Kinh tế xã hội 2 tháng đầu năm 2004 diễn ra trong điều kiện trong nước và quốc tế có khó khăn: Hạn hán và rét đậm kéo dài ở các tỉnh phía Bắc; dịch cúm gia cầm xảy ra trên hầu hết các tỉnh và thành phố, giá cả trong nước và giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu cho sản xuất, phục vụ các nhu cầu trong nước tăng cao, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư. Ước tính thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của các lĩnh vực kinh tế-xã hội cụ thể như sau:
1. Sản xuất nông nghiệp
Tính đến 15/02/2004 cả nước đã gieo cấy được 2381,7 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 90,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 578 nghìn ha, bằng 71,7%; các địa phương phía Nam đã cơ bản kết thúc gieo cấy với 1803,7 nghìn ha, bằng 98,8%. Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng 2 các địa phương phía Nam còn thu hoạch được 492,1 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 122,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 490,4 nghìn ha, bằng 123%.
Tiến độ gieo trồng các cây vụ đông khác và cây công nghiệp ngắn ngày nhìn chung nhanh hơn cùng kỳ năm 2003, trong đó ngô 286,6 nghìn ha, bằng 122,4%; đậu tương 40,8 nghìn ha, bằng 117,6%; lạc 118,3 nghìn ha, bằng 98,4%; rau đậu 282,5 nghìn ha, bằng 106,9%; riêng thuốc lá chỉ đạt 10,4 nghìn ha, bằng 70,7%.
Sản xuất nông nghiệp các tỉnh phía Bắc hiện nay đang gặp một số khó khăn lớn, trước hết là tình trạng hạn hán chưa từng có trong vòng 40 năm qua và Tết Nguyên đán Giáp Thân cũng là Tết rét đậm nhất trong 8 Tết gần đây. Hạn hán và rét đậm đã làm mực nước các sông suối, hồ đập khu vực phía Bắc bị cạn kiệt xuống dưới mức trung bình hàng năm. Hồ Hoà Bình đã hụt trên 1,6 tỷ m3 nước so với cùng kỳ năm 2003. Theo ước tính của Cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) toàn miền Bắc sẽ có ít nhất 22 nghìn ha đất trồng lúa gặp khó khăn về nước tưới và 800 ha phải chuyển sang trồng các cây màu như lạc, ngô, đậu tương.
Ngoài khó khăn về thời tiết, sản xuất nông nghiệp trong những ngày vừa qua còn bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm. Trong 2 tháng bùng phát dịch, đến hết ngày 15/2/2004 cả nước có 57 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với 381 huyện, quận và 2566 xã, phường đã xảy ra dịch cúm gia cầm (Trừ 7 tỉnh là: Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Khánh Hoà, Đắk Nông, Bình Thuận và Phú Yên). Số gia cầm mắc bệnh chết và bị tiêu huỷ gần 40 triệu con, bằng 15,7% tổng đàn gia cầm của cả nước năm 2003 và 970 triệu quả trứng.
Ngay từ khi dịch cúm gia cầm xảy ra, các cấp, các ngành và nhân dân cả nước đã huy động tối đa nguồn lực trong nước, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế để phòng chống dịch. Đến nay, một số địa phương đã bước đầu kiểm soát và khống chế được dịch bệnh. Số ổ dịch mới và số gia cầm mắc bệnh giảm dần từng ngày. Hầu hết các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ đã cơ bản khống chế được dịch. Theo Cục Thú y, trong 15 ngày (từ 5-20/2) đã có 9 tỉnh không phát hiện thêm ổ dịch mới là Hoà Bình, Thanh Hoá, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lai Châu, Kon Tum và Kiên Giang.
2. Sản xuất công nghiệp
Do ảnh hưởng của nghỉ Tết Nguyên đán, số ngày sản xuất trong tháng 2 năm 2004 cao hơn 2003, nên chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 2 tăng cao hơn nhiều so với tháng 2 năm trước một phần do yếu tố mùa vụ. Vì vậy, đánh giá riêng rẽ mức tăng trưởng sản xuất công nghiệp từng tháng 1 và tháng 2 có những khác biệt lớn và hạn chế. Giá trị sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 55,5 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6% so với 2 tháng đầu năm 2003, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,3% (trung ương quản lý tăng 14,9% và địa phương quản lý tăng 7,2%), khu vực ngoài quốc doanh tăng 22% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,3% (dầu mỏ và khí đốt tăng 18,3% và các ngành khác tăng 12,8%). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có vị trí then chốt trong tăng trưởng công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ như dầu thô khai thác tăng 14%, than tăng 18%, thuỷ sản chế biến tăng 24,3%, giày dép, quần áo may sẵn tăng 14,5%, giấy bìa tăng 26,6%, phân hoá học tăng 17,9%, thép cán tăng 23,5%, máy công cụ tăng 27,1%, ti vi lắp ráp tăng 56,5%, xe máy lắp ráp tăng 35,5%, xe đạp tăng 25,5% và điện tăng 15,6%.
Công nghiệp 2 tháng đầu năm nay có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ là do: Một số ngành công nghiệp năm 2004 đã ký kết được hợp đồng tiêu thụ trong nước và mở rộng được thị trường xuất khẩu như than, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, dây cáp điện, xe đạp và phụ tùng… Một số doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu sang Mỹ, Hồng Kông, Châu Phi, EU các sản phẩm đồ gỗ, hàng may mặc, thuỷ sản đông lạnh… Các doanh nghiệp thuộc ngành đóng tàu ở Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hoà… đã nhận mới các hợp đồng đóng tàu cho nước ngoài. Thuỷ sản chế biến tăng do tăng mạnh nhu cầu tiêu dùng trong nước, nhất là do yêu cầu thay thế các sản phẩm từ gia cầm và chế biến. Các mặt hàng sản xuất phục vụ Tết năm nay được quan tâm đến chất lượng và mẫu mã, nên chiếm lĩnh được thị trường, đáp ứng đủ nhu cầu tết của nhân dân. Sau Tết, đầu tư, xây dựng được triển khai đã tác động trực tiếp đến nhiều sản phẩm phục vụ xây dựng như: Xi măng, thép xây dựng, gạch lát, sứ vệ sinh, đồ sành sứ, phụ kiện bằng thép, bằng nhựa.
Tuy nhiên, giá nhập khẩu một số nguyên, nhiên vật liệu tăng cao ảnh hưởng đến chi phí đầu vào, giá cả và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và xuất khẩu; sức mua trong nước và vấn đề mở rộng thị trường xuất khẩu vẫn là những thách thức thường xuyên đối với sản xuất công nghiệp.
3. Đầu tư
Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguốn vốn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm 2004 ước tính thực hiện được 5300,3 tỷ đồng, đạt 14,3% kế hoạch năm . Vốn trung ương quản lý ước thực hiện 2507,5 tỷ đồng đạt 19,3%, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1180 tỷ đồng, đạt 24,3%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 182,5 tỷ đồng, đạt 11,7%, Bộ Y tế 70 tỷ đồng đạt 10,1%, Bộ Giáo dục Đào tạo 54,6 tỷ đồng, đạt 13,5%; Bộ Văn hoá Thông tin 40 tỷ đồng, đạt 15,0%…
Vốn địa phương quản lý 2792,8 tỷ đồng, đạt 11,6% kế hoạch năm. Thực hiện kế hoạch vốn đầu tư của địa phương đạt tỷ lệ thấp so với kế họach năm do đến nay còn 23 trong 64 tỉnh, thành phố chưa triển khai được kế hoạch vốn năm 2004 xuống các công trình, vì vậy các địa phương trên chỉ tập trung vào thi công các công trình chuyển tiếp và các công trình bên B ứng trước vốn thi công. Vốn đầu tư địa phương quản lý của Hà Nội ước thực hiện 229 tỷ đồng, chiếm khoảng 8,2% tổng vốn địa phương quản lý thực hiện trong 2 tháng đầu năm và mới đạt 9,2% kế hoạch năm. Các con số tương ứng của thành phố Hồ Chí Minh là 579 tỷ đồng, chiếm 20,7% và đạt 9,3%.
4. Vận tải
Vận chuyển hành khách 2 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 153,6 triệu lượt hành khách và 7,3 tỷ lượt hành khách.km, tăng 4,1% về hành khách và 8,2% về hành khách.km so với cùng kỳ năm trước, trong đó đường sắt tăng 8,3% và 10,7% , đường bộ tăng 7,2% và 7,0%, hàng không tăng 9,1% và 15,1%.
Vận chuyển hàng hoá đạt gần 42,7 triệu tấn và 8,8 tỷ tấn.km, tăng 4% về tấn và 5% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước thực hiện 40,8 triệu tấn và trên 4,1 tỷ tấn.km, tăng 3,9% và 5,9%; vận tải ra nước ngoài được 1,9 triệu tấn và 4,7 tỷ tấn.km, tăng 6,3% và 4,2%.
Nhìn chung, ngành vận tải đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân nhất là nhu cầu đi lại trong dịp Tết Giáp Thân.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 2 tháng đầu năm 2004 ước đạt 59,5 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 17%; tập thể tăng 11,8%; kinh tế cá thể (chiếm 63,7%) tăng 12,9%; kinh tế tư nhân tăng 32,4% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,1%. Trong các ngành kinh doanh, ngành thương nghiệp (chiếm 82,1%) tăng 18,5%; khách sạn, nhà hàng tăng không đáng kể; dịch vụ tăng 26,7%; riêng du lịch giảm 8,3% so với 2 tháng đầu năm trước.
Giá tiêu dùng tháng 2/2004 so với tháng trước tăng 3%, chủ yếu do giá thực phẩm tăng 6,8%, các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác chỉ tăng trên dưới 1% (Văn hoá, thể thao, giải trí tăng 1,6%; lương thực tăng 1,5%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,5%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,7%; phương tiện đi lại và bưu điện tăng 0,7%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,5%; may mặc, giầy dép và mũ nón giảm 0,3%; dược phẩm và y tế tăng 0,5%…). So với tháng 12/2003 giá tiêu dùng tháng 2 tăng 4,1%, trong đó giá thực phẩm tăng 8,5%; lương thực tăng 3,6%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,4%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác phổ biến tăng ở mức 1-2%.
Xu hướng biến động giá tiêu dùng tháng 2 năm nay tương đối khác so với xu hướng tiêu dùng thường lệ là giá tháng sau Tết (nhu cầu mua sắm và tiêu dùng các loại hàng hoá và dịch vụ thường thấp hơn tháng Tết) thấp hơn giá tháng Tết hoặc đứng: Giá tháng 2/2004 là tháng sau Tết Giáp thân, tăng tới 3% so với tháng trước trong khi giá tháng 3/2003, sau Tết Quí Mùi giảm 0,6%; giá tháng 3/2002, sau Tết Nhâm Ngọ giảm 0,8% và giá tháng 2/2001, sau Tết Tân Tỵ tăng 0,4%. Giá tháng 2/2004 không những tăng so với tháng trước và tăng cả so với tháng 2 năm trước (là tháng Tết của năm trước có mặt bằng giá tương đối cao so với các tháng trong năm 2003). Chính vì vậy mức tăng giá tiêu dùng của tháng 2 là tương đối cao và rất đáng quan tâm. Nguyên nhân của sự tăng giá trên do ảnh hưởng của thiếu hụt gia cầm và thịt gia cầm chế biến trên thị trường; tháng 2 nhuận, tâm lý dự phòng lương thực trong nông dân tăng làm giảm cung lương thực trên thị trường và việc điều chỉnh tăng giá bán xăng dầu.
Giá vàng tháng 2 giảm 0,9% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng 2,2% so với tháng 12/2003. Hai chỉ tiêu tương ứng của giá đô la Mỹ là tăng 0,4% và tăng 0,1%.
Kim ngạch xuất khẩu 2 tháng 2004 ước tính đạt 3,3 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 1,5 tỷ USD và giảm 1,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,1% (dầu thô tăng 7,2% và hàng hoá khác tăng 25%). Tuy trong hai tháng qua bình quân một tháng đã xuất khẩu được 1,6 tỷ USD, tương đương mức bình quân một tháng của năm 2003, nhưng nhìn chung mức tăng xuất khẩu 2 tháng thấp hơn so với mức tăng 44,2% của 2 tháng đầu năm 2003. Xuất khẩu dầu thô ước đạt 3,2 triệu tấn và 746 triệu USD, tăng 11% về lượng và 7,2% về kim ngạch, đóng góp 20% trong tăng xuất khẩu; giá dầu thô có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới vì các nước OPEC có thể sẽ giảm hạn ngạch khai thác từ 1/4/2004. Xuất khẩu giày dép ước đạt 444 triệu USD tăng17,4% và đóng góp 26,3%. Các mặt hàng như dây cáp điện, xe đạp và phụ tùng, hàng thủ công mỹ nghệ, cà phê, hạt tiêu có kim ngạch tăng khá so với cùng kỳ, do chất lượng ngày càng nâng cao và mở rộng thêm thị trường vào Mỹ.
Xuất khẩu gạo đang được giá trên thị trường quốc tế nhưng cả lượng và kim ngạch hai tháng đều giảm mạnh (lượng giảm 44,1% và kim ngạch giảm 29,7%), do tiến độ thu hoạch lúa đông xuân của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đến 15/2/2004 mới đạt 32% tổng diện tích và giá thu mua trong nước cao nên chưa tập trung được nguồn hàng. Xuất khẩu hàng dệt may giảm 1,4%. Xuất khẩu thuỷ sản giảm 2,4%, do tôm đang vào cuối vụ thu hoạch và do nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản trong nước tăng mạnh từ khi có dịch cúm gia cầm. Xuất khẩu hàng điện tử, máy tính, rau quả, cao su đều giảm so với cùng kỳ.
Kim ngạch nhập khẩu 2 tháng ước đạt 3,6 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, chậm hơn tốc độ tăng 8,1% của kim ngạch xuất khẩu; trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15%.
Nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu có kim ngạch tăng cao như xăng dầu, sắt thép, đặc biệt là phôi thép; phân u rê, hoá chất, thuốc trừ sâu, vải, bông, gỗ và nguyên phụ liệu gỗ. Tuy nhiên, giá nhập khẩu của các mặt hàng như xăng dầu, thép, sợi dệt, bông, phân u rê, chất dẻo tăng cao so với cùng kỳ nên lượng nhập khẩu các mặt hàng này tăng không cao hoặc giảm: Nhập khẩu xăng dầu tăng 32,8% về kim ngạch và 21,9% về khối lượng, sắt thép tăng 30,6% và 8,3% (trong đó phôi thép tăng tới 104,1% và 59,8%); sợi dệt tăng 17,7% và 6,9%; bông tăng 48,6% và 12%; phân u rê tăng 25,4% và giảm 12,2%; chất dẻo tăng 0,8% và giảm 16%… Nhập khẩu máy móc thiết bị 2 tháng đầu năm ước tính đạt 549 triệu USD, giảm tới 16,2% so với cùng kỳ. Nhập khẩu máy móc thiết bị giảm và giá nhập khẩu của một số mặt hàng chủ lực tăng cao sẽ ảnh hưởng đến mức sản xuất trong nước và làm tăng chi phí đầu vào, tăng giá sản phẩm và giảm sức cạnh tranh trong tương lai. Nhập siêu 2 tháng đầu năm là 310 triệu USD, bằng 9,3% kim ngạch xuất khẩu.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2004 ước đạt 520,3 nghìn người, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch tăng 12,1%, vì công việc tăng 4,7%, thăm người thân tăng 2,9% và mục đích khác giảm 16,1%. Lượng khách quốc tế đến từ Trung Quốc đạt 150 nghìn người và tăng 27,5% so với 2 tháng đầu 2003, từ Đài Loan đạt 41,1 nghìn và tăng 7,8%; từ Hàn Quốc đạt 36,5 nghìn và tăng 44,7%, từ Úc đạt 24,2 nghìn và tăng 5,6%, từ Mỹ đạt 57 nghìn và giảm 8,3%, từ Nhật Bản đạt 48 nghìn và giảm 13,9%…
6. Ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách 2 tháng đầu năm ước tính đạt 14,8% dự toán cả năm và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu từ khu vực kinh tế Nhà nước đạt 13,2% và tăng 16,8%; thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 18% và tăng 15,4%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Không kể dầu thô) đạt 19% và tăng 24%; thu từ xuất, nhập khẩu đạt 13,5% và giảm 4,8%; thu từ dầu thô đạt 15,6% và giảm 15,1%.
Tổng chi ngân sách 2 tháng ước tính đạt 12,3% dự toán cả năm và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 11% và tăng 16,6%; chi thường xuyên đạt 14,6% và tăng 9,1%. Các khoản chi quan trọng đều đạt ở mức cao: chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 11,3% dự toán cả năm và tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước, chi sự nghiệp kinh tế đạt 15,6% và tăng 11,7%; chi cho giáo dục, đào tạo đạt 14,1% và tăng 7,5%; chi cho sự nghiệp y tế đạt 14,1% và tăng 9,2%; chi cho văn hoá, thông tin đạt 14,6% và tăng 2,9%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 15,5% và tăng 8,3%. Bội chi 2 tháng bằng 2,5% tổng dự toán bội chi cả năm Quốc hội cho phép.
7. Một số vấn đề xã hội
a. Tình hình đón Tết Nguyên đán
Trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thân, các cấp, các ngành và các địa phương đã tổ chức tốt nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, giữ gìn vệ sinh môi trường và đảm bảo trật tự an toàn xã hội để nhân dân cả nước đón Tết vui tươi, lành mạnh. Công tác đền ơn, đáp nghĩa và trợ giúp các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện tích cực như tặng quà của Chủ tịch nước, của các cấp, các ngành và các tổ chức, cá nhân cho các đối tượng chính sách, thương binh, gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, các trại điều dưỡng thương binh, trung tâm điều dưỡng, người có công, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người nghèo nhằm thực hiện tốt chủ trương “Không để người nghèo nào không có Tết”. Lượng hàng hoá phục vụ Tết tương đối phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu mua sắm của nhân dân. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên giá cả một số mặt hàng thực phẩm có biến động, nhất là trong những ngày giáp Tết và sau Tết Nguyên đán. Trật tự an toàn giao thông trong dịp Tết có chuyển biến tích cực. So với Tết Quý Mùi, số vụ tai nạn trong những ngày Tết Giáp Thân (từ ngày 30 đến mồng 5 Tết) đã giảm 29%; số người chết giảm 0,7% và số người bị thương giảm 39,8%.
b. Thiếu đói trong dân
Theo báo cáo của 30 tỉnh, thành phố, trong tháng 2/2004 đến thời điểm 20/2 có 125,5 nghìn hộ với 542 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,1% số hộ và 1% số nhân khẩu nông nghiệp. Thiếu đói tháng 2/2004 tuy tăng so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước đã giảm đáng kể cả về số hộ và số nhân khẩu thiếu đói: số hộ thiếu đói giảm trên 10 vạn hộ, số nhân khẩu thiếu đói giảm 440 nghìn người. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến 20/2/2004, các cấp, các ngành, các địa phương đã trợ giúp cho các hộ thiếu đói trên 2 nghìn tấn lương thực và khoảng 3,5 tỷ đồng, riêng tháng 2 là khoảng 0,9 nghìn tấn lương thực và 1,8 tỷ đồng.
c. Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 2 có 1,9 nghìn người bị bệnh sốt rét; trên 1,6 nghìn người bị sốt xuất huyết và 145 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm. So với tháng trước, số người bị sốt xuất huyết cao gấp 1,8 lần nhưng số người bị sốt rét chỉ bằng 26,6%. Trong tháng cũng đã có 4 trường hợp bị tử vong do sốt xuất huyết và 2 trường hợp bị chết do ngộ độc thực phẩm.
Trong tháng 2/2004, cả nước đã phát hiện thêm 948 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV trong cả nước đến nay lên 77,5 nghìn người, trong đó có 11,8 nghìn bệnh nhân AIDS và 6,7 nghìn người đã chết do AIDS.
Về tình hình viêm phổi do vi rút và nhiễm vi rút H5N1, hiện nay ngành Y tế và các địa phương đang theo dõi, giám sát chặt chẽ và triển khai nhiều biện pháp phòng chống tích cực. Tính từ 27/10/2003 đến nay đã có 231 trường hợp nghi mắc viêm phổi do vi rút thuộc 29 địa phương, trong đó 36 trường hợp đã tử vong. Số trường hợp xét nghiệm dương tính vi rút H5N1 là 20 người, trong đó 14 trường hợp đã tử vong.
d. Tai nạn giao thông
Tai nạn giao thông trong tháng 1 đã giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 1/2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1683 vụ tai nạn giao thông làm chết 1054 người và làm bị thương 1536 người. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông tháng 1/2004 giảm 27,1% số vụ; giảm 8,6% số người chết và giảm 36,7% số người bị thương. So với tháng trước, tai nạn giao thông cũng giảm 8 vụ; với số người chết giảm 39 người và bị thương giảm 6 người.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ