1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước 9 tháng 2002 tăng 6,9% so với 9 tháng năm 2001, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,8%; khu vực dịch vụ tăng 6,1%. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm nay thấp hơn mục tiêu đề ra cho cả năm là tăng 7 – 7,3% và giảm nhẹ so với tốc độ tăng 7,1% của 9 tháng năm 2001; tốc độ tăng của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 0,6%, của khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 1% và của khu vực dịch vụ giảm 0,2%. Trong 6,9% tăng trưởng của 9 tháng năm nay thì khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,6%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,5%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,8%.

Nếu những tháng tới các ngành, các cấp triển khai có hiệu quả các giải pháp về kinh tế của Chính phủ đã đề ra nhằm phát triển sản xuất và tăng mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ phấn đấu quí IV năm nay đạt tốc độ tăng trưởng 7,4% (mức tăng của quí IV năm trước là 6,3%) thì cả năm 2002 tổng sản phẩm trong nước dự kiến sẽ tăng 7,0%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10%; khu vực dịch vụ tăng 6,2%.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, do kinh tế tăng trưởng khá và công tác quản lý thu ngân sách tốt hơn nên tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 79% dự toán cả năm. Trong các khoản thu, thu về thuế nhà, đất vượt dự toán 17,3%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp vượt 3,8%. Một số khoản thu lớn đạt mức khá so với dự toán cả năm như: thu từ dầu thô đạt 89,5%; thu từ doanh nghiệp nước ngoài đạt 80%; thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 75%; thu từ xuất khẩu, nhập khẩu đạt 74%. Tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng đạt 73,2% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 74%; chi trả nợ và viện trợ đạt 70%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và quản lý Nhà nước đạt 76,8%. Bội chi ngân sách 9 tháng năm bằng 55% dự toán cả năm. Khả năng cả năm 2002, tổng thu ngân sách vượt khoảng 6,5% và tổng chi ngân sách vượt 2,6% so với dự toán cả năm.
2. Sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản
a. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp năm 2002 đạt mức tăng trưởng khá. Mặc dù tại thời điểm này các tỉnh khu vực miền Trung đang bị lũ lụt, song không ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất. Diện tích lúa cả năm đạt 7463,2 nghìn ha, bằng 99,6% năm 2001, trong đó lúa đông xuân 3033,1 nghìn ha, bằng 99,2%; lúa hè thu 2252,9 nghìn ha, bằng 101,9%; lúa mùa 2177,2 nghìn ha, bằng 97,9%. Diện tích gieo trồng ngô đạt 776,8 nghìn ha, tăng 47,3 nghìn ha và bằng 106,5%. Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 45,1 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha so với năm 2001; sản lượng đạt 33,62 triệu tấn, tăng 1,5 triệu tấn (+4,7%). Nếu tính thêm 2,23 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 35,85 triệu tấn, tăng 1,58 triệu tấn (+4,6%) so với năm 2001 và tăng 1 triệu tấn so với năm 2000.
Sản xuất rau đậu và cây công nghiệp hàng năm phát triển ổn định theo hướng sản xuất hàng hoá, trong đó sản lượng bông tăng 14,3% so với năm 2001; mía tăng 8,1%; lạc tăng 7,1% và đậu tương tăng 11,2%.
Năm 2002, cơ cấu cây lâu năm được điều chỉnh hợp lý hơn. Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm ước tính đạt 1505 nghìn ha, tăng 29,3 nghìn ha so với năm 2001, trong đó diện tích cây chè tăng 8 nghìn ha; cao su tăng 14,7 nghìn ha; hồ tiêu tăng 8,7 nghìn ha; điều tăng 34,4 nghìn ha. Riêng cà phê và dừa do thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên diện tích cà phê giảm 30 nghìn ha; dừa giảm 7,6 nghìn ha. Diện tích cây ăn quả uớc tính đạt 635,8 nghìn ha, tăng 26,2 nghìn ha.
Ước tính sản lượng chè đạt 401,4 nghìn tấn, tăng 60,9 nghìn tấn so với năm 2001; cà phê 776,4 nghìn tấn, giảm 64,2 nghìn tấn; cao su 327,7 nghìn tấn, tăng 15,1 nghìn tấn; hồ tiêu 50 nghìn tấn, tăng 5,6 nghìn tấn; điều 127,2 nghìn tấn, tăng 54 nghìn tấn; dừa 874,4 nghìn tấn, giảm 17,6 nghìn tấn.
Trồng trọt phát triển khá cùng với mức giá thực phẩm tăng cao so với năm trước đã tạo điều kiện và khuyến khích chăn nuôi phát triển tốt. Tính đến thời điểm 1/10/2002, đàn trâu ước tính đạt 2,8 triệu con, bằng số đầu con năm 2001; đàn bò 3,9 triệu con, tăng 16 nghìn con; đàn lợn 22,7 triệu con, tăng 93 nghìn con; đàn gia cầm 231 triệu con, tăng 13 triệu con.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp năm 2002 tăng chậm, ước tính giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 đạt 6026 tỷ đồng, tăng 0,2% so với năm trước. Thời tiết diễn biến không thuận lợi, quỹ đất và vốn lại giảm làm ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng, cả nước đạt 191,8 nghìn ha, bằng 99,1% năm 2001, trong đó có 154,4 nghìn ha nằm trong dự án 5 triệu ha. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2428,1 nghìn m3, tăng 31 nghìn m3 so với năm trước. Điều đáng lo ngại trong sản xuất lâm nghiệp năm 2002 là tình trạng chặt phá rừng vẫn tái diễn và đặc biệt xảy ra cháy rừng trên phạm vi rộng. Cả nước đã có 11,54 nghìn ha rừng bị cháy, tăng 10 nghìn ha so với năm 2001 và 4,1 nghìn ha bị phá, tăng 1,3 nghìn ha, trong đó diện tích rừng bị cháy của 2 tỉnh Cà Mau và Kiên Giang chiếm 74% diện tích rừng bị cháy của cả nước.
c. Thuỷ sản
Sản xuất thuỷ sản phát triển toàn diện cả nuôi trồng và đánh bắt. Giá trị sản xuất thuỷ sản năm 2002 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 27652,3 tỷ đồng, tăng 8,1% so với năm 2001, trong đó nuôi trồng 12628,9 tỷ đồng, tăng 13%; khai thác 15023,4 tỷ đồng, tăng 4,4%. Sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 2562,5 nghìn tấn, tăng 127,9 nghìn tấn so với năm trước (tăng 5,3% ), trong đó sản lượng khai thác đạt 1773,1 nghìn tấn, tăng 2,8%; sản lượng nuôi trồng đạt 789,4 nghìn tấn, tăng 11,2%, chủ yếu do sản lượng tôm nuôi đạt 188,9 nghìn tấn, tăng 21,9% và cá nuôi đạt 446,3 nghìn tấn, tăng 6%.
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng 9 dự tính vẫn tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do khai thác dầu mỏ và khí đốt đã tăng trở lại và tăng ở mức cao so với cùng kỳ năm trước (Giá trị sản xuất dầu mỏ và khí đốt tháng 9 tăng 16,4% so với tháng 9 năm 2001). Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,7% (Trung ương quản lý tăng 12,1% và địa phương quản lý tăng 10,9%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,9% (do các doanh nghiệp dầu khí tăng 16,4%, các ngành khác của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,9%).
Tốc độ tăng cao của công nghiệp tháng 9 dẫn tới tính chung 9 tháng năm 2002 giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,2%, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,8% (trung ương quản lý tăng 12,6% và địa phương quản lý tăng 10,3%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,9% (các doanh nghiệp khác ngoài dầu khí tăng 21,4%, trong khi dầu mỏ và khí đốt chỉ còn thấp hơn 1,7% so với cùng kỳ).
Sở dĩ công nghiệp 9 tháng năm 2002 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ và tăng đều ở các khu vực và thành phần kinh tế là do các nguyên nhân: Thứ nhất, thị trường trong nước của các sản phẩm công nghiệp được mở rộng do sức mua tăng cả hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng thể hiện ở chỉ tiêu tồn kho các loại hàng hoá ở mức bình thường, đặc biệt vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép xây dựng có lúc, có nơi cầu vượt cung. Thứ hai, Luật doanh nghiệp được ban hành đã 2 năm đang tiếp tục phát huy tác dụng: chỉ tính 6 tháng đầu năm 2002 đã có 8803 doanh nghiệp đăng ký thành lập với số vốn đăng ký đạt 13136 tỷ đồng. Thứ ba, khu vực doanh nghiệp Nhà nước đang trong quá trình được sắp xếp lại theo định hướng khuyến khích đầu tư phát triển, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh với nhiều hình thức như đẩy mạnh cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, sáp nhập, giải thể… Các doanh nghiệp đã được cổ phần hoá nhìn chung đã phát huy được tác dụng trong đẩy mạnh sản xuất. Thứ tư, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm có trên 100 doanh nghiệp được cấp giấy phép đi vào hoạt động nên duy trì được mức tăng trưởng khá cao.
Một số địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn tương đối lớn có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của công nghiệp 9 tháng là Hà Nội tăng 25,8%, Đồng Nai tăng 16,9%, Bình Dương tăng 32,5% Hải Phòng tăng 26,1%, Vĩnh Phúc tăng 29,8%. Riêng thành Phố Hồ Chí Minh, có tỷ trọng công nghiệp lớn nhất trong cả nước đạt mức tăng 13,4%, cao hơn mức dự kiến tăng 12% của công nghiệp trên địa bàn thành phố 8 tháng và duy nhất có Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,1% (dự kiến 8 tháng giảm 3,5%).
Một số sản phẩm công nghiệp có mức tăng trưởng tháng 9 cao hơn mức tăng trưởng 8 tháng (như thép cán, thuỷ sản chế biến, lắp ráp ô tô và xe máy các loại) cùng với mức tăng trưởng cao của các sản phẩm chủ yếu có tỷ trọng lớn khác là yếu tố quyết định cho tăng trưởng công nghiệp 9 tháng.

Tuy nhiên, một số sản phẩm vẫn còn khó khăn về thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu nên tốc độ tăng chậm so với 9 tháng năm 2001 như giấy bìa tăng 7,5%; sữa hộp tăng 7%; bia tăng 6%; đường mật tăng 0,5% (8 tháng ước tăng 3,5%). và giảm so với 9 tháng năm 2001 là thuốc viên giảm 7,3%; thuốc trừ sâu giảm 8,5%; quần áo dệt kim giảm 10,5%. Riêng sản lượng dầu thô khai thác 9 tháng chỉ bằng 95,4% cùng kỳ.
Trên cơ sở mức tăng của 9 tháng, nếu trong quí IV các sản phẩm dầu thô, thuỷ sản chế biến, hàng dệt may, xi măng tăng trưởng so với cùng kỳ cao hơn mức tăng 9 tháng và các sản phẩm chủ yếu như thép cán, ti vi lắp ráp, xe máy lắp ráp, than, điện…duy trì ở mức tăng cao thì mức tăng trưởng chung của công nghiệp quí IV sẽ là 15% và dự kiến mức tăng trưởng công nghiệp cả năm 2002 sẽ là 14,4%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 11,9%; khu vực ngoài quốc doanh 19,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 14,7%.
4. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư phát triển 9 tháng năm 2002 đạt 135,4 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4% kế hoạch năm và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến năm 2002 thực hiện được 183,8 nghìn tỷ đồng, đạt 105% kế hoạch năm và tăng 12,4% so với năm 2001.

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 9 tháng năm 2002 ước tính đạt gần 16,5 nghìn tỷ đồng, bằng 75% kế hoạch năm. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý thực hiện 10,5 nghìn tỷ đồng, bằng 79,6% kế hoạch năm, trong đó các bộ có khối lượng vốn đầu tư lớn là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 83,5%; Bộ Giao thông Vận tải đạt 79,1%, Bộ Y tế đạt 79,8%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 6,0 nghìn tỷ đồng, bằng 68,3% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 66,7%; Hải Phòng đạt 89%; thành phố Hồ Chí Minh đạt 62,1%; Đà Nẵng đạt 71,3%; Bà Rịa- Vũng Tàu đạt 72,4% và Cần Thơ đạt 58,6%,
Trong ngành điện, các công trình: Nhà máy điện Uông Bí mở rộng, thuỷ điện Sê San 3, thuỷ điện Na Hang, nhiệt điện Ô Môn, thủy điện Đại Ninh, phục hồi thuỷ điện Đa Nhim, đường dây điện 500Kv Pleiku- Phú Lâm… nhìn chung đảm bảo được tiến độ thi công.
Trong giao thông, 9 tháng 2002 Bộ Giao thông -Vận tải đã hoàn thành và sửa chữa được 1350 km đường bộ, 10500m cầu đường bộ, sửa chữa, nâng cấp 348 km đường sắt, 1400 m cầu đường sắt. Đường Hồ Chí Minh, tiến độ thi công trên toàn tuyến đang được đẩy mạnh, đoạn đường Hà Tĩnh – Kon Tum cơ bản đã thông tuyến; thông xe 19/24 cầu lớn, 89/174 cầu trung; rải mặt bê tông nhựa và bê tông xi măng được 292 km.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/9/2002 đã có 468 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 874,6 triệu USD; So với cùng kỳ năm trước tăng 26% về số dự án, nhưng giảm 56% về vốn đăng ký. Ngành công nghiệp và xây dựng có 383 dự án với số vốn đăng ký 739,9 triệu USD, chiếm 81,8% về số dự án và 85,6% về vốn đăng ký. Một số dự án có số vốn đầu tư lớn là: 2 dự án dầu khí đã được cấp giấy phép với số vốn gần 30 triệu USD, dự án sản xuất giầy thể thao của Hàn Quốc tại khu công nghiệp Đồng Nai với số vốn 39,5 triệu USD; dự án sản xuất bán dẫn taị khu công nghiệp Hà Nội vốn đầu tư 30 triệu USD; dự án sản xuất thiết bị vệ sinh của công ty ToTo Nhật Bản ở Hà Nội 23 triệu USD; dự án sản xuất và xuất khẩu quần áo tại Long An 10 triệu USD…
Các dự án tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía nam với 358 dự án và 636,3 triệu USD, chiếm 76,5% về số dự án và 72,8% về vốn đăng ký. Trong các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các tỉnh và thành phố phía nam, thành phố Hồ Chí Minh có 148 dự án với 125,7 triệu USD vốn đăng ký; Bình Dương 100 dự án và 196,0 triệu USD; Đồng Nai 55 dự án và 176,7 triệu USD. Các tỉnh, thành phố phía bắc có 110 dự án với số vốn đăng ký 238,3 triệu USD, chỉ chiếm 23,5% về số dự án và 27,2% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 40 dự án với vốn đăng ký 100,9 triệu USD, Hải Phòng có 14 dự án với 25,3 triệu USD, Quảng Ninh 8 dự án với 27,3 triệu USD, Lạng Sơn có 6 dự án với 11,2 triệu USD…
Các nước và vùng lãnh thổ có nhiều dự án và vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 118 dự án với số vốn đăng ký 188,9 triệu USD; Hàn Quốc 91 dự án và 172,2 triệu USD; Nhật Bản 32 dự án và 77,2 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 42 dự án và 75,5 triệu USD; Malaixia 20 dự án và 62,3 triệu USD; Mỹ 21 dự án với 49,5 triệu USD; CHND Trung Hoa 31 dự án và 48,1 triệu USD; Liên bang Nga 4 dự án và 22,5 triệu USD…
5. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 9 tháng ước tính đạt 638,1 triệu lượt hành khách và gần 23,6 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,7% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 121,3 triệu tấn và 37,7 tỷ tấn.km, tăng 5,4% về khối lượng vận chuyển và 5,9% về khối lượng luân chuyển.
Dự kiến vận chuyển hành khách năm 2002 đạt 850,2 triệu hành khách và 31,3 tỷ lượt hành khách.km, tăng 3,7% khối lượng vận chuyển và tăng 7% về khối lượng luân chuyển so với năm 2001. Vận chuyển hàng hoá năm 2002 ước đạt 161,8 triệu tấn và 50,3 tỷ tấn.km, tăng 5,5% về khối lượng vận chuyển và 6,1% về khối lượng luân chuyển.
Hoạt động vận tải 9 tháng nhìn chung tăng trưởng ổn định, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và nhu cầu đi lại của dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đáng lo ngại là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra với mức độ lớn.
6. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng năm nay ước tính đạt khoảng 204,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 200,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7%; kinh tế Nhà nước đạt 34,9 nghìn tỷ, tăng 10,5%; kinh tế cá thể đạt 134,8 nghìn tỷ, tăng 12,6%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 3,8 nghìn tỷ đồng, giảm 1,7%. Trong những tháng quí IV, tình hình kinh doanh thương nghiệp có thể sôi động hơn, lượng hàng tiêu thụ nhiều hơn nên ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ cả năm 2002 đạt hơn 268,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2001 (thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,1%; Hà Nội tăng 10,5%), trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 48 nghìn tỷ, tăng 10,6%; kinh tế cá thể đạt 177,3 nghìn tỷ, tăng 12,7%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10%.
Khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng năm nay ước tính đạt 1972,3 nghìn lượt người, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khách đến với mục đích du lịch là 1091,4 nghìn lượt người, tăng 17%; vì công việc là 328,3 nghìn lượt người, tăng 11,4%; thăm thân nhân là 331,3 nghìn lượt người, tăng 7,1% và vì mục đích khác 221,2 nghìn lượt người, giảm 8,1%. Ước tính năm 2002, lượng khách quốc tế đến nước ta đạt gần 2,6 triệu lượt người, tăng 10,3% so với năm 2001, trong đó khách du lịch và nghỉ ngơi chiếm 54,6% tổng số khách và tăng 14,9%; vì công việc chiếm 17,3%, tăng 10,6%; thăm thân nhân chiếm 15,3%, tăng 7,3%; vì mục đích khác chiếm 11,8% và giảm 4%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2002 so với tháng trước tăng 0,2%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,3% (Riêng lương thực tăng 0,6%); các nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép, nhà ở và vật liệu xây dựng và nhóm giáo dục đều tăng ở mức 0,4%; còn các nhóm hàng khác giữ nguyên hoặc biến động không đáng kể.
So với tháng 12 năm 2001 chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,1%, trong đó tăng nhiều nhất là nhóm lương thực, thực phẩm 5,6% (Riêng thực phẩm tăng 9%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,5%; nhóm đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,9%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,7%; riêng nhóm văn hóa, thể thao, giải trí giảm 0,9%.
Chỉ số giá tiêu dùng 12 tháng (tại thời điểm tháng 9 năm 2002) tăng 4,1%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng nhiều nhất 8,3%; nhóm giáo dục tăng 3,3%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 2%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,4%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,1%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện giảm 3,7%; văn hóa, thể thao, giải trí giảm 0,8%.
Chỉ số giá vàng tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 16,1% so với tháng 12 năm 2001 và tăng 19,3% so với tháng 9/2001; tương tự chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,1%, tăng 1,7% và tăng 2,1%.
Xuất khẩu tháng 9 tiếp tục tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng trưởng mạnh hơn nhờ vào các mặt hàng có trị giá xuất khẩu lớn dệt may, thuỷ sản, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ và gạo. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 9 tháng năm 2002 ước tính đạt khoảng 11,9 tỷ USD. Một dấu hiệu tích cực là do có sự chỉ đạo tập trung và mạnh mẽ của Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương nên đã cải thiện được tình trạng xuất khẩu 8 tháng năm 2002 không đạt mức cùng kỳ đến 9 tháng kim ngạch xuất khẩu đã tăng 2,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 6,5 tỷ USD, tăng 4,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu trên 5,3 tỷ USD, tăng 0,4%.
Một số mặt hàng xuất khẩu 9 tháng với kim ngạch xuất khẩu lớn đạt tốc độ tăng cao như dệt may tăng 23,3%; giày dép tăng 19,7%; hàng thuỷ sản tăng 7,8%; hàng thủ công mỹ nghệ tăng 41,4%. Xuất khẩu gạo tháng 8 đạt 490 nghìn tấn, tháng 9 dự kiến 400 nghìn tấn đã nâng khối lượng gạo xuất khẩu 9 tháng lên 2,77 triệu tấn, tuy chưa đạt khối lượng xuất khẩu 9 tháng 2001 nhưng do được lợi về giá nên kim ngạch xuất khẩu gạo 9 tháng tăng 18,9% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng tuy giá có giảm nhẹ nhưng lượng xuất khẩu tăng mạnh nên cả lượng và kim ngạch đều tăng đáng kể so với cùng kỳ như cao su tăng 46,4% về lượng và tăng 44,2% về trị giá; tương tự chè tăng 75,4% và tăng 74,4%; lạc tăng 46,4% và tăng 41,9%; than đá tăng 36,8% và tăng 29,3%; hạt điều tăng 41,8% và tăng 25,5%. Riêng mặt hàng dầu thô ước tính 9 tháng/2002 xuất khẩu đạt 12,37 triệu tấn với trị giá là 2,23 tỷ USD, giảm 3,9% về lượng và giảm 13,2% về trị giá. Tuy nhiên một số mặt hàng xuất khẩu còn giảm sút so với cùng kỳ như điện tử, máy tính giảm 24,5%; rau quả giảm 38,9%; cà phê giảm 23,2% về lượng và giảm 32,3% về trị giá.
Triển vọng trong những tháng tới xuất khẩu những mặt hàng chủ yếu như dầu thô, hàng dệt may, thuỷ sản, gạo, cao su, lạc và hàng điện tử sẽ tốt hơn mức tăng trưởng 9 tháng và duy trì được mức tăng cao với các mặt hàng như giày dép, thủ công mỹ nghệ, hạt tiêu, hạt điều, than đá… thì kim ngạch xuất khẩu năm 2002 dự kiến sẽ đạt 16,1 tỷ USD, tăng 7,1% so với năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt khoảng 8,85 tỷ USD và tăng 7,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,25 tỷ USD và tăng 6,7%.
Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng năm 2002 đạt gần 13,5 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu hơn 9 tỷ USD, tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4,5 tỷ USD, tăng 21,8%.
Tuy tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu cao hơn nhiều so với mức tăng 2,8% của kim ngạch xuất khẩu, nhưng chủ yếu do tăng nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong nước, mặt khác giá một số mặt hàng nhập khẩu đang ở mức thấp nên đã kích thích nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt giá trị nhập khẩu cao nhất 2,64 tỷ USD chiếm tỷ trọng 19,5% trong tổng trị giá nhập khẩu, tăng 33,1%; hoá chất tăng 22,3%; sản phẩm hoá chất tăng 35,5%; thuốc trừ sâu tăng 36,1%; sợi dệt tăng 30,7% về lượng và tăng 32% về giá trị; sắt thép tăng 25,7% về lượng và tăng 31,6% về giá trị; phân bón tăng 22,1% và tăng 18,8%; chất dẻo tăng 21,4% và tăng 17,8%. Riêng nhập khẩu xăng dầu tăng 17,4% về lượng, nhưng do giá giảm nên kim ngạch nhập khẩu chỉ tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu xe máy dạng linh kiện lắp ráp và xe máy nguyên chiếc đã giảm đáng kể chỉ đạt 39,8% về lượng và 46,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Dự kiến kim ngạch nhập khẩu cả năm 2002 sẽ đạt 18,2 tỷ USD tăng 12,6% so với năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 12,2 tỷ USD, tăng 9,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 6 tỷ USD, tăng 20,4%.
Nhập siêu 9 tháng năm 2002 khoảng 1,7 tỷ USD, bằng 14,1% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 0,8 tỷ USD. Ước tính nhập siêu cả năm 2002 khoảng 2,1 tỷ USD, bằng 13 % kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu khoảng 1,3 tỷ USD.

7. Một số vấn đề xã hội
Đời sống dân cư
Do sản xuất phát triển và giá cả ổn định nên nhìn chung đời sống dân cư 9 tháng năm 2002 tiếp tục được cải thiện. Các ngành và địa phương đã có nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực tạo việc làm ổn định và từng bước tăng thu nhập cho người lao động. Ở nông thôn do giá lúa gạo và sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng nên đời sống nông dân đã ngày càng khá hơn. Mặc dù tình hình thiếu đói trong nông dân vẫn xảy ra nhưng đã giảm hơn cùng kỳ năm trước và xảy ra chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố thì 9 tháng trong cả nước có 1262,6 nghìn lượt hộ với 5791,6 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, giảm 9,6% về số hộ và giảm 11,4% về số nhân khẩu so với cùng kỳ năm trước. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 10,4 nghìn tấn lương thực và hàng chục tỷ đồng.
Công tác đền ơn đáp nghĩa và hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách tiếp tục được duy trì. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc cho vay vốn xoá đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, trợ giúp cho các đối tượng chính sách và các hộ nghèo. Tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng qua đã xây dựng 2206 ngôi nhà và sửa chữa 266 nhà với số tiền trên 15 tỷ đồng cho người nghèo, đồng thời tỉnh cũng đã cấp 24,8 nghìn thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng trên. Tỉnh Bạc Liêu đã bàn giao 237 nhà tình nghĩa, ngoài ra ngân hàng phục vụ người nghèo cũng đã cho 11,1 nghìn hộ vay vốn với số tiền 36,8 tỷ đồng. Tỉnh Bình Dương đã xây dựng và bàn giao 256 nhà tình nghĩa với kinh phí 4,1 tỷ đồng. Ngoài quỹ xóa đói giảm nghèo đã lên tới 138,5 tỷ đồng và 30 nghìn USD, thành phố Hồ Chí Minh cũng đã trích ngân sách hỗ trợ gần 1,4 tỷ đồng mua thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng thuộc diện nghèo. Đến nay quỹ xoá đói giảm nghèo của thành phố đã cho hàng vạn hộ vay vốn cũng như phối hợp với các cấp, các ngành xây dựng và trao tặng 272 nhà tình thương.
Hoạt động văn hoá
Công tác văn hoá thông tin 9 tháng năm 2002 hướng vào các hoạt động chào mừng kỷ niệm những ngày lễ lớn và tuyên truyền bầu cử Quốc hội khoá XI. Ngành Văn hoá Thông tin đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động bầu cử Quốc hội ở 61 tỉnh, thành phố, đặc biệt là các điểm vùng sâu, vùng xa với nhiều hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin cổ động tạo không khí vui tươi phấn khởi cho nhân dân trước sự kiện trọng đại của đất nước. Trong tháng 5, ngành Văn hóa Thông tin đã cùng với tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức thành công lễ hội Festival 2002 với 150 chương trình văn hoá, 28 chương trình lễ hội cộng đồng thu hút hàng triệu người. Tham dự lễ hội có 33 đoàn nghệ thuật với 1554 nghệ sỹ, diễn viên, trong đó có 283 nghệ sỹ, diễn viên các đoàn nghệ thuật của 9 quốc gia tham dự. Để chào mừng 57 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, tất cả các địa phương trong cả nước đều tổ chức các hoạt động thiết thực như văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao… Nổi bật là ngày hội văn hoá Tây Nguyên tại Hà Nội, thu hút 200 nghệ nhân, nghệ sỹ, diễn viên của 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng.
Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá được tiến hành thường xuyên. Tính đến hết tháng 8 năm 2002 đã tiến hành kiểm tra trên 5 nghìn cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá và đã phát hiện trên 1,5 nghìn cơ sở vi phạm, đình chỉ hoạt động của 55 cơ sở, thu giữ 319,1 nghìn đĩa các loại, 21,1 nghìn băng video, 15 máy đánh bạc, 142 đầu máy, tivi và phạt hành chính 1346 triệu đồng.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh. Nhiều địa phương trong cả nước thực hiện tốt phong trào này với các hoạt động tiêu biểu như: Tỉnh Lai Châu kết hợp văn nghệ cổ truyền với văn nghệ hiện đại; Thanh Hoá xây dựng được 142 phố, làng, cơ quan văn hoá; Sơn La gần 200 nhà văn hoá đã được xây dựng; Hà Giang đã đăng ký xây dựng được 1074 làng văn hoá với 76,5 nghìn gia đình văn hoá…
Công tác giáo dục
Tổng kết năm học 2001-2002
Kết thúc năm học 2001 – 2002 cả nước có gần 1,9 triệu học sinh thi tốt nghiệp tiểu học, giảm 2,9% so với năm học trước; gần 1,3 triệu học sinh thi tốt nghiệp trung học cơ sở, tăng 7,6% và 710,7 nghìn học sinh thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 9,5%. Kết quả tỷ lệ học sinh tốt nghiệp của bậc tiểu học và trung học cơ sở năm nay cao hơn năm học trước, trong đó tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học ở tất cả các vùng trong cả nước đều đạt trên 98%. Riêng học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ 89,8%, thấp hơn năm học trước.

Khai giảng năm học 2002-2003
Theo báo cáo sơ bộ của các tỉnh và thành phố, năm học 2002-2003 cả nước có khoảng 2,6 triệu trẻ em đến các lớp mầm non, tăng 1,1% so với năm học trước; 9 triệu học sinh tiểu học, giảm 7,6%; 6,3 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 6,5% và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 9,1%. Cũng trong năm học này cả nước có 350 nghìn giáo viên tiểu học, 245 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 80 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Mặc dù số giáo viên đã được bổ sung kịp thời, nhưng so với quy định thì vẫn còn thiếu 29 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 17 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đến nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công nhận 10 tỉnh, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Nam Định, Hưng Yên, Tuyên Quang, Thái Bình và Hà Nam, trong đó Hà Nội, Hưng Yên và Hà Nam là các địa phương có 100% số xã, phường đạt chuẩn quốc gia.
Tình hình dịch bệnh
Trong 9 tháng năm 2002 các dịch bệnh không xảy ra. Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 9 có 15583 lượt người sốt rét, 1889 lượt người sốt xuất huyết và 92509 lượt người bị tiêu chảy. Tính từ đầu năm đến 19/9/2002 số người bị sốt rét trong cả nước là 110,3 nghìn lượt người và số người bị tiêu chảy 655,6 nghìn lượt người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng 9 cũng đã xảy ra 5 vụ với 52 người bị ngộ độc và làm chết 2 người. Tính từ đầu năm đến 18/9/2002 trong cả nước có 3359 người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 57 người đã chết.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS vẫn tiếp tục gia tăng. Trong tháng 9 đã phát hiện thêm 1075 trường hợp nhiễm HIV đưa số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/9/2002 lên 54641 người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 8110 người và 4447 người đã chết do AIDS.
Tai nạn giao thông
Tai nạn giao thông 8 tháng đầu năm 2002 tiếp tục gia tăng cả về số vụ, số người chết và bị thương. Trong tháng 8 đã xảy ra 2334 vụ làm chết 1043 người và làm bị thương 2469 người. Tính đến hết tháng 8/2002 trên địa bàn toàn quốc đã xảy ra 20359 vụ tai nạn giao thông làm chết 8257 người và làm bị thương 23059 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông 8 tháng qua tăng 19,5%, số người chết tăng 19,3% và số người bị thương tăng 18,7%. Bình quân một ngày trong cả nước xảy ra 84 vụ tai nạn giao thông làm chết 33 người và làm bị thương 95 người. Trong tổng số vụ tai nạn giao thông 8 tháng qua thì 19859 vụ xảy ra trên đường bộ, làm chết 7987 người và làm bị thương 22893 người.
Thiệt hại thiên tai
Từ giữa tháng 8 đến nay đã xảy ra tình trạng bão, mưa lớn, lũ, lốc ở nhiều địa phương trong cả nước nhất là ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và khu vực miền Trung. Theo báo cáo của các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, An Giang, Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bạc Liêu và Cà Mau, từ giữa tháng 8 đến 23/9/2002 thiên tai đã làm 143 người chết, 36 người bị thương; 24,2 km đê kè và trên 100 km kênh mương bị sạt lở, cuốn trôi; 1062 ngôi nhà và 620 phòng học bị sập đổ; gần 30 nghìn ha lúa bị ngập úng, trong đó mất trắng 6,2 nghìn ha và hàng nghìn ha hoa màu khác bị hư hại, ước tính thiệt hại trên 600 tỷ đồng. Tính chung từ đầu năm đến 23/9/2002, thiên tai đã làm chết 186 người, bị thương 158 người và tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 750 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ