I. Sản xuất nông nghiệp.
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng 10 là gieo cấy, thu hoạch lúa mùa và gieo trồng các loại cây lương thực, thực phẩm vụ đông. Tính đến 15/10 cả nước đã gieo cấy 2006,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 100,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh phía Bắc 1244,8 nghìn ha, bằng 98,4%; các tỉnh phía Nam 761,4 nghìn ha, bằng 104,8%.
Cũng đến thời điểm này, các tỉnh phía Bắc đã thu hoạch 752,5 nghìn ha lúa mùa, chiếm 60% diện tích gieo cấy, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Hồng 379,3 nghìn ha, chiếm 63%; các tỉnh Bắc Trung Bộ 120,5 nghìn ha, chiếm 60%. Những đợt áp thấp nhiệt đới và không khí lạnh trung tuần tháng 9 đã gây ra mưa lớn kéo dài làm ngập úng một số diện tích trà lúa mùa chính vụ ở nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng nên năng suất lúa mùa vụ này của vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm khoảng 2-3 tạ/ha so với vụ mùa năm 2002, trong đó Hà Tây giảm 2tạ/ha, Hà Nam giảm 2,5 tạ/ha, Ninh Bình giảm 4 tạ/ha.
Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam đang khẩn trương thu hoạch trà lúa hè thu muộn. Đến trung tuần tháng 10, các tỉnh phía Nam đã thu hoạch được 2086,4 nghìn ha diện tích lúa hè thu, chiếm 96,6% diện tích gieo cấy và bằng 104,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1793,2 nghìn ha, chiếm 94% và bằng 103,3%.
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, các địa phương phía Bắc đang đẩy mạnh việc gieo trồng cây vụ đông. Tính đến ngày 15/10, diện tích gieo trồng ngô đạt 146,4 nghìn ha, bằng 113,1% cùng kỳ năm trước; khoai lang 50,3 nghìn ha, bằng 68,1%; đậu tương 30,1 nghìn ha, bằng 125,4%; rau đậu 77,7 nghìn ha, bằng 110,7%.
II. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 ước tính tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 13,9% (Trung ương quản lý tăng 15,7%; địa phương quản lý tăng 10,7%); khu vực ngoài quốc doanh 21,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,9% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 8,8%; các doanh nghiệp khác tăng 25,4%).
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 của hầu hết các địa phương đều tăng cao so với tháng 10 năm 2002, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh: Hà Nội tăng 19,9%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 23%; Hải Phòng tăng 20,8%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 27,5%; Hà Tây tăng 11,6%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 16,1%; Quảng Ninh tăng 16,9%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 61,6%; Khánh Hoà tăng 18,4%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 23,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,7%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 16,9%; Cần Thơ tăng 25,2%, trong đó ngoài quốc doanh tăng 62,7%…
Trong tháng này, mức sản xuất của nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất cũng như phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đã tăng tương đối cao so với cùng kỳ năm trước: Điện tăng 16,4%; than tăng 21,8%; thuỷ sản chế biến tăng 11,2%; bia tăng 16,6%; quần áo may sẵn tăng 17,7%; sứ vệ sinh tăng 87,2%; xi măng tăng 12,5%; máy công cụ tăng 30%; máy biến thế tăng 47,9%; quạt điện dân dụng tăng 50%; ti vi lắp ráp tăng 19,2%; ô tô lắp ráp tăng 43,1%; xe máy lắp ráp tăng 90,8%. Tuy nhiên, vẫn còn một số sản phẩm khác tăng trưởng thấp, thậm chí còn bị giảm sút so với tháng 10/2002 như: Đường mật giảm 17,1%; thuốc ống chữa bệnh giảm 19,6%; thuốc viên chữa bệnh giảm 9,4%; xà phòng, bột giặt giảm 8,3%; động cơ điện giảm 37%; xe đạp giảm 24,3%. Trong tháng này, khai thác dầu thô ước tính chỉ đạt 1298 nghìn tấn, bằng 95,7% mức sản xuất tháng trước và bằng 85,7% cùng kỳ năm trước, chủ yếu do mỏ Đại Hùng giảm và ngừng khai thác, còn các mỏ khác vẫn khai thác theo kế hoạch đã đề ra đầu năm.
Do tháng 10 và những tháng gần đây tăng trưởng với tốc độ cao nên tính chung 10 tháng, giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp đã tăng 16% so với 10 tháng năm 2002, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,2% (Trung ương quản lý tăng 12,6%; địa phương quản lý tăng 11,4%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,7% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 6,6%; các doanh nghiệp khác tăng 21,9%).
III. Đầu tư.
Thực hiện vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước tập trung 10 tháng đạt 21020,5 tỷ đồng, bằng 92,6% kế hoạch năm. Riêng vốn trung ương quản lý 12112 tỷ đồng, đạt 101,1% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 5472 tỷ đồng, đạt 87,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1931,2 tỷ đồng, đạt 103%; Bộ Y tế 406 tỷ đồng, đạt 86,4%; Bộ Thuỷ sản 99,5 tỷ đồng, đạt 84,8%; Bộ Công nghiệp 77,9 tỷ đồng, đạt 72,3%; Bộ Văn hoá và Thông tin 167,5 tỷ đồng, đạt 72,0%; Bộ Xây dựng 161,9 tỷ đồng, đạt 50,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 184 tỷ đồng, đạt 81,8%.
Vốn địa phương quản lý đạt 8908,5 tỷ đồng, bằng 83% kế hoạch năm. Có 37 tỉnh, thành phố đạt từ 80% kế hoạch năm trở lên như: Lạng Sơn, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Ninh, Lai Châu, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Kon Tum, Bình Dương, Tiền Giang… Trong số 24 tỉnh, thành phố đạt dưới 80% kế hoạch năm có Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 15 tháng10 năm 2003 đã cấp giấy phép cho 496 dự án với tổng số vốn đăng ký 1236,6 triệu USD. Các dự án được cấp giấy phép trong 10 tháng vừa qua tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 333 dự án và 766,6 triệu USD, chiếm 67,1 % về số dự án và 62% về vốn đăng ký. Tiếp đến là ngành nông, lâm, nghiệp và thuỷ sản 54 dự án với 110,3 triệu USD, chiếm 10,9% về dự án và 8,9% về vốn đăng ký.
Nếu phân theo địa phương thì các dự án tiếp tục tập trung vào các tỉnh phía Nam với 353 dự án và 849,4 triệu USD, chiếm 71,1% về số dự án và 68,7% về vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 140 dự án và 216,6 triệu USD; Bình Dương 90 dự án và 187,6 triệu USD, Bà Rịa-Vũng Tàu 10 dự án và 157,4 triêu USD; Đồng Nai 43 dự án và 117,4 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 143 dự án với 387,2 triệu USD, chiếm 28,9% về số dự án và 31,3% về vốn đăng ký, trong đó Hải Phòng 26 dự án và 95 triệu USD; Hà Nội 45 dự án và 79,6 triệu USD; Vĩnh Phúc 11 dự án và 57,3 triệu USD; Phú Thọ 12 dự án và 48,7 triệu USD; Quảng Ninh 6 dự án và 24,2 triệu USD…
Các dự án đầu tư được cấp giấy phép nêu trên thuộc 33 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Đài Loan 121 dự án với 238,5 triệu USD; Hàn Quốc 128 dự án và 207,8 triệu USD; Quần đảo Virgin thuộc Anh 22 dự án và 182,9 triệu USD; Oxtrâylia 7 dự án và 100 triệu USD; Hồng Công 29 dự án và 97,2 triệu USD; Nhật Bản 36 dự án và 71,9 triệu USD; Trung Quốc 42 dự án và 63,9 triệu USD…
IV. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 10 tháng đầu năm 2003 ước tính đạt 725,3 triệu lượt hành khách và 32,4 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 4,3% về khối lượng vận chuyển và tăng 3,2% về khối lượng luân chuyển, trong đó đường sắt tăng 7,1% và 9,4%; đường bộ tăng 4,7% và 4,8%; đường sông tăng 2,4% và 2,4%. Vận chuyển hàng hoá đạt 210,7 triệu tấn và 48,3 tỷ tấn.km, tăng 6,6% về khối lượng vận chuyển và tăng 4,2% về khối lượng luân chuyển, trong đó vận tải trong nước thực hiện 199,8 triệu tấn và 20,3 tỷ tấn.km, tăng 6,8% và 6,2%; vận tải ra nước ngoài 10,9 triệu tấn và 28 tỷ tấn.km, tăng 3% và 2,7% .
V. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 10 tháng năm 2003 ước tính đạt 253,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 42,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,8% tổng mức và tăng 9,6%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 206,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 81,4% và tăng 12,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 4,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,8% và tăng 6,2%. Trong các ngành kinh doanh thương mại, dịch vụ thì hoạt động thương nghiệp tăng 11,5%; khách sạn, nhà hàng tăng 13,5%; dịch vụ tăng 15,9%; du lịch lữ hành giảm 10,8%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2003 giảm 0,2% so với tháng trước, trong đó nhóm phương tiện đi lại, bưu điện giảm 3,3%; thực phẩm giảm 0,3%. Các nhóm hàng hoà và dịch vụ còn lại đều tăng hoặc giữ ở mức tháng trước, trong đó dược phẩm, y tế tăng 2%; giáo dục tăng 1,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,3%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,2%; may mặc, giày dép, mũ nón tăng 0,1%. Tính chung 10 tháng năm 2003, tức là so với tháng 12/2002, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,6%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,8%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,6%; may mặc, giày dép, mũ nón tăng 2,4%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1%; giáo dục tăng 4,4%; riêng dược phẩm, y tế tăng tới 19,7%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ giảm là phương tiện đi lại, bưu điện giảm 1,7%; văn hoá thể thao, giải trí giảm 1,1%. Chỉ số giá vàng tháng 10/2003 tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 17% so với tháng 12/2002; tương tự, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,2% và tăng 1,2%.
Kim ngạch xuất khẩu 10 tháng năm 2003 ước tính đạt gần 16,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu trên 8,28 tỷ USD, tăng 14,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 8,27 tỷ USD, tăng 32,1%. Nhiều mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đã tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó dầu thô ước tính đạt trên 3,1 tỷ USD, tăng 19,8%; hàng dệt, may 3,2 tỷ USD, tăng 45%; giày dép 1,8 tỷ USD, tăng 22,7%; thuỷ sản 1,85 tỷ USD, tăng 10%; điện tử, máy tính tăng 37,4%; cà phê tăng 49,8%; cao su tăng 36,2%; sản phẩm gỗ tăng 37,2%; dây điện và dây cáp điện tăng 57,5%; hạt điều tăng 29,8%. Các mặt hàng rau quả, chè, hạt tiêu, lạc xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước. Riêng mặt hàng gạo tuy lượng xuất khẩu tăng 19,7% nhưng kim ngạch chỉ bằng 99,6% cùng kỳ năm 2002.
Kim ngạch nhập khẩu 10 tháng ước tính đạt 20,3 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 13,3 tỷ USD, tăng 27,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu gần 7,1 tỷ USD, tăng 32,5%. Kim ngạch nhập khẩu hầu hết các mặt hàng là tư liệu sản xuất, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng tăng khá cao như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 48%; nguyên phụ liệu dệt may, da tăng 21,5%; xăng dầu tăng 21,9%; sắt thép tăng 29,7%; hàng điện tử, máy tính tăng 41,9%; phân bón tăng 22,2%; hoá chất tăng 28,7%; chất dẻo tăng 26,4%. Nhập siêu 10 tháng gần 3,8 tỷ USD, bằng 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1,2 tỷ USD.
Khách quốc tế đến nước ta tháng 10/2003 ước tính đạt 226 nghìn lượt người, tăng 7,6% so với tháng trước và tăng 13,3% so với tháng 10/2002. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch SARS trong những tháng đầu năm nên tính chung 10 tháng lượng khách quốc tế đến nước ta ước tính mới đạt gần 1,9 triệu lượt người, chỉ bằng 85,5% cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 930 nghìn lượt người, bằng 74,8%; thăm thân nhân 313 nghìn lượt người, bằng 88,2%. Riêng khách đến vì công việc tăng 2,4% và mục đích khác tăng 9,2%.
VI. Tài chính.
Tổng thu ngân sách Nhà nước 10 tháng ước tính đạt 88,1% dự toán cả năm và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các khoản thu lớn đều đạt mức trên 90% dự toán và tăng khá so với cùng kỳ: Thu từ dầu thô đã vượt dự toán cả năm 3,1% và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 92% và tăng 23,6%; thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 90,2% và tăng 26,9%. Riêng thu từ kinh tế quốc doanh tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước nhưng mới đạt 76,5 mức dự toán cả năm và thu từ xuất nhập khẩu tăng 9,7% nhưng cũng chỉ đạt 82,2% dự toán.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 10 tháng ước tính đạt 81,3% dự toán cả năm và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 80,1% và tăng 8,2%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh, quản lý Nhà nước đạt 83,2% và tăng 4,2%, trong đó chi giáo dục, đào tạo đạt 82,8% và tăng 4,3%; chi y tế đạt 82,9% và tăng 6,1%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 83,1% và tăng 1,5%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 84,2% và tăng 6,4%. Bội chi ngân sách 10 tháng bằng 64,3% mức cả năm, trong đó vay trong nước bù đắp 62,4%; 37,6% còn lại được bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.
VII. Một số vấn đề xã hội.
Thiếu đói giáp hạt: Theo báo cáo của 28 tỉnh, thành phố, tại thời điểm 21/10/2003 có 49,7 nghìn lượt hộ với 252,3 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, chiếm 0,42% số hộ và 0,46% số nhân khẩu nông nghiệp. So với tháng trước, số hộ thiếu đói tháng này giảm 10% và so với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói giảm 45,3%. Để giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến 21/10/2003, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 7,5 nghìn tấn lương thực và 12,6 tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm: Tổng hợp báo cáo của các địa phương, trong tháng 10 có 12,1 nghìn lượt người bị sốt rét; 3,9 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết và 57,2 nghìn lượt người bị tiêu chảy. Cộng dồn từ đầu năm đến 19/10/2003 cả nước đã có 113,7 nghìn lượt người bị sốt rét, trong đó tử vong 30 người; 28,5 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết, tử vong 51 người và 638,5 nghìn lượt người bị tiêu chảy, tử vong 8 người. So với 10 tháng năm 2002, số người bị sốt rét giảm 14,1%; số người bị tiêu chảy giảm 11,7%. Riêng số trường hợp bị sốt xuất huyết tăng 58%. Trong 10 tháng qua còn có gần 1,5 nghìn trường hợp bị viêm não vi rút, trong đó 102 ca đã tử vong, 3,7 nghìn lượt người bị thương hàn và 277 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, đưa số người bị ngộ độc thực phẩm từ đầu năm đến nay lên 3,1 nghìn người, trong đó 29 người đã tử vong. Tháng 10 cũng đã phát hiện thêm 1290 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến ngày 19/10/2003 lên 72,8 nghìn người, trong đó có 11,1 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 6,2 nghìn người đã chết do AIDS.
Tai nạn giao thông: Trong tháng 9/2003 trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1587 vụ tai nạn giao thông, giảm 49 vụ so với tháng trước, làm chết 872 người, giảm 80 người và làm bị thương 1660 người, giảm 59 người. So với tháng 9/2002, số vụ tai nạn giảm 34,9%; số người chết giảm 11% và số người bị thương giảm 38,4%. Tính chung 9 tháng năm nay, trong cả nước xảy ra trên 15,8 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 8,8 nghìn người và làm bị thương 16,2 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 9 tháng giảm 30,5%; số người chết giảm 4,9% và số người bị thương giảm 37,2%. Mặc dù 9 tháng qua tai nạn giao thông đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước cả về số vụ, số người chết và bị thương nhưng vẫn còn ở mức cao, bình quân 1 ngày trong 9 tháng qua vẫn xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 59 người.
Thiệt hại thiên tai: Từ trung tuần tháng 9 đến nay mưa lụt, lũ, lốc, sạt lở đất đã xảy ra tại Thái Bình, Ninh Bình, Hà Giang, Lào Cai, Bắc Kạn, Yên Bái, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai, Bình Thuận, Lâm Đồng và Cà Mau. Theo báo cáo sơ bộ của các tỉnh, tính đến 22/10, thiên tai đã làm 48 người chết; 5 người mất tích và 25 người bị thương, trong đó mưa lớn, lũ lụt ở 5 tỉnh miền trung là Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên đã làm 39 người chết; 5 người mất tích và 24 người bị thương. Ngoài ra, thiên tai còn làm 800 công trình phai, đập, cống; 41,5 km đê, kè và 46,8 km kênh mương bị hư hỏng nặng; 72,5 nghìn ha lúa bị ngập, hư hại, trong đó mất trắng 18,4 nghìn ha; 9,1 nghìn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại; khoảng 1 nghìn ngôi nhà, phòng học bị sập đổ. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai trong tháng 9 và tháng 10 vừa qua ước tính trên 870 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ