Bước vào năm 2007 chúng ta có thuận lợi cơ bản là sau hơn 20 năm đổi mới thế và lực của nền kinh tế nước ta cũng như những kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều đã được tăng lên đáng kể. Việc nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo thêm cơ hội để nền kinh tế nước ta hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào kinh tế thế giới. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức, đó là: Trong khi nền kinh tế còn nhiều mặt yếu kém, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp thì giá của nhiều loại vật tư nguyên liệu đầu vào quan trọng phải nhập khẩu như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo trên thị trường thế giới liên tục tăng với tốc độ cao. Đồng thời, những tháng cuối năm lại xuất hiện một số khó khăn không lường trước được như bão, lũ xảy ra liên tục ở hầu hết các địa phương thuộc vùng Trung Bộ, dịch tiêu chảy cấp xuất hiện trên địa bàn một số địa phương phía Bắc, dịch tai xanh ở lợn và dịch cúm gia cầm tái bùng phát trên diện rộng.

Để phát huy thuận lợi, tận dụng cơ hội, vượt qua khó khăn thách đố, ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ và chỉ đạo quyết liệt, năng động nhằm thực hiện Nghị quyết số 75/2006/QH11 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2007 ở mức cao nhất nên tình hình kinh tế-xã hội năm 2007 tiếp tục diễn biến theo chiều hướng tích cực. Đánh giá tổng quát, hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch đề ra đầu năm đều đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức.

  1. Tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,60%; khu vực dịch vụ tăng 8,68%. So với năm trước thì khu vực I tăng trưởng không cao do bão lũ xảy ra liên tiếp và trên diện rộng, chăn nuôi của nhiều địa phương bị dịch bệnh, hiệu quả thấp; nhưng khu vực II và đặc biệt là khu vực III tăng trưởng tương đối cao. Trong 8,48% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 0,64 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng cùng với khu vực dịch vụ đóng góp 7,84 điểm phần trăm (Hai chỉ tiêu này của năm 2006 lần lượt là: 0,67 điểm phẩn trăm và 7,4 điểm phần trăm) chứng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng đã mang lại hiệu quả tích cực, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng dựa vào phát triển công nghiệp và dịch vụ.

Tổng sản phẩm trong nước năm 2007 theo giá so sánh 1994

Tổng sản phẩm trong nước(Nghìn tỷ đồng)Tốc độ tăng      so vớinăm 2006(%)Đóng góp của mỗi khu vực vào tốcđộ tăng chung(Điểm phần trăm)
Tổng số461,198,488,48
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản82,213,410,64
Công nghiệp và xây dựng192,7110,604,34
Dịch vụ186,278,683,50

Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đã đạt mức cao nhất trong 11 năm qua và đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tế Trung Quốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4,0%).

  1. Đầu tư

Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ước tính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% tổng sản phẩm trong nước và tăng 15,8% so với năm 2006, trong đó vốn khu vực Nhà nước 200 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% tổng vốn và tăng 8,1%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 187,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,7% và tăng 24,8%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17,1%.

 

Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 2007

Nghìn tỷ đồngCơ cấu(%)Năm 2007 so với năm 2006 (%)
Tổng số461,9100,0115,8
Khu vực Nhà nước200,043,3108,1
Khu vực ngoài Nhà nước187,840,7124,8
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài74,116,0117,1

Tình hình thực hiện và giải ngân nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ nhìn chung đạt thấp. Ước tính thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (gồm vốn dự án và chương trình mục tiêu) cả năm 2007 đạt 97 nghìn tỷ đồng, bằng 101,6% kế hoạch năm, trong đó vốn do Trung ương quản lý đạt 32,6 nghìn tỷ đồng, bằng 92,2%; địa phương quản lý 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 107,2%. Kết quả giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đến hết tháng 9/2007 mới đạt 26,8% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 27,6%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 28%; các địa phương đạt 27,3%. Tính đến hết tháng 10/2007, Bộ Giao thông Vận tải thực hiện 4037 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ và giải ngân được 3197,4 tỷ đồng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện 1461,2 tỷ đồng và giải ngân được 963,9 tỷ đồng.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2007 đạt được kết quả vượt trội. Tính từ đầu năm đến 22/12/2007 có 1445 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 17,86 tỷ USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án đạt 12,4 triệu USD. Nếu tính cả 2,47 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của 379 dự án đã cấp phép trong các năm trước thì tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với cùng kỳ năm trước và vượt 56,3% kế hoạch cả năm và đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Kinh tế phát triển đã tạo nguồn thu cho ngân sách. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước năm nay ước tính tăng 16,4% so với năm 2006 và bằng 106,5% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa tăng 23,6% và bằng 107%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 39,6% và bằng 108,1%; thu viện trợ tăng 29,9% và bằng 156,7%. Riêng thu từ dầu thô ước tính bằng 102,1% dự toán năm nhưng chỉ bằng 91,4% năm 2006 (do sản lượng khai thác giảm). Trong thu nội địa, có một số khoản thu lớn tăng so với năm trước và vượt dự toán năm là: Thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước tăng 39,4% và vượt 10,3%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao tăng 37,2% và vượt 16,1%; thu phí, lệ phí tăng 12,5% và vượt 16,5%; thu lệ phí trước bạ tăng 45,6% và vượt 30,6%; các khoản thu về nhà đất tăng 33,5% và vượt 45%. Trong thu nội địa cũng có một số khoản thu tuy tăng so với năm 2006 nhưng vẫn chưa đạt dự toán cả năm như: Thu từ kinh tế Nhà nước tăng 11,8% nhưng chỉ bằng 95,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) tăng 24,9% và bằng 97,4%; thu phí xăng dầu tăng 11,2% và bằng 94,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2007 ước tính tăng 17,9% so với năm trước và bằng 106,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 19,2% và bằng 103,2%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể tăng 15,1% và bằng 107,2%; chi trả nợ và viện trợ tăng 20,5% và đạt 100%; chi cải cách tiền lương bằng 124,7% kế hoạch năm. Hầu hết các khoản chi trong chi thường xuyên đạt hoặc vượt dự toán năm, trong đó chi sự nghiệp kinh tế bằng 120,6% dự toán năm; chi y tế bằng 108,7%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể bằng 108,5%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 104,9%; chi văn hoá thông tin bằng 103,4%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 102,9%…

Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2007 ước tính bằng 14,8% tổng số chi và bằng mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong đó 76,1% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 23,9% từ nguồn vay nước ngoài.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Năm nay, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn của bão lũ và dịch bệnh gia súc, gia cầm nên mức tăng trưởng thấp. Giá trị sản xuất nông nghiệp cả năm theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 2,9% so với năm 2006, trong đó trồng trọt tăng 2,4%; chăn nuôi tăng 4,6%; dịch vụ nông nghiệp tăng 2,7% (Năm 2006 tăng 3,6%, trong đó trồng trọt tăng 2,7%; chăn nuôi tăng 7,3% và dịch vụ tăng 2,7%).

Sản lượng lúa tính chung ba vụ đạt 35,87 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm 2006, trong đó miền Bắc 12,63 triệu tấn, giảm 3,7%; miền Nam 23,24 triệu tấn, tăng 2,2%; vụ đông xuân 17,03 triệu tấn, giảm 3,2%; vụ hè thu 10,11 triệu tấn, tăng 4,3%; vụ mùa 8,73 triệu tấn, tăng 1,9%. Nếu tính thêm 4,11 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 39,98 triệu tấn, tăng 0,8% so với năm 2006.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển tuy nhiên tốc độ tăng không cao, chưa ổn định và thiếu đồng đều giữa các địa phương. Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 1/8/2007 thì cả nước có 2996 nghìn con trâu, tăng 2,6% so với năm 2006; 6725 nghìn con bò, tăng 3,3%; 226,0 triệu gia cầm, tăng 5,3%. Riêng đàn lợn sụt giảm mạnh, chỉ có gần 26,6 triệu con, giảm 1,1%, trong đó một số địa phương giảm nhiều là: Hải Dương giảm 29,6%; Long An giảm 22,2%; Đà Nẵng giảm 17,6%; Hậu Giang giảm 17,2%; Bình Thuận giảm 16,7%; Sóc Trăng giảm 14,9%; Cần Thơ giảm 14,6%; Bắc Ninh giảm 12,8%; Hải Phòng giảm 12,2%; Đồng Nai giảm 10,5%…

Điều đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp năm 2007 là gieo trồng cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa. Diện tích gieo trồng cây công nghiệp lâu năm của cả nước năm 2007 đạt trên 1,8 triệu ha, tăng 74,9 nghìn ha so với năm 2006; cây công nghiệp hàng năm 840,8 nghìn ha, tăng 6,6 nghìn ha; cây ăn quả 775,5 nghìn ha, tăng 4,1 nghìn ha. Một số cây có diện tích gieo trồng lớn và tăng nhiều so với năm 2006 là: Cao su 549,6 nghìn ha, tăng 27,4 nghìn ha; cà phê 506,4 nghìn ha, tăng 9,4 nghìn ha; điều 437,0 nghìn ha, tăng 35,2 nghìn ha; lạc 254,6 nghìn ha, tăng 7,9 nghìn ha; đậu tương 190,1 nghìn ha, tăng 4,5 nghìn ha. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số cây trồng giảm như: diện tích trồng bông giảm 40,7%; thuốc lá giảm 28,1%; hồ tiêu giảm 1,2%.

Lâm nghiệp

Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 6503 tỷ đồng, tăng 1% so với năm 2006. Trong năm đã trồng được 194,7 nghìn ha rừng tập trung, tăng 1% so với năm trước; khoanh nuôi tái sinh 969,3 nghìn ha, tăng 1,2%; diện tích rừng được chăm sóc 487,2 nghìn ha, giảm 4,7%; khai thác 3260,5 nghìn m3 gỗ, tăng 2,2%, trong đó 80% là khai thác từ rừng trồng. Nhờ đẩy mạnh trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng nên diện tích rừng của cả nước năm 2007 ước tính đạt gần 12,85 triệu ha, tăng 311 nghìn ha so với năm 2006, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 37,9% năm 2006 lên 38,8% năm 2007.

Công tác bảo vệ rừng đã được ngành kiểm lâm và các địa phương quan tâm nhưng do những tháng đầu năm thời tiết khô hanh kéo dài; lâm tặc hoạt động tinh vi và ý thức phòng chống cháy rừng, không chặt phá rừng của người dân chưa cao nên diện tích rừng bị thiệt hại vẫn tiếp tục gia tăng. Tính chung 11 tháng năm 2007, diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá trên địa bàn cả nước là 5,7 nghìn ha, tăng 3,75% so với năm 2006, trong đó gần 4,4 nghìn ha bị cháy và 1,3 nghìn ha bị chặt phá.

Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 46663 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2006, gồm có nuôi trồng 30181 tỷ đồng, tăng 16,5%; khai thác 16482 tỷ đồng, tăng 2,1%. Sản lượng thủy sản cả năm đạt 4149 nghìn tấn, tăng 11,5% so với năm 2006, trong đó cá 3053,6 nghìn tấn, tăng 13,5%; tôm 498,2 nghìn tấn, tăng 7,6%; thủy sản khác 597,2 nghìn tấn, tăng 5,2%.

Giá trị và sản lượng thủy sản tăng cao so với năm 2006 chủ yếu là do các địa phương mở rộng diện tích nuôi trồng, nhất là các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đến nay diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước đã đạt 1008 nghìn ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 322 nghìn ha nuôi cá, tăng 7,0%. Riêng diện tích nuôi cá tra và cá basa của An Giang là 1394 ha, tăng 72,6% so với năm 2006; Cần Thơ 1179 ha, tăng 42,9%; Vĩnh Long 301 ha, tăng 88,2%. Cùng với mở rộng diện tích, một số địa phương còn đầu tư nuôi thâm canh nên năng suất cũng tăng cao so với năm 2006. Cá tra nuôi hầm tại An Giang đạt 200 tấn/ha, tăng 46 tấn/ha so với cùng kỳ năm trước; nuôi công nghiệp tại Bến Tre đạt 335 tấn/ha; tăng 41 tấn/ha. Do tăng cả diện tích và năng suất nên sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2007 đã đạt 2085,2 nghìn tấn, tăng 23,1% so với năm 2006.

Tính chung cả năm 2007, giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá so sánh 1994 đạt gần 199,98 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006. Tuy nhiên do chi phí đầu vào tăng, nhất là chi phí chăn nuôi và trên 112 nghìn ha lúa, hoa màu bị mất trắng do bão lũ nên giá trị tăng thêm của khu vực này chỉ tăng 3,41% so với năm trước, gồm có nông nghiệp tăng 2,34%; lâm nghiệp tăng 1,1% và thủy sản tăng 10,38%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp năm 2007 tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 574 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2006, bao gồm khu vực doanh nghiệp Nhà nước với tỷ trọng 24%, tăng 10,3% (Trung ương quản lý tăng 13,3%, địa phương quản lý tăng 3,0%); khu vực ngoài Nhà nước, chiếm tỷ trọng 36,9%, tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm tỷ trọng 39,1%, tăng 18,2%. Nguyên nhân khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng thấp là do chúng ta đang tiếp tục thực hiện chủ trương sắp xếp và cổ phần hoá nên số doanh nghiệp khu vực này giảm. Khu vực ngoài Nhà nước vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ba khu vực, chủ yếu do Luật doanh nghiệp mới đã tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Trong ba ngành công nghiệp cấp I, ước tính giá trị sản xuất công nghiệp khai thác chiếm 6,8% giá trị sản xuất toàn ngành, giảm 1,1% so với năm trước, chủ yếu do khai thác dầu thô giảm; công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 87,6%, tăng 19,1%; sản xuất, phân phối điện, ga và nước chiếm tỷ trọng 5,6%, tăng 12,8%.

Những địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn tương đối lớn, năm nay vẫn đạt tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành (17,1%) là: Vĩnh Phúc tăng 41,4%; Bình Dương tăng 25,3%; Hà Tây tăng 25,1%; Cần Thơ tăng 23,4%; Đồng Nai tăng 22,4%; Hà Nội tăng 21,4%; Đà Nẵng tăng 19,7%; Hải Phòng tăng 18,2%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh chỉ tăng 13,8% và Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,2%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2007 tăng cao so với năm 2006 là: Máy công cụ tăng 69,8%; ô tô tăng 52,8%; điều hòa nhiệt độ tăng 51,9%; động cơ điện tăng 24,3%; xe máy các loại tăng 23,9%; máy giặt tăng 21,3%; bia tăng 19,2%; quạt điện tăng 18,6%. Bên cạnh đó, có một số sản phẩm tăng không cao, thậm chí còn bị giảm như: Thủy sản chế biến tăng 12,6%; xi măng tăng 11,8%; than sạch tăng 11,5%; thép cán tăng 10,8%; dầu thô giảm 7,8%; khí hoá lỏng giảm 10,2%.

  1. Thương mại, giá cả và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại và dịch vụ trong năm 2007 trên địa bàn cả nước diễn ra sôi động. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2007 đạt 726,1 nghìn tỷ đồng, tăng 23,3% so với năm 2006, gồm có khu vực kinh tế Nhà nước đạt 79,1 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3%; kinh tế tập thể 7 nghìn tỷ đồng, tăng 19,4%; kinh tế cá thể 407,9 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9%; kinh tế tư nhân 209,5 nghìn tỷ đồng, tăng 30,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 22,6 nghìn tỷ đồng, tăng 23,8%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng nêu trên, thương nghiệp đạt 586,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 80,7% và tăng 22,6%; khách sạn, nhà hàng 86,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% và tăng 23,5%; du lịch 7,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,1% và tăng 34,5%; dịch vụ 45,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,3% và tăng 30,5%.

Giá cả

Giá tiêu dùng tháng 12/2007 tăng 2,91% so với tháng trước. Nếu so với tháng 12 năm trước thì giá tiêu dùng tháng này tăng 12,63%, trong đó hàng thực phẩm tăng 21,16%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 17,12%; hàng lương thực tăng 15,40%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng từ 1,69% đến 7,27%. Giá tiêu dùng bình quân năm 2007 so với năm 2006 tăng 8,30%, trong đó hàng lương thực tăng 15,02%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 11,01%; hàng thực phẩm tăng 10,06%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng 3,18-6,15%.

Giá vàng so với tháng trước tăng 2,13% và nếu so với tháng 12 năm trước thì tăng 27,35%, bình quân cả năm 2007 tăng 13,62%. Ngược lại với giá vàng, giá đô la Mỹ so với tháng trước giảm 0,19%; so với cùng kỳ năm trước giảm 0,03% và bình quân cả năm tăng 0,62%.

Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ

Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước tính đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, trong đó có 10 mặt hàng đạt giá trị trên 1 tỷ USD là: Dầu thô đạt gần 8,5 tỷ USD, tăng 2,6%; dệt may 7,8 tỷ USD, tăng 33,4%; giày dép gần 4 tỷ USD, tăng 10,3%; thủy sản 3,8 tỷ USD, tăng 12,9%; sản phẩm gỗ 2,4 tỷ USD, tăng 22,3%; điện tử máy tính 2,2 tỷ USD, tăng 27,5%; cà phê 1,8 tỷ USD, tăng 52,3%; gạo 1,4 tỷ USD, tăng 13,9%; cao su cũng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 8,8% và cuối cùng là than đá trên 1 tỷ USD, tăng 11,3%. Có 10 thị trường đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó Mỹ 10 tỷ USD, tiếp đến là EU 8,7 tỷ USD; ASEAN 8 tỷ USD; Nhật Bản 5,5 tỷ USD và Trung Quốc 3,2 tỷ USD. Tuy nhiên, cũng có một số thị trường có xu hướng giảm như Ôx-trây-li-a, I-rắc.

Giá trị hàng hóa nhập khẩu năm 2007 ước tính đạt 60,8 tỷ USD, tăng 35,5% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 39,2 tỷ USD, tăng 38,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,6 tỷ USD, tăng 31%. Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu cao trong năm 2007 là máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt gần 10,4 tỷ USD, tăng 56,5%; xăng dầu 7,5 tỷ USD, tăng 25,7%; sắt thép gần 4,9 tỷ USD, tăng 66,2% (trong đó phôi thép hơn 1 tỷ USD, tăng 38,8%); vải 4 tỷ USD, tăng 33,6%; điện tử, máy tính và linh kiện 2,9 tỷ USD, tăng 43,7%; chất dẻo 2,5 tỷ USD, tăng 34,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, da 2,2 tỷ USD, tăng 12,1%; hóa chất 1,4 tỷ USD, tăng 39,1%; ô tô 1,4 tỷ USD, tăng 101%; sản phẩm hóa chất gần 1,3 tỷ USD, tăng 27,1%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu 1,1 tỷ USD, tăng 52,6%, gỗ và nguyên phụ liệu gỗ 1 tỷ USD, tăng 31,9%.

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá ngoại thương cả năm 2007 ước tính đạt 109,2 tỷ USD, tăng 28,9% so với năm 2006. Nhập siêu hàng hóa ước tính 12,4 tỷ USD, bằng 25,7% giá trị xuất khẩu hàng hóa và gấp gần 2,5 lần mức nhập siêu của năm trước. Có nhiều nguyên nhân làm cho giá trị nhập khẩu hàng hóa và nhập siêu của năm 2007 tăng cao, đặc biệt là nhập khẩu để phục vụ yêu cầu phát triển nền kinh tế. Chỉ riêng nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đã chiếm tới 17,1% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu và đóng góp 23,5% vào mức tăng chung; xăng dầu cũng chiếm 12,3% và đóng góp 9,6%. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân khác nữa là giá của nhiều mặt hàng nhập khẩu chủ yếu đều tăng cao như sắt thép tăng 23,1%; phân bón tăng 19,1%; xăng dầu tăng 12,2%; chất dẻo tăng 9,6%. Ngoài ra, giá đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới sụt giảm so với một số ngoại tệ mạnh cũng là nhân tố làm gia tăng giá trị nhập khẩu.

Cùng với xuất, nhập khẩu hàng hoá, năm 2007 còn đẩy mạnh xuất, nhập khẩu dịch vụ. Giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 ước tính đạt 12,4 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm trước, trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ 6 tỷ USD, tăng 18,2% và giá trị nhập khẩu dịch vụ 6,4 tỷ USD, tăng 24,9%.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Ước tính lượng khách quốc tế đến nước ta đạt 4,23 triệu lượt người, tăng 18% so với năm 2006. Trong đó, khách đến với mục đích du lịch nghỉ dưỡng đạt 2,61 triệu lượt người, chiếm 61,6% và tăng 26%; đến vì công việc 673,8 nghìn lượt người, chiếm 15,9% và tăng 17%; thăm thân nhân 601 nghìn lượt người, chiếm 14,2% và tăng 7,1%; riêng khách đến với mục đích khác giảm 7,7%.

Trong năm 2007, Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu về lượng khách đến Việt Nam, ước tính đạt 574,6 nghìn lượt người, chiếm 13,6% trong tổng số khách đến và tăng 11,3% so với năm trước. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta lớn vẫn giữ tốc độ tăng trưởng ổn định là: Hàn Quốc 475,4 nghìn lượt người, tăng 12,7%; Hoa Kỳ 408,3 nghìn lượt người, tăng 5,9%; Nhật Bản 418,3 nghìn lượt người, tăng 9%; Đài Loan 319,3 nghìn lượt người, tăng 16,2%, Ôx-trây-li-a 224,6 nghìn lượt người, tăng 30,2%. Một số nước có lượng khách đến tuy không lớn nhưng có mức chi tiêu cao đã đạt tốc độ tăng tương đối khá so với năm 2006 là: Liên bang Nga tăng 50,5%, I-ta-li-a tăng 43%; Niu-di-lân tăng 39,2%; Hà Lan tăng 37,9%; Bỉ tăng 32,5%.

Giao thông vận tải

Trong năm 2007 hoạt động vận tải gặp nhiều khó khăn như: giá xăng dầu tăng cao, gây áp lực tăng cước phí vận tải; thiên tai, lũ lụt xảy ra liên tiếp làm ngập và sạt lở nhiều đoạn đường sắt và tuyến quốc lộ quan trọng. Nhưng nhờ sự chỉ đạo điều hành khẩn trương có hiệu quả của ngành giao thông vận tải và của các địa phương nên hoạt động giao thông vận tải vẫn đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân. Vận tải hành khách năm 2007 ước tính đạt 1535,5 triệu lượt khách và 67,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,4% về lượt khách và tăng 8,6% về lượt khách.km so với năm trước. Trong đó, vận chuyển bằng đường bộ đóng vai trò quan trọng (chiếm 86,6% tổng số lượt khách và 66,2% tổng lượt khách.km), tăng 9,4% về lượt khách và tăng 9,1% về lượt khách.km so với năm 2006.

Vận chuyển hàng hoá ước tính đạt 378,6 triệu tấn và 95,1 tỷ tấn.km, tăng 8,1% về số tấn và tăng 7,4% về số tấn.km so với năm 2006. Bao gồm các đơn vị do Trung ương quản lý đạt 51,8 triệu tấn và 61,7 tỷ tấn.km, tăng 6,8% về số tấn và 7,1% về số tấn.km; các đơn vị vận tải do địa phương quản lý vận chuyển 326,8 triệu tấn và 33,4 tỷ tấn.km, tăng 8,3% và tăng 7,8%.

Việc thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn và ùn tắc giao thông đã có những chuyển biến tích cực. Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, trong tháng 11, trên phạm vi cả nước xảy ra 1162 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1017 người và bị thương 735 người; so với cùng kỳ năm 2006 số vụ tai nạn giảm 7,04%; số người chết giảm 3,33% và số người bị thương giảm 24,54%. Chủ trương bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người đi mô tô, xe máy trên tất cả các tuyến đường từ ngày 15/12 đã được chính quyền, đoàn thể và nhân dân hưởng ứng tích cực. Theo ước tính, trong những ngày vừa qua tỷ lệ người thực hiện đạt trên 90%, có nơi đạt 100%.

Tuy nhiên, tai nạn giao thông đang vẫn là vấn đề bức xúc cần được quan tâm chỉ đạo quyết liệt và đồng bộ. Tính chung 11 tháng năm 2007, trên phạm vi cả nước xảy ra 13,3 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 11,9 nghìn người và làm bị thương 9,9 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 0,48% về số vụ tai nạn; tăng 3,85% về số người chết và giảm 3,45% về số người bị thương. Tính ra, trong 11 tháng vừa qua, bình quân 1 ngày có 40 vụ tai nạn giao thông, làm chết 36 người và làm bị thương 30 người. Trong 11 tháng, tính bình quân 1 vạn phương tiện cơ giới giao thông đường bộ có 6 vụ tai nạn giao thông, 5 người chết và 4 người bị thương. Nguyên nhân là do ý thức chấp hành luật giao thông của người dân chưa tốt, chuyển biến chậm; số phương tiện giao thông đăng ký mới tăng nhanh trong khi kết cấu hạ tầng giao thông chưa đủ điều kiện để phát triển tương xứng. Trong 11 tháng năm 2007, các địa phương đã cấp đăng ký mới cho 116,1 nghìn ô tô và 2,8 triệu mô tô, xe máy, nâng tổng số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hiện có của cả nước lên 22,5 triệu chiếc, trong đó 1,09 triệu ô tô và 21,43 triệu mô tô, xe máy.

Bưu chính, viễn thông

Năm 2007 hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Hạ tầng cơ sở viễn thông ngày càng hoàn thiện, các trạm thu phát sóng được mở rộng tại các vùng sâu, vùng xa. Nếu như năm trước dịch vụ điện thoại cố định không dây ra đời đánh dấu bước phát triển mới của hoạt động viễn thông thì năm nay sự ra đời của dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định đã đánh dấu sự quan tâm đặc biệt đến vùng sâu, vùng xa của nhà cung cấp. Các nhà cung cấp luôn đưa ra các loại hình dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhờ đó khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn hơn. Trong xu thế giá cả của hầu hết các mặt hàng đều tăng cao, nhưng giá cước thông tin di động lại giảm, thể hiện nỗ lực cao của ngành bưu chính, viễn thông.

Thuê bao điện thoại đặc biệt là điện thoại di động đạt tốc độ phát triển cao. Số thuê bao điện thoại phát triển trong năm 2007 ước tính đạt 18,5 triệu thuê bao (gần bằng số thuê bao phát triển trong 3 năm 2004, 2005, 2006) nâng tổng số thuê bao trên cả nước tính đến hết tháng 12/2007 đạt 46 triệu thuê bao. Số thuê bao internet quy đổi năm 2007 ước tính đạt 1,18 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao internet đến hết tháng 12 đạt 5,2 triệu thuê bao, tăng 29,1% so với năm 2006. Đến nay đã có 18,2 triệu người sử dụng internet, chiếm 21,4% dân số cả nước. Doanh thu bưu chính, viễn thông năm 2007 ước tính đạt 54,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6% so với năm 2006, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 40,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 75%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Đời sống dân cư

Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố như giá tiêu dùng liên tục tăng, sản xuất nông nghiệp ở một số vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, nhưng đời sống dân cư nhìn chung vẫn tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007. So với năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo của tất cả các vùng đều giảm, nhưng tại một số tỉnh vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: Tỷ lệ hộ nghèo của Lai Châu hiện nay là 55,32%; Điện Biên 40,77%; Hà Giang 39,44% và Bắc Kạn 37,80%.

Qua 1 năm thực hiện Nghị định 94/2006/NĐ-CP và Nghị định 03/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu chung và với sự nỗ lực của nhiều ngành, địa phương trong tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động, đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương đã được cải thiện. Ước tính thu nhập bình quân một tháng năm 2007 của một lao động trong khu vực Nhà nước đạt 2064,2 nghìn đồng, trong đó lao động do Trung ương quản lý 2522,6 nghìn đồng và lao động do địa phương quản lý 1764,0 nghìn đồng. Tuy nhiên, mức thu nhập giữa các ngành, các loại hình doanh nghiệp, các địa phương không đồng đều. Trong khi một số ngành như sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông, khai khoáng, kinh doanh bất động sản có mức thu nhập bình quân một tháng khoảng 3-4 triệu đồng thì ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản thu nhập chỉ đạt 1,4 triệu đồng.

Ở nông thôn, đời sống của đại đa số nông dân vẫn giữ được mức ổn định. Giá hàng lương thực, thực phẩm tăng đã khuyến khích nông dân sản xuất hàng hóa, tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên, do số hộ nghèo vẫn còn tương đối lớn và một số vùng bị thiên tai nên tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra. Theo báo cáo của các địa phương, năm 2007 trên địa bàn cả nước có 723,9 nghìn lượt hộ với 3034,5 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, giảm 6% số lượt hộ và giảm 11,6% số lượt nhân khẩu thiếu đói so với năm trước.

Giáo dục và đào tạo

Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông năm 2006-2007: Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông năm 2007 là kỳ thi quốc gia đầu tiên toàn ngành giáo dục thực hiện theo Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm nay đã bảo đảm yêu cầu chính xác, khoa học; nội dung thi nằm trong chương trình, phù hợp với thí sinh, kiểm tra được kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học. Nhờ sự cố gắng và nỗ lực của toàn ngành, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông đã diễn ra nghiêm túc hơn, tạo sự chuyển biến mạnh trong nhận thức của cộng đồng và nâng cao ý thức trách nhiệm của Hội đồng coi thi.

Qua hai đợt thi, trong tổng số 906,3 nghìn học sinh tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và 159,5 nghìn học sinh tham dự kỳ thi tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông có 80,42% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và 44,51% số học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông. So với tỷ lệ 93,7% và 82,48% của năm học 2005-2006 thì tỷ lệ tốt nghiệp năm nay thấp hơn rất nhiều. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, kết quả thi năm nay đã phản ánh rất rõ khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền và phần nào phản ánh kết quả thực chất của kỳ thi quốc gia.

Khai giảng năm học 2007-2008: Kết quả khai giảng năm học 2007-2008, cả nước có khoảng 438,9 nghìn trẻ em đi nhà trẻ (chiếm 9,61% số trẻ em có độ tuổi từ 0 đến 2 tuổi), giảm 17,2% so với năm học 2006-2007; 2353,8 nghìn trẻ em đi học mẫu giáo (chiếm 54% số trẻ em từ 3 đến 5 tuổi), giảm 7,3%; 6875,2 nghìn học sinh tiểu học, giảm 2,19%; 5868,3 nghìn học sinh trung học cơ sở, giảm 4,61% và 3084,5 nghìn học sinh trung học phổ thông, tăng 0,3% so với năm học 2006-2007.

Năm học 2007-2008, cả nước có 346,7 nghìn giáo viên tiểu học; 313,8 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 132,0 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Một số vấn đề cần lưu ý là trong ngành giáo dục đang xuất hiện tình trạng thừa giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và thiếu giáo viên trung học phổ thông. Nguyên nhân của tình trạng này là số lượng học sinh của hai cấp học này trong các năm qua giảm, chủ yếu do nhiều năm kiên trì thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ sinh liên tục giảm, số trẻ em đến tuổi đi học vì thế cũng giảm dần. Riêng số lượng học sinh phổ thông trung học tăng nên không đủ giáo viên theo quy định. So với định mức biên chế giáo viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì năm học 2007-2008 số giáo viên tiểu học thừa 27,7 nghìn người; trung học cơ sở thừa 10 nghìn người và trung học phổ thông thiếu khoảng 21,2 nghìn người.

Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học theo quyết định số 159/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đạt được những kết quả quan trọng. Trong 5 năm qua, Chương trình đã huy động được 9,3 nghìn tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất các trường học (trong đó vốn ngân sách Trung ương chiếm 55,9%). So với năm học 2002-2003, trong năm học 2006-2007 cả nước đã xây dựng thêm 83,3 nghìn phòng học, trong đó 92,3% là phòng học kiên cố. Trong giai đoạn từ năm học 2002-2003 đến 2006-2007, bình quân mỗi năm số phòng học tiểu học tăng 2,1% (phòng học kiên cố tăng 8,4%); trung học cơ sở tăng 8,7% (phòng học kiên cố tăng 10,3%); trung học phổ thông tăng 10% (phòng học kiên cố tăng 9,3%). Tuy vậy, số phòng học xây dựng thêm hàng năm mới chỉ đáp ứng được yêu cầu xoá bỏ số phòng sử dụng học 3 ca/ngày ở cấp trung học phổ thông, còn ở cấp tiểu học và trung học cơ sở vẫn còn tồn tại một số phòng học loại này.

Phổ cập giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm nâng cao trình độ dân trí, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong những năm qua, công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở vẫn được tiếp tục triển khai trên phạm vi cả nước. Tính đến tháng 12/2007 đã có 39/64 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 37/64 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Công tác xây dựng các trường chuẩn quốc gia tiếp tục được đẩy mạnh. Tính đến 12/2007, cả nước có 1,1 nghìn trường mầm non; 4 nghìn trường tiểu học; 678 trường trung học cơ sở và 115 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.

Đào tạo đại học và cao đẳng: Kỳ thi đại học, cao đẳng năm 2007 diễn ra trật tự, an toàn và đúng quy chế. Tổng số thí sinh dự thi là 1054 nghìn người, tăng 7,5% so với năm học trước. Chỉ tính riêng 88 trường thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, số tuyển mới vào hệ chính quy đã lên tới 111,3 nghìn sinh viên, tăng 8% so với năm 2006, trong đó 96 nghìn sinh viên hệ đại học, 15,3 nghìn sinh viên hệ cao đẳng.

Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư

Tình hình dịch bệnh: Trong năm 2007 tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Bên cạnh một số dịch bệnh như sốt xuất huyết, viêm gan vi rút và một số dịch bệnh khác đang được chúng ta khẩn trương chống và dập thì năm nay xuất hiện dịch tiêu chảy cấp ở một số địa phương. Tính chung cả năm 2007, viêm phổi do vi rút cúm A H5N1 vẫn có 7 trường hợp, trong đó 4 người đã tử vong; sốt xuất huyết xảy ra trên địa bàn 42 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với gần 83,3 nghìn trường hợp bị mắc (tăng 26,2% so với năm 2006), trong đó 69 người đã tử vong; viêm màng não do não mô cầu xảy ra trên phạm vi 20 tỉnh, thành phố với trên 440 trường hợp bị mắc; viêm gan vi rút xảy ra tại 48 địa phương với 7,4 nghìn trường hợp bị mắc; sốt rét xảy ra tại 47 địa phương với 53,3 nghìn trường hợp bị mắc (giảm 28%). Đặc biệt, trong 3 tháng cuối năm 2007 đã xuất hiện dịch tiêu chảy cấp tại nhiều địa phương trên cả nước, làm hàng nghìn người nhiễm bệnh, trong đó phát hiện 295 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả. Nhưng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và hiệu quả của Chính phủ cũng như sự tích cực triển khai của Bộ Y tế và các Bộ, ngành và các địa phương liên quan nên dịch bệnh đã nhanh chóng được dập tắt. Ngày 10/12/2007, Bộ Y tế đã công bố hết dịch.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS, nhưng cho đến nay tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng. Tính từ ca phát hiện đầu tiên cho đến ngày 20/12/2007, trên địa bàn cả nước đã có 138,7 nghìn trường hợp nhiễm HIV, trong đó 28,8 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 16 nghìn người đã tử vong do AIDS. Để tăng cường hơn nữa công tác phòng chống HIV/AIDS, nhiều hoạt động xã hội nhằm tuyên truyền và cung cấp kiến thức cho cộng đồng đã được tổ chức. Bên cạnh đó, các chương trình hành động nằm trong Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 cũng đã được các Bộ, ngành và nhiều địa phương, đoàn thể chính trị-xã hội triển khai tích cực.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong thời gian gần đây, mặc dù Chính phủ, các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp nhằm chấn chỉnh lại hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng nhìn chung tình hình chưa được cải thiện. Trên địa bàn cả nước liên tiếp xảy ra các vụ ngộ độc tập thể với số lượng và quy mô ngày càng tăng. Trong năm 2007, cả nước đã có gần 6,8 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 53 người đã tử vong. Ý thức không cao của người sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm, cùng với năng lực quản lý và phương tiện kiểm nghiệm thực phẩm còn thiếu và yếu là những nguyên nhân chủ yếu làm công tác này khó đạt được hiệu quả như mong muốn.

Văn hóa thông tin

Trong năm 2007, ngành Văn hóa thông tin đã tổ chức thành công các hoạt động văn hoá có quy mô lớn phục vụ các ngày lễ trọng đại trong năm như kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; tuyên truyền bầu cử Quốc hội khóa XII; kỷ niệm Quốc khánh 2/9 và các ngày lễ lớn khác. Bên cạnh đó, các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá cũng luôn được quan tâm. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, có sự phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương.

Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa và phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai tích cực, thường xuyên và có tác dụng ngăn ngừa, hạn chế tiêu cực. Năm 2007, thanh tra toàn ngành đã tiến hành kiểm tra 19,1 nghìn cơ sở kinh doanh và hoạt động dịch vụ văn hoá; phát hiện và xử lý gần 5 nghìn cơ sở vi phạm; phạt cảnh cáo 267 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 148 cơ sở; tịch thu và tiêu huỷ hàng triệu băng đĩa có nội dung không phù hợp.

Thể dục- thể thao

Hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì, phát triển rộng hơn với nhiều chương trình phong phú. Trong năm 2007, ngành thể dục thể thao đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao quần chúng lớn như Hội thi các dân tộc thiểu số toàn khu vực II tại Bình Phước; giải Vật dân tộc toàn quốc tại Hà Tây; giải Vô địch Vovinam tại Đồng Nai; phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Ủy ban dân tộc tổ chức thành công Hội nghị thể thao dân tộc khu vực I; phối hợp với Sở Thể dục thể thao Yên Bái tổ chức thành công thi đấu các môn thể thao trong Ngày hội Văn hóa thể thao các dân tộc Tây Bắc…

Hoạt động thể thao thành tích cao: Trong năm 2007 hoạt động này cũng đạt được nhiều thành tích đáng chú ý. Tại Đại hội thể thao Đông – Nam Á lần thứ 24 (SEA Games 24) đoàn thể thao Việt Nam tham dự 32/45 nội dung thi đấu với sự tham gia của 831 người bao gồm vận động viên, huấn luyện viên và cán bộ đoàn. Đoàn Việt Nam đứng vị trí thứ ba trong bảng tổng sắp, sau Thái Lan và Malaysia với thành tích 64 huy chương vàng, 58 huy chương bạc và 82 huy chương đồng. Ngoài ra trong năm ngành thể thao Việt Nam còn tổ chức và tham gia Vòng chung kết cúp bóng đá Châu Á, Giải vô địch Wusu thế giới lần thứ 9 tại Bắc Kinh, giải Pencak Silat thế giới và một số giải thi đấu quốc tế khác.

Những kết quả nêu trên là sự cố gắng nỗ lực lớn của toàn ngành và vận động viên xong chưa đáp ứng lòng mong đợi của đồng bào và chiến sĩ cả nước. Một số hiện tượng tiêu cực trong thi đấu chưa được ngăn ngừa và xử lý có hiệu quả. Việc giáo dục đạo đức, lòng yêu nước đối với vận động viên cần được quan tâm sâu sắc hơn.

f. Thiệt hại do thiên tai

Trong năm 2007 đã xảy ra 7 cơn bão và những đợt lũ lụt, mưa to, sạt lở đất,… tại 50 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Theo báo cáo của các địa phương, thiên tai đã làm 435 người chết và mất tích; 850 người bị thương. Thiên tai còn phá hủy trên 1,3 nghìn công trình phai, đập, cống; làm sạt lở, vỡ, cuốn trôi khoảng 460 km đê, kè và 1176 km kênh mương; khoảng 113,8 nghìn ha lúa bị ngập úng, hư hại, trong đó mất trắng 33,5 nghìn ha; 6,9 nghìn ngôi nhà và 921 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; 920,9 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, tốc mái và nhiều công trình kinh tế-xã hội khác bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 11,6 nghìn tỷ đồng, trong đó Quảng Nam và Đà Nẵng là 2 địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất: Quảng Nam 1,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,77%; Đà Nẵng 1,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,12%.

Dưới sự chỉ đạo kịp thời của Đảng, Nhà nước, ngay sau khi thiên tai xảy ra, các cấp, các ngành và các địa phương đã khẩn trương khắc phục hậu quả tại những vùng bị ảnh hưởng như hỗ trợ nhân dân dựng lại nhà ở; cứu trợ lương thực, thuốc chữa bệnh và xử lý môi trường đề phòng phát sinh dịch bệnh; hỗ trợ giống cây trồng để người dân tiếp tục sản xuất và ổn định cuộc sống. Chính phủ đã kịp thời trích từ quỹ dự phòng cứu trợ cho các địa phương bị thiệt hại do thiên tai 2,5 nghìn tỷ đồng và 37,4 nghìn tấn gạo. Ngoài ra, các địa phương bị thiên tai đã nhận được sự cứu trợ của đồng bào cả nước, các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước. Tổng số tiền cứu trợ cho các hộ dân là 880,3 tỷ đồng, 11,1 nghìn tấn gạo và khối lượng lớn các nhu yếu phẩm khác.

g. Bảo vệ môi trường

Theo báo cáo kết quả tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, năm 2007 có 69% dân số khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch, cao hơn so với mục tiêu Quốc hội đề ra về cung cấp nước sạch cho 67,2% dân số nông thôn. Tỷ lệ trường học và tỷ lệ trạm y tế xã, phường trên địa bàn cả nước được sử dụng nước sạch lần lượt là 56% và 73%. Năm 2007 có 51% hộ nông thôn có hố xí hợp vệ sinh, tỷ lệ này vẫn còn thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 58% vào năm 2006 và 70% vào năm 2010. Trong năm nay, tỷ lệ trường học có hố xí hợp vệ sinh đạt 57% và tỷ lệ trạm y tế xã, phường có hố xí hợp vệ sinh đạt 75%. Theo số liệu ước tính của Bộ Tài nguyên Môi trường, tỷ lệ xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng năm 2007 đạt 49%, thấp hơn 1% so với mục tiêu Quốc hội đề ra.

Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí vẫn đang báo động. Tại các thành phố lớn, hệ thống các hồ ao, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận nước thải của các khu công nghiệp, khu dân cư đều ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, gấp 5-10 lần mức tiêu chuẩn cho phép. Hầu hết các đô thị đều bị ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng đều gấp từ 2-3 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Nhằm củng cố bộ máy quản lý, giám sát thực hiện bảo vệ môi trường, Bộ Công an đã thành lập lực lượng cảnh sát môi trường thuộc công an các địa phương; thành lập các Chi cục bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên Môi trường. Việc thành lập các tổ chức này nằm trong lộ trình phát triển lực lượng cảnh sát môi trường đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, trong đó bảo vệ môi trường được xem là bộ phận không tách rời sự phát triển kinh tế-xã hội, nhất là tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường, các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường đang diễn ra phổ biến.

Khái quát lại, năm 2007 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006-2010, mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức, trong đó có những yếu tố không lường trước được, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao và khẩn trương của Chính phủ, sự nỗ lực của các ngành, các địa phương nên hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt đều đạt được những kết quả vượt trội so với năm 2006 và tạo đà cho những năm tiếp theo phát triển mạnh hơn. Năm 2007, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,48%, cao hơn hẳn mức tăng 7,1% của năm 2002, cũng là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2001-2005; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,6%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,1%; kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng 21,5%; nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp tăng nhanh; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007. Các lĩnh vực xã hội khác như giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục thể thao cũng có những tiến bộ lớn, quan trọng.

Bên cạnh đó, nền kinh tế cũng đang đứng trước những yếu kém. Chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn còn hạn chế, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ thấp, trong khi phải mở cửa theo lộ trình đã cam kết làm cho cán cân thương mại mất cân đối lớn, nhập siêu cao; giá tiêu dùng tăng nhanh, nhất là giá lương thực, thực phẩm đang tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống, đặc biệt là đời sống bộ phận dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có thu nhập thấp. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc đang cần được quan tâm giải quyết đồng bộ và dứt điểm.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hội khoá XII về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008 và phấn đấu hoàn thành về cơ bản một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 vào năm 2008, chúng ta cần phải đề ra các giải pháp đồng bộ, thiết thực nhằm huy động tối đa các nguồn lực, phát huy tính năng động, sáng tạo của toàn xã hội, khắc phục có hiệu quả những yếu kém nêu trên và biến thời cơ, thuận lợi thành sức mạnh để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ