I. Tình hình sản xuất nông nghiệp.
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng 10 là gieo cấy, thu hoạch lúa mùa và trồng cây vụ đông. Tính đến 15/10 cả nước đã gieo cấy được 1991,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 97% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh phía Bắc đạt 1264,9 nghìn ha, bằng 99,8%; các tỉnh phía Nam đạt 726,3 nghìn ha, bằng 92,5%.
Cũng đến thời điểm này các tỉnh phía Bắc đã thu hoạch được 702,7 nghìn ha lúa mùa, chiếm 55% diện tích gieo cấy và bằng 119,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Hồng đạt 354,5 nghìn ha, chiếm 58%; các tỉnh Bắc Trung bộ đạt 115,9 nghìn ha, chiếm 55%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa mùa trên diện tích đã thu hoạch của một số địa phương đạt mức cao: Thái Bình 55 tạ/ha, tăng 5 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; Bắc Giang 43 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha; Bắc Ninh 53 tạ/ha, tăng 2,7 tạ/ha; Hà Nam 51 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha.
Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam đang khẩn trương thu hoạch lúa hè thu muộn. Tính đến trung tuần tháng 10, các tỉnh phía Nam đã thu hoạch được 2003,4 nghìn ha, chiếm 94,4% diện tích gieo cấy và bằng 102,3% cùng kỳ năm trước.
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, các địa phương phía Bắc đang tiến hành gieo trồng cây vụ đông. Tính đến ngày 15/10, diện tích gieo trồng ngô đạt 129,4 nghìn ha, bằng 109,3% cùng kỳ năm trước; khoai lang 73,9 nghìn ha, bằng 89,4%; đậu tương 24 nghìn ha, bằng 96% và rau đậu 70,2 nghìn ha, bằng 109,7%.
II. Sản xuất công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp tháng 10 vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng khá (tăng 14,2% so với cùng kỳ 2001) do sản xuất dầu thô tiếp tục khá dần lên bên cạnh các mặt hàng trong tháng trước và 9 tháng có tốc độ tăng cao vẫn tiếp tục được duy trì như thuỷ sản chế biến, quần áo may sẵn, ô tô lắp ráp, ti vi lắp ráp, xi măng, thép cán, gạch lát…(trừ xe máy lắp ráp giảm 30,6% so với tháng 10 năm 2001).
Tính chung 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 214,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,6%, ngoài quốc doanh tăng 19% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,4% (các doanh nghiệp khác ngoài dầu khí tăng 21,6%, trong khi dầu mỏ và khí đốt chỉ còn thấp hơn 0,2% so với cùng kỳ).
Một số địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn tương đối lớn có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của công nghiệp 10 tháng là Hà Nội tăng 25,6%; Hải Phòng tăng 25%; Bình Dương tăng 33,3%; Đồng Nai tăng 16,7%, Quảng Ninh tăng 16,2%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,8%, cao hơn mức tăng của công nghiệp thành phố 9 tháng. Các sản phẩm công nghiệp quan trọng và có đóng góp quyết định cho tăng trưởng công nghiệp vẫn duy trì ở mức tăng cao so với 10 tháng 2001 là thuỷ sản chế biến tăng 21,9%; quần áo may sẵn tăng 24,1%; xi măng tăng 23,7%; ti vi lắp ráp tăng 37,1%, ô tô lắp ráp tăng 45,6%… Riêng mặt hàng xe máy tuy tháng 10 giảm chỉ còn bằng 69,4 cùng kỳ nhưng cộng chung 10 tháng vẫn tăng ở mức 43,3%.
III. Đầu tư.
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 10 tháng đầu năm 2002 ước tính đạt 18,7 nghìn tỷ đồng, bằng 84,9% kế hoạch năm. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương quản lý thực hiện 11,7 nghìn tỷ đồng, bằng 88,7%, trong đó, các Bộ có khối lượng vốn lớn là Bộ Giao thông Vận tải (chiếm 48% vốn trung ương) đạt 89,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (chiếm 18,9%) đạt 90,9%; Bộ Y tế (chiếm 5%) đạt 87,3%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương quản lý thực hiện 7,0 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% kế hoạch, trong đó đạt trên 80% có các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Nam, Quảng Trị, Lâm Đồng, Bà Rịa- Vũng Tàu… Tuy nhiên, còn có một số địa phương đạt kế hoạch thấp: Hà Tây 43,9%, An Giang 50,1%, Bắc Giang 59,9%, Thái Bình 62,9% …
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 20/10/2002 đã có 543 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1085,1 triệu USD; So với cùng kỳ năm trước tăng 30,4% về số dự án, nhưng giảm 47,6% về vốn đăng ký. Ngành công nghiệp có 420 dự án với số vốn đăng ký 804,7 triệu USD; ngành xây dựng 22 dự án và 54 triệu USD; ngành nông lâm nghiệp 12 dự án và 23,9 triệu USD.
Các dự án tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía Nam với 422 dự án và 817,2 triệu USD, chiếm 77,7% về dự án và 75,3% về vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 174 dự án và 210,9 triệu USD; Bình Dương 112 dự án và 213,1 triệu USD; Đồng Nai 70 dự án và 210,9 triệu USD… Các tỉnh phía Bắc có 121 dự án với số vốn đăng ký 267,9 triệu USD, chỉ chiếm 22,3% về số dự án và 24,7% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 44 dự án với vốn đăng ký 113 triệu USD, Hải Phòng có 16 dự án với 29,8 triệu USD, Quảng Ninh 9 dự án với 32,3 triệu USD, Lạng Sơn có 6 dự án với 11,2 triệu USD…
Các nước và vùng lãnh thổ có nhiều dự án và vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 136 dự án với số vốn đăng ký 208,6 triệu USD; Hàn Quốc 106 dự án và 194,7 triệu USD; Malaixia 21 dự án và 67,3 triệu USD; Nhật Bản 37 dự án và 82,3 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 49 dự án và 135,9 triệu USD; Liên bang Nga 5 dự án và 27,5 triệu USD; CHND Trung Hoa 35 dự án và 51,7 triệu USD; Mỹ 25 dự án với 103 triệu USD…
IV. Vận tải.
Vận tải hành khách 10 tháng đầu năm ước tính đạt 707,9 triệu lượt hành khách và gần 26,2 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3,2% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,3% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 134,8 triệu tấn và 42 tỷ tấn.km, tăng 5,5% về khối lượng hàng hoá vận chuyển và 6% về khối lượng hàng hoá luân chuyển.
Hoạt động vận tải 10 tháng đầu năm nhìn chung tăng trưởng ổn định, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, đáng lo ngại là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra với mức độ lớn.
V. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 10 tháng năm 2002 ước tính đạt 227,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 223,1 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 4,2 nghìn tỷ đồng, giảm 0,7%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2002 so với tháng trước tăng 0,3%, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có phần ảnh hưởng của tăng giá điện đã tăng tới 3,1%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 1%; nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm giáo dục; nhóm đồ dùng và dịch vụ khác đều tăng ở mức 0,6%; còn lại các nhóm hàng khác giữ nguyên hoặc giảm nhẹ.
So với tháng 12 năm 2001, chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm nay tăng 3,4%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 5,4% (thực phẩm tăng 8,6%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,6%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,6%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,6%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 1,1%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,9%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,6%; nhóm giáo dục tăng 0,4%; Riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 1,1%.
Chỉ số giá tiêu dùng 12 tháng (Tại thời điểm tháng 10 năm 2002) tăng 4,5%, trong đó các nhóm hàng tăng mạnh là lương thực, thực phẩm tăng nhiều 8,2%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,0%; một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ là phương tiện đi lại, bưu điện giảm 1,8%; dược phẩm, y tế giảm 0,9%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,7%.
Chỉ số giá vàng tháng 10 năm 2002 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 18,2% so với tháng 12 năm 2001; tương tự chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,2% và tăng 1,9%.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 10 tăng khá so với tháng 10 năm 2001 do một số mặt hàng có tỷ trọng kim ngạch lớn tăng cao thậm chí có mặt hàng còn cao hơn mức tăng trưởng 9 tháng như dệt may, thuỷ sản, giầy dép, gạo, dầu thô, thủ công mỹ nghệ… Kim ngạch xuất khẩu 10 tháng năm 2002 ước tính đạt 13,4 tỷ USD, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu gần 7,2 tỷ USD, tăng 6,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 6,2 tỷ USD, tăng 5,9% (dầu thô giảm 7,4%, các mặt hàng khác tăng 17,8%). Các mặt hàng xuất khẩu trị giá lớn đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Hàng dệt may tăng 29,9%; thuỷ sản tăng 10,7%, giày dép tăng 18,9%; gạo tăng 24,1%; hàng thủ công mỹ nghệ tăng 44,7%; cao su tăng 51,3% đã góp phần làm tăng 9,2% tổng trị giá xuất khẩu trong khi chỉ 4 mặt hàng có trị giá xuất khẩu giảm so với cùng kỳ như: Dầu thô giảm 7,4%; cà phê giảm 28%; rau quả giảm 39,1% và hàng điện tử giảm 25% làm giảm trị giá xuất khẩu 4,3%. Trong các mặt hàng xuất khẩu thì gạo được lợi nhiều do tăng giá.
Kim ngạch nhập khẩu 10 tháng năm 2002 ước tính đạt 15,4 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 10,2 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu hơn 5,1 tỷ USD, tăng 24,4%. Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu là nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong nước đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 33,9%; thuốc trừ sâu tăng 23,9%; hoá chất tăng 20,2%; sản phẩm hoá chất tăng 36,5%; sắt thép nhập khẩu tăng 24,9% về lượng và tăng 34% về trị giá; phân bón tăng 20,5% và tăng 18,1%; chất dẻo tăng 21,4% và tăng 18,7%; sợi dệt tăng 31% và tăng 30,4%; xăng dầu nhập khẩu tăng 14,2% về lượng nhưng do giá giảm nên kim ngạch nhập khẩu chỉ tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng nhập khẩu xe máy dạng linh kiện lắp ráp và xe máy nguyên chiếc đã giảm đáng kể chỉ đạt 39,4% về lượng và 43,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Nhập siêu 10 tháng năm nay khoảng 2 tỷ USD, bằng 14,6% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu gần 3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 1 tỷ USD.
Khách quốc tế đến Việt Nam 10 tháng năm nay ước tính đạt 2175,2 nghìn lượt người, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 1203,7 nghìn lượt người, tăng 17,3%; vì công việc là 362,1 nghìn lượt người, tăng 10,4%; thăm thân nhân là 365,4 nghìn lượt người, tăng 9,8%.
VI. Tài chính.
Tổng thu ngân sách Nhà nước 10 tháng ước tính đạt 89,3% dự toán cả năm và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Một số khoản thu lớn đều đạt mức trên 84% dự toán và tăng khá so với cùng kỳ: thu từ kinh tế Nhà nước đạt 84,6% và tăng 12,7% so với cùng kỳ; thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 84,3% và tăng 13,1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 90,6% và tăng 23,8%; riêng thu từ dầu thô đạt 98,0% dự toán cả năm, nhưng giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá xuất khẩu dầu thô những tháng đầu năm giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước; thu từ xuất nhập khẩu đạt 86,6% dự toán và tăng 18,6% so với 10 tháng 2001, trong đó thu thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 84,1% và tăng 18,2%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 10 tháng ước tính đạt 82,1% dự toán cả năm và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 84,8% và tăng 12,2%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh, quản lý Nhà nước đạt 84,9% và tăng 5,5% (Chi giáo dục, đào tạo đạt 84,9% và tăng 6,7%; chi y tế đạt 85% và tăng 5,1%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 85,3% và tăng 3,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 88% và tăng 4,5%).
VII. Một số vấn đề xã hội.
Thiếu đói trong dân
Theo báo cáo của 31 tỉnh, thành phố, tại thời điểm 21/10/2002 có 74,4 nghìn hộ bị thiếu đói với số nhân khẩu 375,6 nghìn người (chiếm 0,6% số hộ và 0,7% số nhân khẩu nông nghiệp). Mặc dù trong tháng 10 một số địa phương chịu ảnh hưởng nặng của thiên tai nhưng số hộ thiếu đói tháng này đã giảm 29% so với tháng trước và giảm 30,7% so với cùng kỳ năm trước. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói, từ đầu năm đến 21/10/2002 các cấp, các ngành và các địa phương đã trợ giúp các hộ thiếu đói trên 10,8 nghìn tấn lương thực và khoảng 10 tỷ đồng, trong đó riêng trong tháng 10 là 420 tấn lương thực và 549 triệu đồng.
Hoạt động văn hoá
Trong tháng 10 hoạt động văn hoá thông tin diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hoạt động phong phú tạo không khí phấn khởi trong cả nước. Các hoạt động văn hoá đã hướng về vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Trong dịp kỷ niệm 48 năm ngày giải phóng Thủ đô 10/10, thành phố Hà Nội đã có nhiều hoạt động văn hoá nghệ thuật với các đoàn nghệ thuật, các đội văn nghệ xung kích biểu diễn phục vụ nhân dân tại các điểm sân khấu ngoài trời; tại các rạp ở khu vực nội thành đều tổ chức chiếu phim Việt Nam; Công ty Phát hành Sách Hà Nội đã tổ chức tuần sách kỷ niệm ngày giải phóng Thủ đô. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt phong trào này như xây dựng thiết chế văn hoá, tăng cường đưa hoạt động văn hoá thông tin về cơ sở, tổ chức hội nghị tổng kết phong trào xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá được đẩy mạnh. Trong tháng 9, Thanh tra toàn ngành đã tiến hành kiểm tra 709 lượt cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 101 cơ sở vi phạm, thu giữ trên 6 nghìn băng đĩa các loại, 15 giấy phép hành nghề, 14 máy đánh bạc, 25 đầu máy và phạt vi phạm hành chính 215 triệu đồng.
Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 10 cả nước có khoảng 16 nghìn lượt người bị sốt rét và 2,6 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết. Tính từ đầu năm đến 19/10/2002 trong cả nước có 126,3 nghìn lượt người bị sốt rét và 17,2 lượt người bị sốt xuất huyết. Mặc dù trong tháng không xảy ra dịch bệnh nhưng trước tình hình mưa lũ có xu hướng diễn biến phức tạp tại các tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long nên ngành y tế và các địa phương cần phải có các biện pháp giám sát, phòng ngừa và can thiệp kịp thời để tránh việc một số bệnh truyền nhiễm có thể bùng phát thành dịch.
Trong tháng 10 tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và thành phố Hồ Chí Minh đã có 352 người bị ngộ độc thực phẩm nâng số người bị ngộ độc tính từ đầu năm đến 17/10/2002 trên phạm vi cả nước lên 3724 người, trong đó 59 người đã chết.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong tháng 10 đã phát hiện thêm 1419 trường hợp nhiễm HIV, tăng 344 người so với tháng trước và đưa số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 19/10/2002 lên 56,1 nghìn người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 8,4 nghìn người và đã có 4,6 nghìn người bị chết do AIDS.
Tai nạn giao thông
Tình hình tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp. Mặc dù trong tháng 9/2002 – Tháng An toàn Giao thông, số người chết do tai nạn đã giảm so với tháng 8, nhưng số vụ tai nạn và số người bị thương vẫn ở mức cao và tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 9/2002 đã xảy ra 2436 vụ làm chết 980 người và làm bị thương 2693 người; so với tháng 9/2001 tăng 7,5% số vụ, tăng 20% số người chết và tăng 2,2% số người bị thương. Tính đến hết tháng 9/2002, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 22,8 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 9,2 nghìn người và làm bị thương 25,8 nghìn người; so với cùng kỳ năm trước tăng 18,1% số vụ, tăng 19,3% số người chết và tăng 16,7% số người bị thương. Trong tổng số vụ tai nạn giao thông 9 tháng qua, tai nạn xảy ra trên đường bộ chiếm 97,6% số vụ; 96,8% số người chết và 99,3% số người bị thương.
Thiệt hại do thiên tai
Từ ngày 17/9 đến ngày 17/10/2002 đã xảy ra tình trạng mưa lớn, lũ, lốc ở một số địa phương trong cả nước, trong đó đặc biệt là tại Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo sơ bộ của 14 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bình Định, Gia Lai, Cần Thơ, Tiền Giang, Long An, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bạc Liêu và Cà Mau, mưa lũ đã làm 216 người chết và 127 người bị thương; làm trên 20 nghìn ha lúa bị úng ngập hư hại, trong đó mất trắng gần 6 nghìn ha; 8189 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 236 km đê, kè bị sạt lở cuốn trôi, làm thiệt hại 3187 ha nuôi trồng thuỷ sản, hàng nghìn ha hoa màu và nhiều công trình xã hội khác; tổng giá trị thiệt hại ước tính trong thời gian trên khoảng hơn 1,1 nghìn tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ