1. Sản xuất nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp tháng này tập trung chủ yếu vào việc gieo trồng và chăm sóc các loại cây vụ đông. Tính đến 15/1, cả nước đã gieo cấy được 1841,1 nghìn ha lúa đông xuân, xấp xỉ cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 112,2 nghìn ha, bằng 76,7%; các địa phương phía Nam 1728,9 nghìn ha, bằng 101,5%. Riêng các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống được 1456,6 nghìn ha, bằng 100,4% cùng kỳ năm trước. Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, các địa phương phía Nam còn thu hoạch được 711,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 97,3% cùng kỳ năm 2003, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 258,8 nghìn ha, bằng 93,3%.
Tiến độ gieo trồng các loại cây vụ đông khác nhìn chung nhanh hơn cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến thời điểm trung tuần tháng này, diện tích gieo trồng ngô đạt 216 nghìn ha, tăng 18%; đậu tương đạt 33,3 nghìn ha, tăng 15,6%; lạc đạt 30,1 nghìn ha, tăng 5,2%; rau đậu đạt 215 nghìn ha, tăng 0,3%; riêng khoai lang chỉ đạt 114,1 nghìn ha, giảm 4,1%.
Trong tháng xảy ra dịch cúm gà, bắt đầu từ Long An và Tiền Giang. Theo thông tin từ Cục Thú y- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 18 tháng 1 đã có 19 tỉnh và thành phố có dịch cúm gà, trong đó có 11 tỉnh ở phía Nam và 8 tỉnh ở phía Bắc. Ước tính có tới 2 triệu gia cầm, chủ yếu là gà bị nhiễm bệnh (Tổng đàn gia cầm năm 2003 ước tính khoảng 254 triệu con). Cục Thú y đã có văn bản gửi các địa phương hướng dẫn cụ thể các phương pháp tiêu độc, khử trùng môi trường để phòng chống dịch cúm gà. Biện pháp mạnh của một số đơn vị và địa phương là tiêu huỷ toàn bộ gia cầm có trong vùng dịch. Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có chỉ đạo hỗ trợ khoảng 30% thiệt hại cho nông dân chăn nuôi gà bị dịch nhưng thiệt hại trực tiếp cho đàn gia cầm vẫn ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân vì nguy cơ phá sản là khá cao đối với người chăn nuôi gà ở qui mô lớn, nếu đàn gia cầm bị nhiễm dịch và do dịch cúm gà xảy ra ở thời điểm trước Tết Nguyên đán, là thời gian mà nhu cầu tiêu dùng thịt gà tương đối cao so với các thời điểm khác trong năm.
2. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1 năm 2004 ước đạt 27,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với tháng 1/2003, trong đó doanh nghiệp nhà nước trung ương tăng 7,1%; công nghiệp do địa phương quản lý tăng 12,8% (doanh nghiệp nhà nước địa phương tăng 5,9%; khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 16,2%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9% (tổng công ty dầu khí tăng 11,2% và các ngành khác tăng 8,3%).
Công nghiệp tháng 1 ước tính chỉ tăng ở mức 10% so với cùng kỳ và thấp hơn nhiều so với mức sản xuất của tháng 12 (chỉ bằng 88,2%) là do đặc điểm thời vụ sản xuất công nghiệp nên tháng 12 năm 2003 đã tập trung cao độ cho sản xuất hàng phục vụ tiêu dùng Tết và hoàn thành các đơn hàng cuối năm. Mặt khác, năm nay nghỉ Tết Giáp thân từ 21- 26 tháng 1 nên số ngày sản xuất giảm đáng kể (Cùng kỳ năm trước, Tết Quí mùi vào ngày 1 tháng 2 nên nghỉ Tết chủ yếu trong tháng 2).
Mức tăng trưởng công nghiệp của các mặt hàng trong tháng 1 ước tính có sự chênh lệch lớn giữa các sản phẩm và ngành sản phẩm, chủ yếu do đặc điểm thời vụ, chu kỳ sản xuất: Một số sản phẩm chủ lực của công nghiệp vẫn giữ được mức tăng cao so với mức tăng chung của toàn ngành như: Sản xuất than tăng 18,5% so với tháng 1/2003 do ngay từ đầu năm ngành than đã ký kết được hợp đồng tiêu thụ 2004 cao hơn 2003 cả về lượng và giá trị; thuỷ sản chế biến tăng 22,9%; bột ngọt tăng 16,2%; sứ vệ sinh tăng 65,7%; máy công cụ tăng 19,2%; ô tô lắp ráp tăng 16,9%; xe máy lắp ráp tăng 19,1%; điện tăng 14,4%… Riêng dầu thô khai thác tăng 8,4% (tháng 1 năm trước tăng 6,4%). Nhóm các mặt hàng dệt, may, da giày đạt mức tăng trưởng thấp, do đã bão hoà nhu cầu tiêu dùng nội địa và chưa triển khai được nhiều các hợp đồng xuất khẩu, hoặc phải chờ hợp đồng và hạn ngạch xuất khẩu 2004. Một số mặt hàng chủ yếu khác như xi măng, giấy, vải có mức tăng trưởng tương đối thấp. Các mặt hàng giảm so với mức sản xuất của tháng 1 năm trước do giá nhập nguyên liệu cao nên khó cạnh tranh với hàng nhập ngoại, nhu cầu bão hoà hoặc do mùa vụ như thép cán giảm 20,5%; đường mật giảm 9,9%; phân hoá học giảm 9,2%, quạt điện dân dụng giảm 10,3%…
Theo địa bàn sản xuất, công nghiệp của 13/15 tỉnh và thành phố có qui mô sản xuất công nghiệp lớn đều có tăng so với tháng 1/2003 với các mức rất khác nhau. Đáng chú ý là công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,9%, Đồng Nai tăng 13,9%, Hải Phòng tăng 12,3%, Vĩnh Phúc tăng 13,8%, trong khi Hà Nội giảm 7,6% so với cùng kỳ và chỉ bằng hơn một nửa mức sản xuất của tháng 12/2003.
3. Đầu tư
Năm 2004, kế hoạch vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách Nhà nước đợt 1 là 37,1 nghìn tỷ đồng, trong đó các đơn vị địa phương quản lý chiếm 64,9% và các đơn vị trung ương quản lý chiếm 35,1%. Tỷ lệ vốn của địa phương quản lý từ 46,9% năm 2003 tăng lên 64,9%, trong khi đó vốn của trung ương từ 53,1% giảm xuống còn 35,1%.
Tháng 1/2004 các đơn vị tập trung triển khai kế hoạch vốn xây dựng năm 2004, thanh, quyết toán khối lượng xây dựng hoàn thành năm 2003 và tạm dừng thi công để nghỉ Tết Giáp thân. Năm nay, Tết vào cuối tháng 1 nên tiến độ thi công các công trình tháng này đạt thấp so với cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện là 2265,4 tỷ đồng, đạt 6,1% kế hoạch năm. Vốn trung ương quản lý 941,2 tỷ đồng đạt 7,2%, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 388,8 tỷ đồng, đạt 8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 94,2 tỷ đồng, đạt 6%; Bộ Y tế 25 tỷ đồng, đạt 3,6%; Bộ Xây dựng 23,4 tỷ đồng, đạt 21,7%; Bộ Văn hoá Thông tin 17,3 tỷ đồng, đạt 6,5%…
Vốn địa phương quản lý ước thực hiện 1324,2 tỷ đồng, đạt 5,5% hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 5%; thành phố Hồ Chí Minh đạt 3,2%; Hải Phòng 8,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 7,2%; Đồng Nai đạt 4%…

4. Vận tải.
Vận chuyển hành khách tháng 1 năm 2004 ước tính đạt gần 76 triệu lượt hành khách và 3,5 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 4,1% về hành khách vận chuyển và 7,7% về hành khách luân chuyển, trong đó đường sắt tăng 18,0% và 26,6%; đường bộ tăng 4,1% và 4,4%; hàng không tăng 8,6% và 13,7%.
Vận chuyển hàng hoá đạt 21,1 triệu tấn và gần 4,4 tỷ tấn.km, tăng 4,5% về khối lượng vận chuyển và 3,4% về khối lượng luân chuyển, trong đó vận tải trong nước thực hiện 20,2 triệu tấn và trên 2 tỷ tấn.km, tăng 4,6% và 4,9%; vận tải ra nước ngoài được trên 0,9 triệu tấn và trên 2,3 tỷ tấn.km, tăng 3,9% và 2,2%.
Ngành vận tải đã chuẩn bị tương đối tốt để phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân trong dịp tết Giáp Thân như: Tăng thêm tuyến vận tải; kiểm tra việc đảm bảo an toàn kỹ thuật của phương tiện; phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông tăng cường kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông…
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tháng 1 năm 2004 ước tính tăng 15,6% so với tháng 1/2003, trong đó kinh tế nhà nước tăng 17,3%; tập thể tăng 18,6%; kinh tế cá thể chiếm khoảng 62% tăng 9,5%; kinh tế tư nhân tăng tới 40,3% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,7%. Trong các ngành kinh tế, ngành thương nghiệp chiếm 81,7% và tăng 17,4%; dịch vụ tăng 14,8%; khách sạn nhà hàng tăng 6,2% và du lịch tăng 1,7%. Doanh thu từ dịch vụ du lịch chiếm tỷ trọng nhỏ, chưa đầy 1% tổng số nhưng so với tháng 12/2003 tăng tới 9,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 1 tăng mạnh so với cùng kỳ do tháng 1 năm nay là tháng chuẩn bị đón Tết Giáp thân nên thị trường sôi động hơn và nhu cầu mua sắm và tiêu dùng hàng hoá phục vụ Tết của dân cư tăng mạnh.
Giá tiêu dùng tháng 1 tăng 1,1% so với tháng 12/2003. Trừ giá phương tiện đi lại và bưu điện không có biến động, các nhóm mặt hàng tiêu dùng và dịch vụ khác đều tăng với các mức khác nhau. Trong đó các nhóm và phân nhóm hàng như lương thực; thực phẩm; đồ uống và thuốc lá; hàng may mặc, mũ nón và giày dép là những mặt hàng tiêu dùng nhiều trong Tết đều có mức tăng cao hơn mức tăng giá chung. So với tháng 1 năm 2003, giá tiêu dùng tăng 3,2%, trong đó nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 5,6%; dịch vụ giáo dục tăng 4,9%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,4%; cá biệt dược phẩm, y tế tăng tới 20,9%. Riêng phuơng tiện đi lại, bưu điện giảm 2,3% và văn hoá, thể thao giải trí giảm 1,2%. Nhìn chung, giá tiêu dùng tháng 1 tăng theo qui luật cung cầu với nguồn hàng cung ứng trên thị truờng dồi dào nên nói chung giá không biến động nhiều.
Giá vàng tháng 1/2004 tiếp tục tăng, so với tháng 12/2003 tăng 3,1% và so với tháng 1/2003 tăng tới 23,8%, một phần do nhu cầu vàng trang sức tháng áp Tết tăng lên. Giá USD giảm nhẹ (-0,3%) so với tháng 12/2003 và tăng 1,7% so với cùng kỳ.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2004 uớc tính đạt 1,65 tỷ USD, tăng 2,2% so với tháng 1 năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 768 triệu USD và giảm 5,6% trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 10% (dầu thô tăng 6,2% và các mặt hàng khác tăng 13,1%). Kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm nay tăng thấp do những mặt hàng chủ lực như thuỷ sản, giày dép đều chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ và hàng dệt may giảm tới 14,8%. Xuất khẩu dầu thô tăng 6,2%, đã đóng góp tới 63,4% vào tăng kim ngạch tháng 1. Xuất khẩu gạo cả về lượng và kim ngạch đều chỉ đạt hơn một nửa kim ngạch của tháng 1/2003. Riêng mặt hàng than đá tăng đều cả lượng và kim ngạch (lượng xuất khẩu tăng 11,4% và kim ngạch tăng 12%), do ngay từ đầu năm đã ký kết được hợp đồng với khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cho 2004 tăng. Các mặt hàng điện tử, máy tính; cà phê; thủ công, mỹ nghệ; cao su và sản phẩm gỗ đều có kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng mỗi mặt hàng mới chỉ xuất khẩu được khoảng 35-55 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 1 ước đạt 1,82 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong đó khu vực trong nước tăng 7,9% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,4%. Nhập khẩu các nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất trong nước đều tăng cao so với tháng 1 năm trước: Xăng dầu tăng 30,4% về kim ngạch và 12,6% về lượng, sắt thép tăng 25,5% và 7,5% (trong đó phôi thép tăng tới 321,3% và 200%); chất dẻo tăng 29,5% và 5,9%; sợi dệt tăng 13,8% và 6,7%; bông tăng 27,4% và 18,3%. Nhập khẩu máy móc thiết bị trong tháng đầu năm ước tính mới đạt 350 triệu USD và tăng 7,7%. Nhập khẩu ô tô và xe máy đều giảm so với tháng 1 năm trước. Nhập siêu tháng 1 khoảng 170 triệu USD.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 1 ước đạt 288,4 nghìn người, tăng 17,3% so với tháng 1 năm trước, chủ yếu do ngành Du lịch đã tăng cường đầu tư để thu hút khách đến thăm quan, du lịch nhân dịp đầu năm mới và khách là người Việt Nam hoặc gốc Việt Nam về đón Tết Giáp thân. Trong đó, khách vào du lịch tăng 27,5%; thăm người thân tăng tới 33,7%; vì công việc chỉ tăng 1%, vì các mục đích khác giảm tới 22,4%. Lượng khách quốc tế vào Việt Nam giảm 2,4% so với tháng 12/2003; trong đó các khách vào vì công việc, du lịch và các mục đích khác đều giảm, riêng thăm người thân tăng tới 38% so với tháng 12/2003.
6. Một số vấn đề xã hội
Đời sống dân cư: Tháng 1, cả nước tích cực chuẩn bị đón Tết Giáp thân. Ngày 12 tháng 1, Thủ tướng Chính phủ đã có công điện gửi các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo những việc cần thực hiện tốt nhằm tạo điều kiện cho nhân dân đón Tết vui tươi lành mạnh, an toàn và tiết kiệm. Các ngành, các cấp, các địa phương đều có những hoạt động thiết thực phục vụ cho việc đón Tết của nhân dân như: tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hoá, chống hàng lậu, hàng giả, hàng kém phẩm chất; tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường việc giữ gìn trật tự, an toàn giao thông. Chủ tịch nước và UBND và các ban ngành các tỉnh, thành phố đã tặng quà Tết các gia đình có công với cách mạng và thuộc diện chính sách như người hoạt động tiền khởi nghĩa, hoạt động cách mạng (kể cả người hoạt động cách mạng đang hưởng lương); gia đình liệt sỹ, người có công kháng chiến, có công với nước; anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương bệnh binh; quân nhân, công nhân viên chức bị tai nạn lao động… Các cấp, các ngành và các địa phương đã và đang triển khai các hoạt động trợ giúp cho người nghèo, các gia đình thuộc diện bảo trợ xã hội để mọi người có thể đón Tết vui vẻ. Theo báo cáo của 10 tỉnh, thành phố, tính đến ngày 15/01/2004, tổng số người được nhận suất quà Tết và được trợ cấp dịp Tết là 344,3 nghìn, với tổng số tiền khoảng 20 tỷ đồng; Bình quân mỗi tỉnh trên đã chi gần 2 tỷ đồng, trong đó Quảng Ninh đã chi 7 tỷ đồng.
Thiếu đói trong nông dân: Theo báo cáo của 25 tỉnh/thành phố, tính đến ngày 16/01/2004, có 63,2 nghìn hộ thiếu đói (chiếm khoảng 0,53% so với tổng số hộ nông nghiệp) tương ứng với số nhân khẩu là 225,2 nghìn người (chiếm khoảng 0,4% so với tổng số nhân khẩu nông nghiệp). Thiếu đói trong tháng 1 năm 2004 tập trung ở một số tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung bộ, chủ yếu do ảnh hưởng của đợt lũ lụt vào tháng 10 và 11 năm 2003 (Phú Yên có 23,5 nghìn hộ thiếu đói, chiếm khoảng 12,8% số hộ nông nghiệp của tỉnh; Quảng Ngãi có 8 nghìn hộ, chiếm khoảng 4% số hộ nông nghiệp của tỉnh). Ngoài ra, thiếu đói cũng xảy ra ở các tỉnh vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ, là những vùng có nhiều hộ nghèo và điều kiện tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp không thuận lợi. Đến thời điểm 16/01/2004, các cấp, các ngành, các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói gần một nghìn tấn lương thực và 1,1 tỷ đồng.
Y tế
Bệnh sốt rét nhìn chung ổn định và không có dịch xảy ra. Theo báo cáo của 37 địa phương, trong tháng 1 số mắc sốt rét là 7,2 nghìn người, trong đó có 2 ca tử vong; so với tháng trước số người mắc giảm 2,3 nghìn người.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Tính đến ngày 31/12/2003 cả nước có 76,2 nghìn ca mắc HIV, số bệnh nhân AIDS là 11,7 nghìn ca và số chết do AIDS là 6,6 nghìn ca. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tập trung vào nhóm có nguy cơ cao như tiêm chích ma tuý, gái mãi dâm.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng đã xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh với 10 ca mắc, không có tử vong.
Tai nạn giao thông
Qua một năm thực hiện Nghị quyết 13/2002/NQCP ngày 19/11/2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, tình hình trật tự an toàn giao thông đã có chuyển biến đáng kể: đã ngăn chặn được tình trạng đua xe trái phép và ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn. Tai nạn giao thông năm 2003 cũng đã giảm nhiều so với năm 2002 về số vụ và số người bị thương: số vụ TNGT giảm 31,4% (giảm 9472 vụ); số người bị thương giảm 39% (giảm khoảng13,2 nghìn người); số người chết giảm 4,6% (giảm 575 người). Tuy vậy tai nạn giao thông 2003 vẫn còn ở mức cao: bình quân mỗi ngày trong năm 2003 có 56,6 vụ; 57 người bị thương và khoảng 32 người chết. Đáng chú ý là trong tổng số các vụ TNGT, TNGT đường bộ vẫn chiếm nhiều nhất (95,7%) và số người chết và số vụ TNGT tăng chủ yếu là do TNGT đường bộ.
Riêng trong tháng 12/2003, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1691 vụ tai nạn giao thông, làm chết khoảng một nghìn người và bị thương 1,5 nghìn người. So với tháng 12 năm trước TNGT đã giảm 778 số vụ (giảm 31,5%), số người chết giảm 23 người (giảm 2,1%) và số người bị thương giảm 1296 người (giảm 45,7%).

TỔNG CỤC THỐNG KÊ