2%.

2. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 ước tính tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 11,4% (Trung ương quản lý tăng 14,6%; địa phương quản lý tăng 3,7%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 19%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,7% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 17,6%; các ngành khác tăng 24,1%).

Công nghiệp tháng 10 tăng thấp hơn tốc độ tăng 17% trong 9 tháng là do một số ngành, sản phẩm trong công nghiệp khai thác giảm, đặc biệt là sản lượng dầu thô khai thác tháng 10 so với cùng kỳ tiếp tục giảm mạnh hơn so với mức giảm bình quân 9% trong 9 tháng; khí đốt thiên nhiên giảm gần 40%; than sạch khai thác giảm 12,2%. Bên cạnh đó, cơn bão số 5 và mưa, lũ kéo dài trong nửa đầu tháng này diễn biến trên diện rộng ở các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng trực tiếp đến khai thác một số loại vật liệu xây dựng như đá, cát, sỏi, sản xuất vôi, gạch nung, ngói nung và ảnh hưởng gián tiếp đến một số ngành sản xuất công nghiệp khác như chế biến nông sản, thực phẩm, chế biến thuỷ sản.v.v. của các tỉnh trên. Xét trên các khu vực kinh tế, bão số 5 và mưa lũ đã ảnh hưởng nhiều hơn đến sản xuất của khu vực công nghiệp ngoài nhà nước.

Tính chung 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 10,3% (Trung ương quản lý tăng 13,3%; địa phương quản lý tăng 3,7%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 6,7%; các ngành khác tăng 23,4%).

Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp tương đối lớn trong 10 tháng vừa qua vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng tương đối cao là: Vĩnh Phúc tăng 42,1%; Bình Dương tăng 24,5%; Hà Tây tăng 23%; Đồng Nai tăng 22%; Hà Nội tăng 20,1%; Cần Thơ tăng 17,1%. Tuy nhiên, cũng có một số địa phương tăng trưởng thấp, ở mức 12-13% như: Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Khánh Hoà và Đà Nẵng; riêng Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,1%.

Một số sản phẩm có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của cả ngành như: máy công cụ tăng 83,9%; điều hòa nhiệt độ tăng 61,5%; ô tô lắp ráp tăng 60,5%; xe máy lắp ráp các loại tăng 28,1%; động cơ điện tăng 25,1%; máy giặt tăng 22%; máy biến thế tăng 19,9%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp quan trọng đối với nền kinh tế và ảnh hưởng tới sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng của dân cư vẫn duy được tốc độ tăng trên 10% như than sạch tăng 12,2%; thủy sản chế biến tăng 14,1%; vải lụa thành phẩm tăng 10,8%; quần áo may sẵn tăng 16,7%; giấy bìa tăng 14,9%; phân hóa học tăng 11,8%; thép cán tăng 10,3% và điện sản xuất tăng 12,9%. Tuy nhiên, đáng chú ý là các sản phẩm của công nghiệp dầu khí 10 tháng vẫn tiếp tục xu hướng giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước.

3. Đầu tư

Khối lượng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 10/2007 ước tính đạt 10,17 nghìn tỷ đồng, bằng 10,7% kế hoạch cả năm, trong đó vốn do trung ương quản lý 3,04 nghìn tỷ đồng, bằng 8,6%; địa phương quản lý 7,13 nghìn tỷ đồng, bằng 11,9%. Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện 76,90 nghìn tỷ đồng, bằng 80,6% kế hoạch năm, trong đó trung ương quản lý 27,42 nghìn tỷ đồng, bằng 77,5%; địa phương quản lý 49,48 nghìn tỷ đồng, bằng 82,4%.

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước 10 tháng đạt thấp so với kế hoạch năm là do công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn, do giá cả vật tư biến động lớn và năng lực của các đơn vị tư vấn và  của một số nhà thầu trong nước hạn chế, nhất là năng lực tài chính. Ngoài ra, tình hình mưa, bão, lũ xảy ra tại một số địa phương thời gian qua cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện vốn đầu tư.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục đạt khá. Tính từ đầu năm đến 20/10/2007 đã có 1144 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 9,75 tỷ USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án đạt 8,5 triệu USD. Nếu tính cả 1,51 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của 300 dự án đã cấp phép trong các năm trước thì tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký trong 10 tháng năm nay đạt 11,26 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng năm 2007 ước tính đạt 3,71 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2006.

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2007 ước tính tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 81,4% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 82,2%; thu từ dầu thô bằng 72,9%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 88,9%; thu viện trợ bằng 103,7%. Trong các khoản thu nội địa, thu từ kinh tế Nhà nước đạt 74,8% dự toán cả năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không kể dầu thô đạt 71,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 87,8%; thu phí xăng dầu 76,9%; thu phí, lệ phí đạt 92,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2007 ước tính tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 78,5% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 69,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 68,6%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 84,3% (chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 84%; chi y tế bằng 82,6%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 84,4%; chi sự nghiệp kinh tế bằng 88,6%; chi quản lý nhà nước, đảng, đoàn thể bằng 83,5%…); chi cải cách tiền lương bằng 75,2%; chi trả nợ và viện trợ bằng 88,8%.

5. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế 10 tháng năm 2007 ước tính đạt 583,8 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước gần 62 nghìn tỷ đồng, giảm 4%; kinh tế tập thể 5,7 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7%; kinh tế cá thể 333,4 nghìn tỷ đồng, tăng 23,8%; kinh tế tư nhân 167,5 nghìn tỷ đồng, tăng 34,1%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 15,2 nghìn tỷ đồng, tăng 23,9%. Theo ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm 80,4% tổng mức và tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,1% và tăng 22,9%; du lịch chiếm 1% và tăng 31,6%; dịch vụ chiếm 6,5% và tăng 34,4%.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,74% so với tháng trước, trong đó giá nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng (bao gồm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) tăng 1,51%; giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,09% (thực phẩm tăng 1,19%, lương thực tăng 1,11%). Giá tiêu dùng 10 tháng tăng 8,12% so với tháng 12/2006, trong đó thực phẩm tăng 13,52%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 11,32%; lương thực tăng 9,15%; dược phẩm, y tế tăng 6,06%; các nhóm còn lại tăng phổ biến ở mức 5% hoặc thấp hơn. Giá tiêu dùng tính bình quân cho 10 tháng năm nay đã tăng 7,71% so với bình quân 10 tháng năm trước, trong đó lương thực tăng 15,01%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 10,13%; thực phẩm tăng 8,49%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng ở mức phổ biến từ 3-6%.

Giá tháng 10 tăng cao chủ yếu do (1) Giá của hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng so với tháng trước, đặc biệt là 2 nhóm có tỷ trọng lớn trong chi tiêu dùng là hàng ăn và dịch vụ ăn uống (trong đó có lương thực và thực phẩm) và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng cao là tác nhân chính đẩy giá tháng 10 lên; (2) Ảnh hưởng của tăng giá một số vật tư, nguyên, nhiên liệu trên thị trường quốc tế tăng cao đã gây áp lực đến tăng giá đầu vào trong nước và kéo theo tăng giá các sản phẩm tiêu dùng liên quan; (3) Do ảnh hưởng của cơn bão số 5 và mưa, lũ ở nhiều địa phương trong cả nước, nguồn cung lương thực, thực phẩm giảm tương đối làm tăng giá rau tươi 4%, thịt lợn tăng 1,31%, thóc gạo tăng 0,87%, thịt gia cầm tăng 0,85%. Giá tiêu dùng tăng cao không chỉ ở những địa phương bị thiên tai mà còn cả ở các tỉnh, thành phố liên quan (Nghệ An tăng 1,31%, Thừa Thiên-Huế tăng 1,2%, Ninh Bình tăng 0,94%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,82%).

Giá vàng tháng 10 tăng 6,04% so với tháng trước, tăng 14,51% so với tháng 12 năm 2006 và tăng 20,24% so với cùng kỳ năm trước. Giá vàng tăng cao là do giá vàng trên thị trường thế giới tăng mạnh và diễn biến phức tạp; mặt khác tháng 10 năm nay là thời gian cầu về vàng trang sức trong nước tăng cao. Giá đô la Mỹ giảm 0,6% so với tháng trước, do nguồn cung trong nước dồi dào, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài tiếp tục vào Việt Nam.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Giá trị hàng hóa xuất khẩu tháng 10 ước tính đạt 4,2 tỷ USD, cao hơn mức  3,77 tỷ USD đã thực hiện trong tháng 9 là 430 triệu USD và tăng 23,3% so với tháng 10 năm 2006, do một số mặt hàng xuất khẩu với giá trị xuất khẩu lớn có tốc độ tăng cao: Dầu thô tăng 33,5%, dệt may tăng 49,7%, hàng điện tử, máy tính tăng 21%, cà phê tăng 59%.

Tính chung 10 tháng năm nay, giá trị hàng hoá xuất khẩu của cả nước đạt 39,1 tỷ USD, bằng 83,5% kế hoạch năm 2007 và tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước;  trong đó, khu vực kinh tế trong nước 16,9 tỷ USD, tăng 22,4%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô 22,2 tỷ USD, tăng 16,5%. Đến hết tháng 10/2007 đã có 14 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu ở mức từ 500 triệu USD trở lên, trong đó có 9 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD. So với thời điểm cuối tháng trước, đã có thêm mặt hàng cao su được bổ sung vào danh sách các mặt hàng xuất khẩu có giá trị từ 1 tỷ USD trở lên. Trong 9 mặt hàng này, giá trị xuất khẩu dầu thô trên 6,5 tỷ USD, giảm 7,5% so với 10 tháng năm trước; dệt may 6,4 tỷ USD, tăng 31,1%; giày dép 3,2 tỷ USD, tăng 9,9%; thủy sản 3,1 tỷ USD, tăng 10,8%; sản phẩm gỗ 1,9 tỷ USD, tăng 22,4%; điện tử, máy tính 1,7 tỷ USD, tăng 23%; cà phê gần 1,6 tỷ USD, tăng 84%; gạo 1,4 tỷ USD, tăng 12,7% và cao su 1,1 tỷ USD, giảm 0,2%.

Giá trị nhập khẩu hàng hoá tháng 10 ước tính đạt 5,25 tỷ USD, tăng mạnh so với tháng trước và tăng 36% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 10 tháng, giá trị nhập khẩu hàng hoá đạt  48 tỷ USD, tăng 30,5% so với 10 tháng năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 30,7 tỷ USD, tăng 31,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 17,3 tỷ USD, tăng 28,6%. Giá trị nhập khẩu hầu hết các mặt hàng đều có tốc độ tăng cao so với 10 tháng năm trước, trong đó mặt hàng có giá trị nhập khẩu cao nhất là máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng đạt 8,3 tỷ USD, tăng 57,8%; xăng dầu 5,8 tỷ USD, tăng 16%; sắt thép 3,7 tỷ USD, tăng 56,2%; vải 3,2 tỷ USD, tăng 34,6%; chất dẻo gần 2 tỷ USD, tăng 29,3%; nguyên phụ liệu dệt, may da 1,8 tỷ USD, tăng 9,6%; hóa chất 1,1 tỷ USD, tăng 33,7%; ô tô 1 tỷ USD, tăng 88,3%; sản phẩm hóa chất 1 tỷ USD, tăng 24%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu 979 triệu USD, tăng 51,5%.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 10 tháng năm 2007 đạt trên 87 tỷ USD, tăng 24,9% so cùng kỳ năm trước. Nhập siêu hàng hoá 10 tháng là 8,9 tỷ USD, bằng 22,8% giá trị hàng hóa xuất khẩu và gấp 2,3 lần so với mức nhập siêu hàng hoá cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong nhập siêu có một phần tích cực của tăng lượng nhập khẩu hầu hết các vật tư, nguyên liệu quan trọng cho sản xuất trong nước và tăng nhập khẩu máy móc thiết bị cho đầu tư nhưng mức nhập siêu trong 10 tháng là khá cao và có thể sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng, nếu hai tháng còn lại của năm 2007 không giảm được khoảng chênh lệch đang ngày càng doãng ra giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu.

Để khắc phục tình trạng này, cần phải tiếp tục: (1) Đẩy mạnh xuất khẩu đặc biệt là những mặt hàng có giá trị lớn, được thị trường quốc tế chấp nhận; (2) Khẩn trương tìm kiếm thị trường mới; (3) Xem xét lại việc nhập khẩu ô tô và các mặt hàng không thiết yếu.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Việt Nam ngày càng được du khách quốc tế quan tâm, trong 10 tháng, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3,5 triệu lượt khách, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. Đóng góp vào mức tăng chung chủ yếu là tăng lượng khách đến du lịch nghỉ ngơi với hơn 2,1 triệu lượt người, chiếm 61,5% và tăng 27,2%; đi công việc 539,5 nghìn lượt người, chiếm 15,5% và tăng 14,9%; riêng khách đến với mục đích thăm thân nhân và các mục đích khác tăng thấp thậm chí giảm sút so với cùng kỳ.

Khách đến từ hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trong 10 tháng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Khách đến từ Trung Quốc tiếp tục tăng trở lại, ước tính đạt 469,5 nghìn lượt người, tăng 2,9% so với 10 tháng năm 2006 (10 tháng 2006 chỉ đạt 73,4% so với cùng kỳ). Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta lớn vẫn có tốc độ tăng ổn định là Hàn Quốc 393,6 nghìn lượt người, tăng 16,1%; Nhật Bản 341,8 nghìn lượt người, tăng 9,6%; Hoa Kỳ 341,4 nghìn lượt người, tăng 5,9%; Đài Loan 263,9 nghìn lượt người, tăng 14,8% (riêng khách đến từ Cam-pu-chia giảm 6%, Na-Uy giảm 11,9% và Lào giảm 13,4%). Đáng chú ý là khách đến từ một số nước châu Âu có mức chi tiêu lớn như Pháp, Anh, Đức, Liên bang Nga, Hà Lan đạt trên ba vạn lượt người liên tục có mức tăng khá cao.

Giao thông vận tải

Mặc dù, đang là mùa mưa bão, thời tiết diễn biến phức tạp, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động vận tải, nhưng khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách và hàng hoá vẫn tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư và phục vụ sản xuất. Vận chuyển hành khách 10 tháng ước tính đạt 1266 triệu lượt người và 55,6 tỷ lượt người.km, tăng 8,5% về lượt người và tăng 9,1% về lượt người.km so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, vận chuyển hành khách ở hầu hết các ngành đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trừ ngành đường sắt khối lượng vận chuyển đạt mức xấp xỉ. Vận chuyển hàng hoá 10 tháng ước tính đạt 310,1 triệu tấn và 77,7 tỷ tấn.km, tăng 8% về số tấn và tăng 7,3% về số tấn.km so với cùng kỳ năm 2006 (các đơn vị vận tải do trung ương quản lý vận chuyển 43,1 triệu tấn, tăng 6,9% và 50,9 tỷ tấn.km, tăng 7%; địa phương quản lý 267 triệu tấn, tăng 8,2% và 26,7 tỷ tấn.km, tăng 7,9%).

Bên cạnh kết quả đạt được, an toàn giao thông đang là vấn đề xã hội nổi lên thu hút quan tâm của các ngành, các cấp và cả xã hội. Tình hình trật tự an toàn giao thông thời gian qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ đã có những chuyển biến nhất định. Theo báo cáo của Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia, trong tháng 9, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1093 vụ tai nạn giao thông, làm chết 971 người và bị thương 784 người; so với cùng kỳ năm 2006 số vụ tai nạn giảm 7,69%, số người chết giảm 1,62% và số người bị thương giảm 9,89%; so với tháng trước số người chết giảm 1,62% nhưng số vụ tai nạn tăng 1,3% và số người bị thương tăng 5,1%.

Tính chung 9 tháng, trên phạm vi cả nước đã xảy ra trên 11 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 9,9 nghìn người và làm bị thương gần 8,4 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 0,64%; số người chết giảm 5,26% và số người bị thương giảm 1,77%. Tai nạn giao thông tuy có giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn ở mức cao, bình quân mỗi ngày trong 9 tháng năm nay có 41 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người và làm bị thương 31 người.

6. Thiếu đói trong nông dân

Do ảnh hưởng của cơn bão số 5 xảy ra đối với một số tỉnh miền Bắc và miền Trung nên thiếu đói trong nông dân trong tháng 10/2007 tăng cao. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến ngày 22/10/2007, trong tháng đã có 38,8 nghìn hộ với 182,1 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 0,3% tổng số hộ và 0,4% tổng số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. So với tháng trước, số hộ thiếu đói tăng 17% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 14%. So với thời điểm cuối tháng 10/2006, số hộ và số nhân khẩu thiếu đói tăng lần lượt là 44% là 47%. Để giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 5,7 nghìn tấn lương thực và hàng tỷ đồng. Bên cạnh đó, đoàn thể xã hội, quần chúng đã quyên góp tiền, lương thực để ủng hộ đồng bào trong vùng bị lũ lụt.

7. Tình hình dịch bệnh và an toàn thực phẩm

Trong tháng 10 có 1,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 846 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 74 trường hợp mắc bệnh viêm não virút và 225 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Đặc biệt, dịch bệnh sốt xuất huyết vẫn tiếp tục gia tăng cả về số trường hợp bị dịch và số người tử vong. Trong tháng, tại 39 tỉnh, thành phố đã có thêm 15,8 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 11 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến 20/10/2007, cả nước có 38,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét (8 người đã tử vong); 77,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (66 người đã tử vong); 6,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 885 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (15 người đã tử vong) và 876 trường hợp mắc bệnh thương hàn.

Trong tháng 10 đã phát hiện thêm 1,8 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 20/10/2007 lên 135,3 nghìn người, trong đó 27,8 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 15,7 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Trong thời gian gần đây, Chính phủ, các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường kiểm tra, bảo vệ vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, nhìn chung tình hình vẫn chưa được cải thiện. Riêng tháng 10, tại Bình Dương, Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Phú Yên, Quảng Trị và Yên Bái đã xảy ra 10 vụ ngộ độc thực phẩm lớn, làm 463 người bị ngộ độc. Tính chung 10 tháng năm 2007, trên địa bàn cả nước xảy ra 5,2 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 32 người đã tử vong.

8. Thiệt hại do thiên tai

Trong tháng 10/2007, cơn bão số 5 và mưa to gây lũ, gió lốc, sạt lở đất, lốc xoáy tại 23 tỉnh, thành phố. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, thiên tai đã làm 114 người chết (trong đó Nghệ An 36 người, Thanh Hóa 20 người) và 204 người bị thương. Bên cạnh thiệt hại về cây trồng và thuỷ sản, thiên tai còn làm 493 km kênh mương, 430,5 km đường xe cơ giới và 29,1 km đê, kè, bị sạt lở; 1,8 nghìn ngôi nhà và 551 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; 245,3 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, tốc mái và nhiều công trình kinh tế-xã hội khác bị hư hại, ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 3 nghìn tỷ đồng, riêng bão số 5 trên 2 nghìn tỷ đồng, trong đó Thanh Hóa 1152 tỷ đồng, Nghệ An 550 tỷ đồng, Quảng Bình 438 tỷ đồng…

Sau khi thiên tai xảy ra, các cấp, các ngành và các địa phương đã khẩn trương khắc phục hậu quả tại những vùng bị ảnh hưởng như hỗ trợ nhân dân dựng lại nhà ở; cứu trợ lương thực, thuốc chữa bệnh và xử lý môi trường đề phòng phát sinh dịch bệnh; hỗ trợ giống cây trồng để người dân tiếp tục sản xuất và ổn định cuộc sống. Tổng số tiền cứu trợ cho các hộ dân là 535 tỷ đồng; một số tỉnh như Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh còn được cứu trợ 2676 tấn gạo và các nhu yếu phẩm khác. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có quyết định trích dự phòng Ngân sách Trung ương 32 tỷ đồng và xuất cấp không thu tiền 2,2 nghìn tấn gạo từ nguồn Dự trữ quốc gia hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả mưa, lũ.

Khái quát lại, mặc dù trong tháng 10 nhiều địa phương trong cả nước, nhất là các tỉnh Bắc Trung Bộ đã bị ảnh hưởng nhiều bởi cơn bão số 5, mưa, lũ, lụt và những diễn biến phức tạp của thời tiết, nhưng tình hình kinh tế, xã hội 10 tháng tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, cùng với việc tập trung chỉ đạo, phấn đấu quyết liệt để hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội cả năm, cần phải tìm các giải pháp khắc phục những khó khăn hiện hữu, nhất là kiềm chế tốc độ tăng giá tiêu dùng và hạn chế nhập siêu.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ