Năm 2003 là năm thứ ba và là năm bản lề thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, đồng thời cũng là năm góp phần lớn trong việc tạo tiền đề vật chất và tinh thần triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội năm 2003, ngay từ đầu năm, Chính phủ và các cấp, các ngành đã tích cực triển khai nhiều giải pháp cụ thể, tạo được sự tăng trưởng ổn định và phát triển ngay từ đầu năm, giữ được xu thế tăng liên tục qua các quí, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu hàng hoá. Tình hình kinh tế-xã hội năm 2003 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực. Hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế – xã hội then chốt đều thu được những kết quả vượt trội so với năm 2002.

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.

Tổng sản phẩm trong nước cả năm 2003 ước tăng 7,24% so với năm 2002, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,2%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,34%; khu vực dịch vụ tăng 6,57%. Tuy mức tăng mới đạt ở mức trung bình của mục tiêu kế hoạch đặt ra đầu năm (7%-7,5%) nhưng là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 4 năm 2000-2003.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản mức tăng trưởng 3,20% của năm 2003 giảm so với mức tăng 4,06% của năm 2002 do mức tăng trưởng cao hơn so với năm trước của ngành thuỷ sản không bù được mức giảm của ngành nông nghiệp. Ngành nông nghiệp năm 2003 chỉ tăng 2,78% so với mức tăng 4,01% của năm 2002. Nguyên nhân ngành nông nghiệp tăng trưởng chậm lại chủ yếu do vụ lúa đông xuân, vụ hè thu của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long giảm cả về năng suất và diện tích; vụ mùa ở Đồng bằng sông Hồng bị ảnh hưởng của bão lụt. Đối với ngành thuỷ sản, giá trị tăng thêm năm 2003 tăng 7,08% so với mức 5,67% của năm 2002 do chi phí nuôi trồng giảm và do nhân rộng mô hình nuôi trồng một vụ lúa, một vụ thuỷ sản.
Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng: tốc độ tăng trưởng 10,34% năm nay cao hơn mức 9,44% của năm 2002; riêng công nghiệp tăng 10,27% cao hơn mức 9,12% của năm 2002. Đáng lưu ý là công nghiệp khai thác tăng mạnh từ 1,1% của năm 2002 lên 5,79% của năm 2003. Tuy từ quý III khai thác dầu thô có tăng trưởng chậm lại, nhưng cả sản xuất dầu thô và than đá năm 2003 đều tăng so với 2002, không chỉ góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế nói chung mà còn đóng góp vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nói riêng. Sản xuất một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp chế biến có ảnh hưởng lớn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung và xuất khẩu đều tăng cao như công nghiệp chế biến thuỷ sản, dệt may, giấy bìa, phân hoá học, xi măng, sắt thép, động cơ điện và lắp ráp tivi, ô tô. Công nghiệp sản xuất điện vẫn tiếp tục tăng trưởng ở mức cao (năm 2002 tăng 10,81%, năm 2003 tăng 11,62%). Tăng trưởng của ngành xây dựng vẫn duy trì như năm trước. Khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn luôn là khu vực đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, với 53,35% của mức tăng trưởng (năm 2001 là 49,01%).
Đối với khu vực dịch vụ, mức tăng 6,57% của năm nay cao hơn một chút so với mức 6,54% của năm 2002. Sáu tháng đầu năm khu vực này giảm do ảnh hưởng của dịch SARS nhất là đối với ngành du lịch, vận tải hàng không… song đã phục hồi nhanh vào 6 tháng cuối năm, đặc biệt do Việt Nam tổ chức thành công SEA Games lần thứ 22. Song mức tăng của các ngành kinh doanh dịch vụ chủ yếu như thương mại, khách sạn, nhà hàng, vận tải bưu điện vẫn chưa đạt mức của năm 2002. Riêng hoạt động văn hoá, thể thao tăng mạnh từ 2,48% năm 2002 lên 8,82% năm 2003, tuy chưa bằng mức tăng năm 1999 và 2000 nhưng đã cao hơn năm 2001 và 2002.

Cơ cấu các ngành kinh tế vẫn tiếp tục diễn biến theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 22,99% của năm 2002 xuống còn 21,8% của năm 2003, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 38,55% lên 39,97%, khu vực dịch vụ giảm từ 38,46% xuống 38,23%. Đáng lưu ý, tỷ trọng của cả 3 ngành công nghiệp đều tăng: công nghiệp khai thác từ 8,68% lên 9,43%, công nghiệp chế biến từ 20,57% lên 20,81%, công nghiệp điện nước từ 3,40% lên 3,85%. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và cao hơn nhiều so với mức bình quân chung của nền kinh tế, khu vực dịch vụ chỉ tăng xấp xỉ với mức bình quân chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng tương đối chậm nên cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm mạnh tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, giảm nhẹ khu vực dịch vụ và tăng mạnh khu vực công nghiệp và xây dựng.
Do kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá và việc nuôi dưỡng nguồn thu tốt nên tổng thu ngân sách năm 2003 ước tính đạt 107,1% dự toán cả năm và tăng 11,3% so với năm 2002. Các khoản thu lớn nhìn chung đều tăng cao so với dự toán cả năm và so với thực hiện năm 2002: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 109,5% dự toán cả năm và tăng 30% so với năm 2002; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 110,8% và tăng 28,5%; thu từ dầu thô đạt 113% và tăng 1,6%; thu từ xuất khẩu, nhập khẩu ghi cân đối ngân sách Nhà nước đạt 106,1% và tăng 10,4%. Thu từ doanh nghiệp Nhà nước chỉ đạt mức dự toán cả năm nhưng tăng 17,9% so với năm trước.
Tổng chi ngân sách cả năm ước tính đạt 106,1% dự toán cả năm và tăng 14,1% so với năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 106,8% và tăng 6,7%; chi thường xuyên đạt 104,9% và tăng 4,9%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đã đạt tỷ lệ tương đối cao so với dự toán cả năm và đều tăng so với năm 2002 như: Chi cho thể dục thể thao đạt 232,7% và tăng 60,7%; Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 102,8% và tăng 12%; chi cho y tế đạt 106,5% và tăng 12,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 103,9% và tăng 5,7%. Bội chi bằng mức dự toán, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 75%, còn lại là vay của nước ngoài.
2. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
a. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp năm 2003 tiếp tục có sự chuyển đổi lớn về cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hoá. Nhiều địa phương chuyển diện tích gieo trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản và các cây trồng khác có hiệu quả hơn. Do vậy, diện tích gieo trồng lúa cả năm chỉ đạt 7449,3 nghìn ha, giảm 55 nghìn ha (-0,7%) so với năm 2002, trong đó lúa đông xuân 3022,6 nghìn ha, giảm 10,4 nghìn ha (-0,3%); lúa hè thu 2319,9 nghìn ha, tăng 26,2 nghìn ha (+1,1%); lúa mùa 2106,8 nghìn ha, giảm 70,8 nghìn ha (-3,3%). Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 46,3 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha (+0,9%); sản lượng đạt 34,51 triệu tấn, tăng 71,4 nghìn tấn. Nếu tính thêm 2,94 triệu tấn ngô và các loại cây lương thực có hạt khác thì sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 37,45 triệu tấn, tăng 49,3 vạn tấn (+1,3%) so với năm trước.
Thời tiết diễn biến trong năm không thuận lợi cho các cây công nghiệp hàng năm, sản lượng nhìn chung thấp hơn so với năm 2002: Bông chỉ đạt 35,2 nghìn tấn, giảm 12%; đay 12,5 nghìn tấn, giảm 38,7%; mía 16,5 triệu tấn, giảm 3,5%; lạc 400 nghìn tấn, giảm 0,1%; riêng đỗ tương đạt 225,3 nghìn tấn, tăng 9,6% do tăng diện tích.
Giá một số nông sản có xu hướng tăng đã kích thích nông dân đầu tư mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất. Diện tích gieo trồng cây công nghiệp lâu năm đạt 1511,8 nghìn ha, tăng 20,3 nghìn ha so với năm 2002, trong đó diện tích cho sản phẩm một số cây đạt khá: Cao su 258,5 nghìn ha, tăng 15,1 nghìn ha; điều 184,4 nghìn ha, tăng 11,2 nghìn ha; chè 85 nghìn ha, tăng 7,8 nghìn ha; hồ tiêu 29,3 nghìn ha, tăng 4,4 nghìn ha. Sản lượng thu hoạch cao su đạt 313,9 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2002; hồ tiêu 70,1 nghìn tấn, tăng 49,8%; điều 159,3 nghìn tấn, tăng 23,7%.
Kết quả sản xuất các loại cây ăn quả cũng tăng so với năm trước, tổng diện tích đạt 719,5 nghìn ha, tăng 42,3 nghìn ha, trong đó cam và quýt tăng 4,4 nghìn ha; xoài tăng 9,3 nghìn ha; vải và chôm chôm tăng 17,3 nghìn ha. Sản lượng cam và quýt đạt 500 nghìn tấn, tăng 15%; xoài 305 nghìn tấn, tăng 35%.
Nhu cầu thực phẩm tăng nhanh, nhiều chương trình hỗ trợ giống, kỹ thuật và vốn được thực hiện đã thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, năm 2003, đàn trâu cả nước có 2834,9 nghìn con, tăng 0,7% so với số đầu con năm 2002; đàn bò có 4397,3 nghìn con, tăng 8,2%; đàn lợn có 24879,1 nghìn con, tăng 7,4%; đàn gia cầm có 254,3 triệu con, tăng 9%; sản lượng thịt các loại đạt 2,3 triệu tấn, tăng 8,4%.
b. Lâm nghiệp
Do thời tiết khô hạn kéo dài và một số tỉnh vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ có kế hoạch giao thấp hơn năm trước nên diện tích rừng trồng tập trung cả năm ước tính chỉ đạt 192 nghìn ha, tăng 1% so với năm 2002. Diện tích rừng được chăm sóc ước tính đạt 420 nghìn ha, tăng 3,9%; diện tích khoanh nuôi tái sinh 953 nghìn ha, tăng 0,8%; số cây trồng phân tán đạt 192,1 triệu cây, xấp xỉ số cây năm 2002. Sản lượng gỗ khai thác cả nước đạt 2500 nghìn m3, không tăng so với mức của năm trước, do nhà máy giấy Bãi Bằng ngừng sản xuất để nâng cấp dây chuyền nên sản lượng khai thác gỗ của vùng Đông Bắc giảm, bên cạnh đó do thời tiết, nên các vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ tập trung khai thác vào 6 tháng đầu năm.
Công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm hơn nên tình trạng cháy và phá rừng trong năm đã có chiều hướng giảm đi rõ rệt. Cả nước có 7328 ha rừng bị cháy và bị phá, chỉ bằng 42,1% diện tích rừng bị cháy và phá năm 2002, trong đó diện tích rừng bị cháy 4925 ha, bằng 39,9%; diện tích rừng bị phá 2403 ha, bằng 47,4%. Một số tỉnh xảy ra cháy lớn gây thiệt hại nhiều là: Hoà Bình 718 ha; Kiên Giang 506 ha; Yên Bái 303 ha; Bình Thuận 293 ha, một số tỉnh khác có diện tích rừng bị phá ở mức cao là: Đắk Lắk 372 ha; Lâm Đồng 287 ha và Gia Lai 232 ha.
c. Thuỷ sản
Thời tiết thuận lợi và diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng nên kết quả sản xuất thuỷ sản năm 2003 tăng khá. Tổng sản lượng thuỷ sản cả năm ước tính đạt 2794,6 nghìn tấn, tăng 5,6% so với năm trước, trong đó cá 1941,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm 324,1 nghìn tấn, tăng 15,3%. Sản lượng thuỷ sản khai thác cả năm ước tính đạt 1828,5 nghìn tấn, tăng 1,4% so với năm 2002, trong đó cá 1368,3 nghìn tấn, tăng 0,8%; tôm 100,3 nghìn tấn, tăng 5,6%; khai thác xa bờ 1616,5 nghìn tấn, tăng 2,6%; riêng khai thác nội địa chỉ đạt 212 nghìn tấn, giảm 6,6% do nguồn cá ngày càng ít và các quy định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản nghiêm ngặt hơn. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 858,3 nghìn ha, tăng 7,6% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi tôm 580,5 nghìn ha, tăng 12,5%, một số tỉnh có diện tích nuôi tôm tăng khá như: Kiên Giang tăng 45,7%; Long An tăng 27,5%; Bạc Liêu tăng 21,7%; Sóc Trăng tăng 19,8%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng cả năm ước tính đạt 966,1 nghìn tấn, tăng 14,4% so với năm 2002, trong đó cá 573,4 nghìn tấn, tăng 17,9%; tôm 223,8 nghìn tấn, tăng 20,2%.
Tính chung, giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2003 đạt 163,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với năm 2002, trong đó nông nghiệp 127,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,1%; lâm nghiệp 6,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%; thuỷ sản 30,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,5%.
3. Công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp tháng 12 tăng 15,5% so với tháng 12 năm trước, tăng chậm so với mức tăng 16,1% của tháng 11 và thấp hơn mức độ tăng bình quân của các tháng trước, trong đó doanh nghiệp Nhà nước tháng 12 tăng 13%; công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,4%. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có tốc độ tăng cao trong tháng 12 như điện tăng 20,4%, ô tô các loại tăng 31,3%, tivi các loại tăng 23,5%, máy biến thế tăng 31,6%, động cơ diezen tăng 85,2%, bột ngọt tăng 18,6%, sứ vệ sinh tăng 102,7%, gạch lát tăng 44,5% … và một số sản phẩm khác có tỷ trọng lớn vẫn tăng trưởng ổn định đã bù đắp cho một số ngành sản xuất giảm trong tháng 12 như khai thác dầu thô, thép cán, máy công cụ, động cơ điện, quạt; hoặc sản xuất tăng thấp hơn mức tăng 11 tháng như thuỷ sản chế biến, một số mặt hàng thực phẩm, hàng dệt may, phân hoá học… Bởi vậy sản xuất tháng 12 không bị sụt giảm nhiều về nhịp độ tăng trưởng.
Ước tính chung cả năm, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp 2003 so với năm 2002 đạt mức 16%, cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước đạt 12,4% (Nhà nước Trung ương tăng 12,6%, Nhà nước địa phương tăng 12%), khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 18,7% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,3% (dầu mỏ và khí đốt tăng 6,2%; các ngành khác tăng 22,4%). Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng đối với nền kinh tế và chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất công nghiệp có mức độ tăng cao và ổn định so với năm 2002 là yếu tố quan trọng để quyết định tốc độ tăng trưởng như than sạch khai thác tăng 16%, thuỷ sản chế biến tăng 17,2%; đường mật tăng 27,4%; quần áo dệt kim tăng 38,6%; quần áo may sẵn tăng 37,3%; giấy bìa tăng 10,9%; phân hoá học tăng 9,8%, xi măng tăng 14,1%, thép cán tăng 9,7%; động cơ diesel tăng 75,7% động cơ điện tăng 15,9%, quạt điện dân dụng tăng 36,1%; ti vi lắp ráp tăng 30,8%; ô tô lắp ráp tăng 38,4% và điện phát ra tăng 14,9%. Riêng dầu thô khai thác là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong năm 2003 (3,8 tỷ USD) tuy trong quí 3 và 4 sản xuất có chững lại nhưng sản lượng khai thác cả năm ước đạt 17,69 triệu tấn, tăng 4,9% so với năm 2002 (sản lượng dầu thô khai thác các năm 2000 là 16,3 triệu tấn, năm 2001 là 16,83 triệu tấn và năm 2002 là 16,86 triệu tấn).
Nguyên nhân của sản xuất công nghiệp tăng cao trong năm 2003 là do: (1) Định hướng, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp ở cả 3 khu vực là Nhà nước, ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Khu vực kinh tế Nhà nước tăng 12,4%, cao hơn mức tăng 11,7% của năm 2002, do hiệu quả của công tác sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước trong những năm gần đây. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng 18,7%, chủ yếu do tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp và phát triển các doanh nghiệp với qui mô nhỏ và vừa. Khu vực có vốn ĐTNN tăng 18,3%, cao nhất kể trong 3 năm trở lại đây, chủ yếu do thị trường xuất khẩu của khu vực này khá ổn định và ngày càng được mở rộng; mặt khác nhiều doanh nghiệp mới đầu tư từ những năm 2000- 2002 chính thức hoạt động vào năm 2003 nên năng lực sản xuất của khu vực kinh tế này tăng đáng kể trong năm 2003; (2) Nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng các công trình phục vụ SEA Games, công trình dân dụng và sức mua của dân cư tăng lên đã làm tăng nhu cầu tiêu dùng hàng công nghiệp trên thị trường trong nước và (3) Tăng mạnh xuất khẩu do mở rộng được thị trường và tăng cầu của nước ngoài đối với những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như thuỷ sản chế biến, dệt may, dầu thô, hàng điện tử… và tăng thêm các mặt hàng xuất khẩu mới như các sản phẩm gỗ, dây điện, cáp điện, sản phẩm nhựa…
4. Đầu tư
Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển năm 2003 đạt 217,6 nghìn tỷ đồng, bằng 100,9% kế hoạch năm và tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số vốn đầu tư phát triển, vốn trong nước chiếm tới 83,2% (vốn Nhà nước chiếm 56,5% và vốn ngoài quốc doanh chiếm 26,7%), còn lại vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chiếm 16,8% (năm 2002 chiếm 18,5%), cụ thể như sau:

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung năm 2003 ước tính đạt 27,2 nghìn tỷ đồng, bằng 119,6% kế hoạch năm và tăng 12,4% so với năm 2002. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý thực hiện 14,7 nghìn tỷ đồng, bằng 122,5% kế hoạch năm, trong đó các Bộ có khối lượng vốn đầu tư lớn là Bộ Giao thông Vận tải đạt 132,9%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 115,7%; Bộ Y tế đạt 106,7%… Riêng Bộ Xây dựng không hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư (mới đạt 64,6%) là do phải ngừng thi công dự án nhà Quốc hội nga y sau khi phát hiện ra di tích thành cổ Hà Nội. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 12,5 nghìn tỷ đồng, bằng 116,4% kế hoạch năm,
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 16/12/2003 đã có 596 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1512,8 triệu USD. So với năm 2002 giảm 21% về số dự án và giảm 2,9% về vốn đăng ký. Qui mô vốn đăng ký bình quân một dự án được cấp giấy phép tuy đã tăng từ 2,1 triệu USD năm 2002 lên 2,5 triệu USD năm 2003, song vẫn thấp xa so với mức 4,8 triệu USD của năm 2001.
Trong các dự án được cấp giấy phép đến 16/12/2003, ngành công nghiệp và xây dựng có 415 dự án với số vốn đăng ký 1027,3 triệu USD, chiếm 69,6 % về số dự án và 67,9% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 84 dự án với 157,5 triệu USD, chiếm 14,1% về số dự án và 10,4% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 97 dự án với 328 triệu USD, chiếm 16,3% về số dự án và 21,7% về vốn đăng ký.
Các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài tập trung chủ yếu vào các tỉnh, thành phố phía Nam với 430 dự án và 1040,3 triệu USD, chiếm 72,1% về số dự án và 68,8% về vốn đăng ký. Thành phố Hồ Chí Minh có 163 dự án với 224,3 triệu USD vốn đăng ký, Bình Dương 96 dự án với 193,9 triệu USD, Đồng Nai 75 dự án với 262 triệu USD… Các tỉnh, thành phố phía Bắc có 166 dự án với số vốn đăng ký 472,5 triệu USD, chiếm 27,9% về số dự án và 31,2% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 52 dự án với vốn đăng ký 88,5 triệu USD, Hải Phòng có 26 dự án với 95 triệu USD, Vĩnh Phúc 12 dự án với 62,3 triệu USD, Quảng Ninh 13 dự án với 60,3 triệu USD, Phú Thọ 14 dự án với 54,8 triệu USD…
Các nước và vùng lãnh thổ có nhiều dự án và vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 151 dự án với số vốn đăng ký 293,8 triệu USD; Hàn Quốc 147 dự án và 249,3 triệu USD; Quần đảo Vigin thuộc Anh 24 dự án với 193 triệu USD; CHND Trung Hoa 51 dự án và 137,6 triệu USD; Ô-xtrây-li-a 11 dự án và 110,3 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 35 dự án và 102,7 triệu USD; Nhật Bản 40 dự án và 78,6 triệu USD…
Nhìn chung, hoạt động đầu tư xây dựng năm 2003 đã cơ bản đạt được mục tiêu đề ra và có một số tiến bộ trong các khâu chuẩn bị, quản lý và giám sát thi công. Tuy nhiên, vẫn còn không ít công trình có nhiều khó khăn, tồn tại trong các khâu: kế hoạch năm thông báo chậm, việc bố trí vốn cho các dự án chưa tập trung dứt điểm, còn dàn trải; giải phóng mặt bằng chậm; hồ sơ, thủ tục thiếu đầy đủ, chặt chẽ đã làm ảnh hưởng tới việc thẩm định, đấu thầu và cấp vốn; tình hình nợ đọng vốn xây dựng, làm phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản chậm được khắc phục…
5. Vận tải.
Vận chuyển hành khách năm 2003 ước tính đạt 873,1 triệu lượt hành khách và 39,6 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 4,6% về khối lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,3% về khối lượng hành khách luân chuyển. Trong đó đường sắt tăng 7% và 10,8%, đường bộ tăng 5% và 5,4%, đường biển tăng 4,6% và 5,7%, đường sông tăng 2,4% và 2,4%. Riêng hàng không do ảnh hưởng bởi dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) nên khối lượng hành khách vận chuyển chỉ tăng 1,8% và hành khách luân chuyển giảm 3,2%.
Vận chuyển hàng hoá đạt 255,4 triệu tấn và 57,4 tỷ tấn.km, tăng 7,1% về khối lượng vận chuyển và 4,7% về khối lượng luân chuyển. Trong đó vận chuyển trong nước tăng 7,3% và 6,4%, vận chuyển ra nước ngoài tăng 3,6% và 3,4%.
Hoạt động vận tải nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và nhu cầu đi lại của dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đáng lo ngại là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra với mức độ lớn.
6. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2003 ước tính đạt 310,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 50,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,2% và tăng 10,4%; kinh tế cá thể 187,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 60,3% và tăng 11,7%; kinh tế tư nhân, hỗn hợp chiếm 19,6% và tăng 14,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,7% và kinh tế tập thể tăng 13,9%. Tính theo ngành hoạt động, kinh doanh thương nghiệp là ngành chiếm tới 81,3% tổng mức và tăng 12,8%; khách sạn, nhà hàng chiếm 13% và tăng 14,4%; dịch vụ chiếm 5% và chỉ tăng 0,4%; đặc biệt là ngành du lịch giảm tới 13,9% so với năm 2002, do ảnh hưởng của dịch SARS từ những tháng cuối quí I và đầu quí II.

Giá tiêu dùng tháng 12 năm 2003 tăng nhẹ so với tháng trước (+ 0,8%) và tăng ở tất cả các nhóm hàng. So với tháng 12 năm 2002 giá tiêu dùng tăng 3%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2002. Trong tổng số, giá lương thực, thực phẩm tăng 2,8%; nhóm dược phẩm, y tế biến động mạnh nhất, tăng tới 20,9%; giáo dục tăng 4,9%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,5%; hàng may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 3,4%; riêng phương tiện đi lại, bưu điện giảm 2% và văn hoá, thể thao, giải trí giảm 1,3%.
Giá vàng tháng 12 năm 2003 tăng 5,1% so với tháng trước và tăng 26,6% so với tháng 12 năm 2002. Giá vàng các tháng trong năm liên tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng mạnh trong các tháng cuối năm chủ yếu do giá vàng trên thị trường thế giới tăng cao. Giá USD tăng nhẹ so mức tăng giá vàng, thậm chí tăng thấp hơn cả mức tăng giá tiêu dùng và không có đột biến suốt các tháng trong năm, giá USD tháng 12 tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 2,2% so với tháng 12 năm trước.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2003 ước tính đạt 19,9 tỷ USD, tăng 19,0% so với năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 9,9 tỷ USD, tăng 11,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 10 tỷ USD, tăng 27,2%. Kim ngạch của 7 mặt hàng dầu thô; hàng dệt may; hải sản; giày dép; điện tử, máy tính; gạo; sản phẩm gỗ (là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu USD) đạt 13,8 tỷ, chiếm 69,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 19,5% so với năm 2002 (tăng tương đương với 2,3 tỷ USD) và đóng góp tới 13,5 điểm phần trăm trong 19,0% tăng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó chỉ bốn mặt hàng đầu (mỗi mặt hàng đều đạt trên 2,2 tỷ USD) đạt kim ngạch 11,8 tỷ USD, chiếm khoảng 59,6% tổng kim ngạch.
Các mặt hàng dầu thô, cà phê và cao su là những mặt hàng trong 2003 Việt Nam được hưởng lợi nhiều do tăng giá nên ở những mặt hàng này tuy lượng xuất khẩu tăng thấp hoặc giảm nhưng kim ngạch vẫn tăng khá cao: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô tăng 15,5% trong khi lượng chỉ tăng 1,7%; kim ngạch cà phê tăng 46,7%, lượng giảm 2,6%; kim ngạch cao su tăng 43,1%, lượng giảm 2,3%. Tính chung 9 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu có thống kê được về lượng trong biểu đính kèm, kim ngạch tăng 16,1%, trong đó lượng chỉ tăng 6,6% và giá tăng tới 8,9% tương đương với khoảng 460 triệu USD do giá. Bên cạnh đó giá xuất khẩu gạo giảm so với 2002 nên mặc dù lượng xuất khẩu gạo 3,82 triệu tấn, tăng tới 17,9% so với năm trước nhưng kim ngạch giảm 0,9%. Các mặt hàng xuất khẩu giảm mạnh là rau quả, giảm 24,5% do hạn chế của thị trường chính là Trung Quốc và chè giảm 27,9%, chủ yếu do không xuất được vào thị trường I Rắc. Nguyên nhân chính dẫn đến xuất khẩu năm 2003 tăng khá cao hơn mức tăng 10% của 2002 và cao hơn mục tiêu kế hoạch đề ra là: (1) Nhu cầu thị trường thế giới tăng nên giá một số mặt hàng tăng, đáng kể là giá dầu, cà phê và cao su. Việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng xuất khẩu vào thị trường này, nhất là các mặt hàng dệt may (tăng cao nhờ tăng được hạn ngạch) và thuỷ sản. (2) Sản xuất trong nước tăng cao và ổn định tạo tiền đề cho tăng lượng hàng xuất khẩu. (3) Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả ngay từ những tháng đầu năm.
Kim ngạch nhập khẩu cả năm ước tính đạt xấp xỉ 25 tỷ USD, tăng 26,7% so với năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 16,3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 65,1% và tăng 24,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 8,7 tỷ USD, tăng 30,1%. Kim ngạch nhập khẩu năm nay tăng nhiều chủ yếu do tăng nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu. So với năm 2002 kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu có tốc độ tăng cao, trong đó nhiều mặt hàng tăng nhiều do tăng giá như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, bông xơ…. Nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu như sau: máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 41,1%, đóng góp tới 29,6% vào tăng kim ngạch nhập khẩu chung; sắt thép tăng 23,1% (lượng giảm 8,2%); xăng dầu tăng 19,5% (chủ yếu do tăng giá vì lượng giảm 1,3%), nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 19,2%; vải tăng 37,3%; điện tử máy tính và linh kiện tăng 45,6%; phân bón tăng 26,5% (lượng chỉ tăng 4%); chất dẻo tăng 25,1% (lượng tăng 7,8%)… Riêng thuốc trừ sâu giảm 5,9%; xe máy và linh kiện đồng bộ giảm 28,6%.
Nhập siêu năm nay khoảng 5,12 tỷ USD, bằng 25,7% trị giá xuất khẩu và đây là tỷ lệ cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Nhập siêu của khu vực trong nước tới 6,40 tỷ USD trong khi khu vực vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 1,29 tỷ USD; nếu không kể dầu thô thì khu vực này nhập siêu 2,49 tỷ USD.

Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12 năm nay tăng 10% so với tháng trước (do Việt Nam tổ chức SEA Games vào tháng 12), nên ước tính cả năm đạt 2439,1 nghìn lượt người, chỉ giảm 7,2% so với năm 2002, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 1266,7 nghìn lượt người giảm 13,4%; vì công việc 473,3 nghìn lượt người, tăng 6,1%; thăm thân nhân 375,4 nghìn lượt người, giảm 11,7%; mục đích khác tăng 9,8%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số
Dân số trung bình năm 2003 của cả nước ước tính khoảng 80,7 triệu người, tăng 1,18% so với dân số trung bình năm 2002, trong đó dân số nam 39,7 triệu người, chiếm 49,2% và nữ 41,0 triệu người, chiếm 50,8%. Dân số thành thị 20,5 triệu (chiếm khoảng 25,4% số dân) tăng 2,41%; dân số nông thôn 60,2 triệu, tăng 0,76%. Tốc độ đô thị hoá qua các năm tương đối chậm nên tỷ lệ dân thành thị biến đổi không đáng kể qua các năm:

2. Lao động – việc làm
Đến giữa năm 2003, cả nước có 40,5 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế, trong đó lao động nữ chiếm 48,8%. Lao động năm 2003 tăng chủ yếu ở một số ngành, như: nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch, phục vụ cá nhân và công cộng. Tuy nhiên, sự chuyển dịch lao động từ các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản sang các ngành kinh tế khác diễn ra tương đối chậm: Trong 3 năm từ 2001-2003 tỷ trọng lao động nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản chỉ giảm có 2,2%, bình quân mỗi năm giảm 0,7%. Cũng trong 3 năm qua lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước và tập thể không tăng, trong khi lao động trong các thành phần kinh tế khác tăng khá.
Tính đến giữa năm 2003, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị đạt 5,8%, tuy đạt chỉ tiêu ở mức dưới 6% nhưng vẫn còn cao so với tỷ lệ phổ biến của các nền kinh tế trên thế giới. Tỷ lệ thất nghiệp cũng tương đối khác nhau giữa các vùng kinh tế, những vùng tập trung dân cư thành thị cao như Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn mức bình quân chung và so với các vùng khác trong cả nước.
Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn còn ở mức 22% và cũng là tình trạng của tất cả các vùng kinh tế trong cả nước, mặc dù tỷ lệ sử dụng thời gian lao động có tăng lên qua các năm và xu hướng này cũng đúng cho hầu hết các vùng kinh tế. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn là do tỷ lệ lao động được đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật ở khu vực này thấp; thiếu lao động có kỹ thuật và thợ bậc cao, gây nhiều khó khăn cho người lao động trong tìm việc làm cũng như cho doanh nghiệp.
Số ngưòi đăng ký xin việc làm tại các trung tâm giải quyết việc làm năm 2003 là 530,8 nghìn người, trong đó học sinh thôi học chiếm 10,4%, bộ đội xuất ngũ về đăng ký chiếm 3,6%. Trong tổng số, vùng Đông Nam Bộ chiếm tới 59%, vùng Đồng bằng sông Cửu Long 10%, Đông Bắc 8%, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ mỗi vùng 7%.
Trong năm 2003, ở khu vực thành thị cả nước đã giải quyết việc làm cho 531,6 nghìn người, giảm 3,7% so với năm 2002. Trong đó, công việc có tính chất ổn định là 405,1 nghìn người (chiếm 76,2% so với tổng số người được giải quyết việc làm), giảm 8,1% so với năm 2002. Tuy nhiên, kết quả giải quyết việc làm ở khu vực thành thị năm 2003 của một số tỉnh thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thanh Hoá, Quảng Trị, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu có khá hơn năm trước. Nhà nước đã có nhiều giải pháp trong việc đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, mở rộng và phát triển một số ngành công nghiệp, phát huy vai trò các làng nghề để khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất tư nhân thu hút nhiều lao động. Việc giải quyết việc làm cũng được kết hợp với các chương trình xoá đói giảm nghèo như cho vay vốn, tạo việc làm và tư vấn đào tạo ngành nghề… Nhiều tỉnh, thành phố đã phát huy vai trò của các trung tâm môi giới việc làm, tổ chức cho người cần việc làm được tiếp xúc với các doanh nghiệp.
3. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư năm 2003 nhìn chung ổn định và được cải thiện. Đời sống người lao động hưởng lương, tiền công và trợ cấp được cải thiện do thực hiện Nghị định Chính phủ số 03/2003/NĐCP ngày 15/1/2003 về điều chỉnh lương, trợ cấp xã hội và do sản xuất tăng. Thu nhập bình quân một tháng năm 2003 của một lao động trong khu vực Nhà nước ước đạt 1190,9 nghìn đồng (năm 2002 là 1068,8 nghìn đồng), trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1508,3 nghìn đồng và lao động địa phương quản lý đạt 972,3 nghìn đồng. Một số ngành có mức thu nhập bình quân một tháng trên 1,8 triệu đồng như khai thác mỏ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng và các hoạt động có liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn đầu tư.
Đời sống người lao động khu vực ngoài Nhà nước, dân cư thành thị và dân cư nông thôn ổn định và được cải thiện nhờ hưởng lợi từ các chính sách phát triển kinh tế, tăng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, giá cả một số nông sản và thực phẩm tăng. Tuy tình hình thiếu đói còn xảy ra nhưng đã giảm so với năm trước. Theo báo cáo của các địa phương, tại thời điểm 20/12/2003, chỉ có 19,1 nghìn lượt hộ với 89,4 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,15% số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp, đồng thời chỉ bằng khoảng 30% cùng kỳ năm 2002. Tính chung, cả năm 2003, có 1345,6 nghìn lượt hộ bị thiếu đói với 6056,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 11,4% số hộ và giảm 13,9% số nhân khẩu thiếu đói so với năm 2002. Để giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói gần 8 nghìn tấn lương thực và 12,7 tỷ đồng.
Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo được các cấp, các ngành và các địa phương chú trọng thực hiện. Đến nay cả nước có 6882 xã, phường được công nhận đã đạt 6 tiêu chuẩn về công tác chăm sóc thương binh và liệt sỹ, trong đó riêng năm 2003 có 650 xã, phường. Cả nước đã xây dựng mới và sửa chữa được 7,2 nghìn nhà tình nghĩa với tổng số kinh phí khoảng 100 tỷ đồng. Năm 2003 còn có 250 nghìn người hưởng chế độ bảo trợ xã hội, chiếm 26,7% số người cần được bảo trợ xã hội, trong đó, 227 nghìn người được nhận chế độ bảo trợ xã hội tại cộng đồng và 23 nghìn người được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các trung tâm. Ngoài ra, nông dân ở một số tỉnh miền núi, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long còn được giúp đỡ về vốn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất. Các hộ nghèo và đồng bào miền núi, vùng dân tộc thiểu số được trợ giá một số mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống.
4. Giáo dục, đào tạo
Năm học 2002-2003 cả nước có 1769 nghìn học sinh tốt nghiệp bậc tiểu học, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 99,6%; 1278,5 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, đạt tỷ lệ 96,3% và 687,6 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt tỷ lệ 92,1%. So với năm học 2001-2002, tỷ lệ tốt nghiệp của bậc tiểu học năm học 2002-2003 cao hơn 0,2%; trung học phổ thông cao hơn 2,3%; riêng trung học cơ sở thấp hơn 0,6%.
Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003 đã diễn ra trong trật tự, an toàn và đúng qui chế. Việc hình thành các cụm thi ở Vinh, Cần Thơ và Qui Nhơn đã làm giảm đáng kể số lượng thí sinh dự thi tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho thí sinh dự thi. Trong kỳ thi năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện việc lập lại trật tự, kỷ cương và sự công bằng trong công tác tuyển sinh, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi tiêu cực như mang tài liệu vào phòng thi, thi hộ; đã phối hợp cùng ngành Công an ngăn chặn tình trạng in bán “phao” thi, đấu tranh triệt phá được các đường dây thi hộ có tổ chức, khiến cho kỳ thi diễn ra nghiêm túc hơn và được nhân dân tin tưởng, đồng tình và ủng hộ. Tuy nhiên, kết quả thi vào đại học năm 2003 lại đạt tương đối thấp. Trong tổng số thí sinh dự thi thì số thí sinh đạt điểm trung bình ở cả 3 môn thi chỉ đạt khoảng 13%.
Khai giảng năm học 2003-2004, cả nước có 413,1 nghìn trẻ em đi nhà trẻ, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước và đạt 10,6% số trẻ em 0-2 tuổi. Số trẻ em đi mẫu giáo gần 2,2 triệu em, tăng 1,4% so với năm học trước và đạt 50,5% số trẻ em 3-5 tuổi. Số giáo viên trực tiếp nuôi dạy trẻ trong cả nước là 43,7 nghìn người; số giáo viên mẫu giáo là 106,7 nghìn người. Cũng trong năm học 2003-2004, cả nước có 8,35 triệu học sinh tiểu học, giảm 5,3% so với năm học trước; 6,61 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 2,8% và 2,61 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 6,6%.
Số giáo viên các cấp năm học 2003-2004 đã tăng so với các năm học trước, nhưng so với định mức chuẩn thì cả nước vẫn còn thiếu 25,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở và thiếu 21,1 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Riêng giáo viên tiểu học cả nước tuy không thiếu nhưng lại không đều giữa các vùng, trong đó Tây Nguyên còn thiếu khoảng 2 nghìn giáo viên so với quy định.
Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở được các địa phương trong cả nước tích cực triển khai. Đến nay đã có 17 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Hải Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Phú Thọ và Bắc Giang đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.
5. Hoạt động văn hoá thông tin
Trong năm 2003, hoạt động văn hoá, thông tin có những bước chuyển biến tích cực, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, đáp ứng đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế theo tinh thần “Phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hoá”. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tiếp tục được đẩy mạnh. Nhiều địa phương đã có những hoạt động thiết thực nhằm đưa phong trào có những bước phát triển mới, thường xuyên chú trọng việc công nhận và tái công nhận các gia đình văn hoá, làng, ấp, khu dân cư văn hoá. Công tác tuyên truyền cổ động cho SEA Games 22 được thực hiện tốt, góp phần vào thành công của đại hội, đồng thời đã tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng bè bạn quốc tế.
Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá và phòng chống tệ nạn xã hội được tiến hành thường xuyên. Bộ Văn hoá Thông tin đã tập trung chỉ đạo toàn ngành tăng cường các biện pháp ngăn chặn tiêu cực trong lĩnh vực hoạt động và dịch vụ văn hoá; tăng cường truy quét văn hoá phẩm độc hại và hiện tượng in lậu, xuất bản lậu. Sơ bộ năm 2003, thanh tra toàn ngành đã tiến hành kiểm tra trên 10 nghìn lượt cơ sở, phát hiện nhiều cơ sở vi phạm và thu giữ khoảng 400 nghìn băng, đĩa các loại; trên 90 đầu máy karaoke, video, máy đánh bạc và khoảng 15 vạn bản văn hoá phẩm vi phạm. Về phòng chống tệ nạn xã hội, trong năm 2003 có hơn 6 nghìn lượt gái mại dâm được giáo dục và phục hồi nhân phẩm, trong đó một nửa số đối tượng này được dạy nghề và tạo việc làm; trên 58 nghìn đối tượng được cai nghiện ma tuý tự nguyện hoặc bắt buộc tại các trung tâm, trong đó số đối tượng mới được tiếp nhận năm 2003 là 31,1 nghìn người, số còn lại là từ năm 2002 chuyển sang. Ngoài ra, trong năm còn có trên 8,5 nghìn đối tượng nghiện hút ma tuý được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. Khoảng 8 nghìn người nghiện ma tuý được dạy nghề và tạo việc làm tại các trung tâm.
6. Hoạt động thể dục thể thao
Năm 2003 là năm ngành Thể dục Thể thao triển khai thực hiện Chỉ thị số 17 CT-TW về phát triển Thể dục Thể thao đến năm 2010. Uỷ ban Thể dục Thể thao tiếp tục triển khai thực hiện qui hoạch phát triển ngành đến năm 2010, trong đó nhiệm vụ quan trọng là công tác chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết và tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 (SEA Games 22) và Đại hội Thể thao Người khuyết tật Đông Nam Á lần thứ 2 (ASEAN Paragames 2) lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
Đến nay, SEA Games 22 đã thành công tốt đẹp, được nhân dân cả nước, các quốc gia trong khu vực và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Lễ Khai mạc và Bế mạc SEA Games 22 được tổ chức hoành tráng, ấn tượng đã tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn bè quốc tế. Các công tác phục vụ cho SEA Games đều thực hiện tốt tại tất cả các địa điểm thi đấu. Tại Đại hội đã có 26 kỷ lục SEA Games được thiết lập; 1440 huy chương đã được trao cho các vận động viên của các đoàn Thể thao tham dự. Đoàn Thể thao Việt Nam tham dự cả 32 môn thi đấu và đã xuất sắc dẫn đầu Đại hội với 346 huy chương các loại, trong đó có 158 huy chương vàng, 97 huy chương bạc và 91 huy chương đồng.
Ngay sau khi kết thúc SEA Games 22, các công tác chuẩn bị cho tổ chức ASEAN Paragames 2 đều được chuẩn bị tốt. ASEAN Paragames 2 được tổ chức từ ngày 21/12 đến 28/12/2003 với sự có mặt của hơn 700 vận động viên, huấn luyện viên, quan chức và cán bộ của 11 quốc gia Đông Nam Á và Lễ khai mạc đã diễn ra vào tối 21/12/2003.
Bên cạnh đó, công tác thể dục thể thao quần chúng cũng có bước phát triển mạnh mẽ, sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của ngành. Có 70% số trường học thực hiện chương trình giáo dục thể chất và trên 90% cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể thao theo qui định. Trong năm cũng đã tổ chức thành công Hội thi Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi toàn quốc lần thứ I tại Lào Cai vào tháng 5/2003 và lần thứ II tại Kon Tum, tháng 10/2003.
7. Tình hình dịch bệnh
Trong năm 2003 có 133,8 nghìn lượt người bị sốt rét, trong đó 42 người đã chết; 35,1 nghìn người bị sốt xuất huyết, trong đó 58 người chết và trên 5,3 nghìn lượt người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 31 người đã tử vong. Tình hình HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong năm 2003 đã phát hiện thêm gần 16 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng số trường hợp bị nhiễm HIV trong cả nước đến 19/12/2003 lên 75,2 nghìn người, trong đó có 11,5 nghìn bệnh nhân AIDS và đã có gần 6,5 nghìn người chết do AIDS.
Cũng trong năm 2003 dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) đã làm 63 trường hợp bị lây nhiễm, trong đó 5 người đã tử vong nhưng chúng ta đã có các biện pháp kịp thời và khống chế thành công từ tháng 4/2003 và đã được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là quốc gia đầu tiên khống chế được dịch SARS. Hiện nay công tác phòng chống SARS vẫn tiếp tục được tăng cường và giám sát chặt chẽ, nhằm đối phó ngăn chặn nguy cơ bùng phát trở lại của SARS.
8. Tai nạn giao thông
Tình hình trật tự an toàn giao thông thời gian qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết 13/2002/NQCP của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn và ùn tắc giao thông đến nay, đã có những chyển biến đáng kể. Ý thức chấp hành luật giao thông của người dân đã tốt hơn; tình trạng đua xe trái phép đã được ngăn chặn; ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn đã giảm và nhất là tai nạn giao thông đã giảm đáng kể. So với 11 tháng năm 2002, số vụ tai nạn giao thông 11 tháng năm 2003 đã giảm 31,4%; số người chết giảm 4,9% và số người bị thương giảm 38,4%. Bình quân 1 ngày trong 11 tháng năm nay so với bình quân của cùng kỳ năm 2002 đã giảm 26 vụ tai nạn; giảm 2 người chết và giảm 36 người bị thương. Tuy nhiên, tai nạn giao thông xảy ra vẫn còn nhiều. Trong 11 tháng năm 2003 vẫn xảy ra tới 19 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 10,7 nghìn người và làm bị thương 19,2 nghìn người; bình quân 1 ngày trong 11 tháng qua vẫn xảy ra 57 vụ với 32 người chết và 57 người bị thương do tai nạn giao thông.
9. Thiệt hại thiên tai
Trong năm 2003 đã xảy ra bão, lốc, mưa lũ, sạt lở đất tại nhiều địa phương trong cả nước gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, thiên tai đã làm trên 300 người chết, mất tích và trên 300 người bị thương. Thiên tai còn phá huỷ trên 1,8 nghìn công trình phai, đập, cống; làm sạt lở, trôi khoảng 70 km đê, kè và 250 km kênh mương; trên 176 nghìn ha lúa bị ngập úng, hư hại, trong đó mất trắng 40 nghìn ha; 12,8 nghìn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại; 5,3 nghìn ngôi nhà và 1,2 nghìn phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; hàng nghìn ha hoa màu và nhiều công trình kinh tế – xã hội bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 2 nghìn tỷ đồng.
Khái quát lại năm 2003 tình hình kinh tế xã hội vẫn tiếp tục ổn định và phát triển, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế-xã hội năm 2003 đều đạt và vượt mục tiêu kế hoạch đề ra đầu năm và tăng cao so với năm 2002. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,24 %, trong đó tất cả 3 khu vực đều tăng. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,9%. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và tiêu dùng và xuất khẩu đều bằng hoặc vượt trội mức sản xuất của các năm trước, như than, dầu thô, thép, xi măng, xuất khẩu tăng mạnh. Thu ngân sách tăng so với kế hoạch và so với năm trước. Giá tiêu dùng ổn định. Nhiều lĩnh vực xã hội cũng thu được kết quả tích cực: Thiếu đói giáp hạt và dịch bệnh đều giảm so với năm 2002; hoạt động văn hoá, giáo dục được tăng cường; an ninh xã hội được giữ vững. Những kết quả này sẽ tạo tiền đề vật chất và tinh thần góp phần khắc phục khó khăn và thách thức nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kế hoạch năm 2004 mà Quốc hội vừa thông qua.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng của kế hoạch 5 năm 2001-2005, nhiệm vụ còn lại của 2 năm là tương đối nặng nề. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 8% cho 2004, nền kinh tế đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao hơn nhiều so với 2003 của tất cả các ngành, các cấp và trên tất cả các lĩnh vực để vượt qua những khó khăn như:
Trong nông nghiệp, đã có sự chuyển biến tích cực trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tăng năng suất song vấn đề chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là những trở ngại làm giảm sức tiêu thụ ngay trên thị trường trong nước và ảnh hưởng đến cạnh tranh ở thị trường ngoài nước (xuất khẩu rau quả, thuỷ sản).
Trong công nghiệp, năm 2003 đã đạt được tốc độ 16%, nhưng tăng mạnh ở các mặt hàng dệt, may, giày dép và các sản phẩm gia công, lắp ráp, là những mặt hàng trước mắt có đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm cho nguời lao động nhưng có giá trị tăng thêm thấp và phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu từ nước ngoài nên thường bị ảnh hưởng không nhỏ bởi yếu tố giá, vì vậy nâng cao sức cạnh tranh của hàng công nghiệp chung không chỉ qua chất lượng sản phẩm, chất lượng quản lý, giá cả, thương hiệu… của từng sản phẩm mà bên cạnh mở rộng thị trường cần chú trọng hơn nữa đến việc chuyển đổi cơ cấu trong ngành công nghiệp và nội bộ từng ngành sản phẩm.
Trong năm 2003, lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất bằng đồng Việt Nam tương đối cao so với ngoaị tệ, phần nào đã làm giảm đầu tư. Nhờ có việc phát hành trái phiếu Chính phủ cho giáo dục và các công trình giao thông thuỷ lợi nên đã thu hút được nguồn vốn tương đối cho đầu tư, trong khi đó bố trí vốn còn dàn trải, quản lý và sử dụng vốn đầu tư cũng còn những bất cập, trong xây dựng còn thất thoát và lãng phí vì vậy hiệu quả đầu tư sẽ không cao và ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm trong tương lai.
Nhập siêu cao, cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, nhất là khu vực trong nước. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu cao, do tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực này thấp hơn tốc độ tăng của nhập khẩu và khoảng cách giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu ngày càng roãng ra.
Cuối cùng, nâng cao sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế nói chung, nhất là của các doanh nghiệp trong nước vừa là nhiệm vụ cấp bách vưà là yếu tố quyết định để đạt được mục tiêu tăng trưởng và các mục tiêu kinh tế xã hội 2004.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ