Kinh tế – xã hội nước ta những tháng đầu năm 2019 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng. Hoạt động thương mại và đầu tư thế giới giảm, bất đồng giữa các nước lớn về định hình hệ thống thương mại toàn cầu ngày càng sâu sắc. Xu hướng tăng lãi suất, biến động khó lường trên thị trường tài chính – tiền tệ quốc tế và giá dầu diễn biến phức tạp tác động đến tăng trưởng tín dụng, tâm lý và kỳ vọng thị trường[1]. Xu hướng gia tăng của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ sản xuất, bảo hộ mậu dịch cùng những thay đổi về địa chính trị cũng là thách thức đối với kinh tế thế giới và gây ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam. Trong nước, nhờ những thuận lợi từ kết quả ấn tượng đạt được trong năm 2018, nền kinh tế những tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp nhưng cũng đối mặt nhiều khó khăn, thách thức với tăng trưởng chậm lại của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh trên vật nuôi diễn biến phức tạp.

Với phương châm hành động của Chính phủ năm 2019 là “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, ngay từ những ngày đầu năm, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Nhờ đó, tình hình kinh tế – xã hội quý I/2019 tiếp tục chuyển biến tích cực:

“Tổng sản phẩm trong nước quý I/2019 đạt mức tăng trưởng khá 6,79%, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát thấp nhất trong 3 năm 2017-2019. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, doanh nghiệp thành lập mới tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm dần. An sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Năng lực sản xuất của nền kinh tế mở rộng, tạo đà cho kinh tế nước ta phát triển trong những quý tiếp theo”.

  1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2019 ước tính tăng 6,79% so với cùng kỳ năm trước, tuy thấp hơn mức tăng trưởng của quý I/2018 nhưng cao hơn tăng trưởng quý I các năm 2011-2017[2]. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 4,9% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,63%, đóng góp 51,2%; khu vực dịch vụ tăng 6,5%, đóng góp 43,9%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng1,84% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 3,97% của quý I/2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,2%, do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 5,1%, đạt mức tăng trưởng cao nhất của quý I trong 9 năm trở lại đây[3], đóng góp 0,14 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 8,95% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,14 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong quý I/2019 là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,35%, tuy thấp hơn mức tăng 14,3% của quý I/2018 nhưng cao hơn mức tăng quý I các năm 2012-2017[4], đóng góp lớn vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm với 2,72 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng quý I năm nay tăng trưởng âm (giảm 2,2%), làm giảm 0,15 điểm phần trămmức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 10,3% và khí đốt tự nhiên giảm 2,4%. Ngành xây dựng 3 tháng đầu năm nay duy trì mức tăng trưởng khá với 6,68%, đóng góp 0,39 điểm phần trăm.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung với 0,95 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng6,22%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,71%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,75%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,25%; khu vực dịch vụ chiếm 44,04%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,55% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2018 là: 10,35%; 35,31%; 43,72%; 10,62%).

Trên góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,09% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 6,2%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,81%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,7%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

     a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 3.087,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,8% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc đạt 1.088,4 nghìn ha, bằng 99,6%; các địa phương phía Nam đạt 1.998,8 nghìn ha, bằng 101,4%, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.601,5 nghìn ha, bằng 101,8%. Đến nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 1.042,6 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 65,1% diện tích xuống giống và tăng 64,8% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng ước tính đạt 10,8 triệu tấn, giảm 37,9 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước; năng suất ước tính đạt 67,4 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha.

Cũng đến thời điểm trên, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn thành thu hoạch lúa vụ mùa 2018-2019. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt 171,7 nghìn ha, giảm 25,6 nghìn ha so với vụ lúa mùa trước; năng suất ước tính đạt 46,4 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 797,2 nghìn tấn, giảm 112,3 nghìn tấn.

Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 346,8 nghìn ha ngô, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước; 62,3 nghìn ha khoai lang, bằng 98,9%; 120,8 nghìn ha lạc, bằng 98,2%; 14,9 nghìn ha đỗ tương, bằng 103,5%; 520,8 nghìn ha rau đậu, bằng 102,8%.

Đàn trâu cả nước trong tháng Ba tiếp tụcgiảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả thu hẹp; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I/2019 đạt 26,3 nghìn tấn, tăng 1,8%.Đàn bò phát triển khá với mức tăng trong tháng đạt 3% do gặp thuận lợi về giá cả và thị trường tiêu thụ, người chăn nuôi có lãi ổn định; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng quý I năm nay ước tính đạt 99,2 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng sữa bò tươiđạt 252,2 nghìn tấn, tăng 7,3%.Đàn lợn của cả nước tháng Ba tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I đạt  hơn 1 triệu tấn, tăng 3,2%. Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đang phải đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch tả lợn châu Phi đã xâm nhập vào 23 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, thị trường tiêu thụ ổn định, ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng Ba tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2019 đạt 338,3 nghìn tấn, tăng 6,2%;sản lượng trứng gia cầm quý I đạt gần 3,6 tỷ quả, tăng 10,6%.

       b) Lâm nghiệp

Trong quý I/2019, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 31,9 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 15,7 triệu cây, tăng 0,5%;sản lượng gỗ khai thác đạt 2.714 nghìn m3, tăng 4,5%;sản lượng củi khai thác đạt 3,9 triệu ste, giảm 1,5%.

Trong 3 tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 98,7 ha, giảm 48,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 22,8 ha, giảm 56,6%; diện tích rừng bị chặt phá là 75,9 ha, giảm 45,4%.

       c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý I/2019 ước tính đạt 1.466,7 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.098,7 nghìn tấn, tăng 5,1%; tôm đạt 136,4 nghìn tấn, tăng 5,2%; thủy sản khác đạt 231,6 nghìn tấn, tăng 3,4%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I/2019 ước tính đạt 646,2 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 468,2 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 101,9 nghìn tấn, tăng 7,6%. Diện tích nuôi cá tra quý I/2019 ước tính đạt 3 nghìn ha, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cá tra đạt 250,1 nghìn tấn, tăng 7,7%. Sản lượng tôm sú quý I ước tính đạt 43,1 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 45,6 nghìn tấn, tăng 8,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác quý I/2019 ước tính đạt 820,5 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 630,5 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 34,5 nghìn tấn, giảm 1,1% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 785,1 nghìn tấn, tăng 5%,trong đó cá đạt 606,1 nghìn tấn, tăng 5,4%; tôm đạt 31,6 nghìn tấn, giảm 0,9%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2019 tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 0,4%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11%. Tính chung quý I/2019, IIP ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng vẫn cao hơn mức tăng 7,4% và 4,8% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó,ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng cao 11,1%, đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2,1%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I/2019tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 96,1%; sản xuất kim loại tăng 37,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,8%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 13,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng tăng 11,6%; sản xuất đồ uống tăng 11,4%; khai thác quặng kim loại tăng 10,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 3,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 2,9% (cùng kỳ năm trước tăng 29,3%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,3%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 6,2% (khai thác dầu thô giảm 10,3% và khai thác khí đốt tự nhiên giảm 2,4%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi…) giảm 0,2%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2019tăng 8% so với cùng kỳ năm 2018. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/3/2019 ước tính tăng 15,6% so với cùng thời điểm năm trước; tỷ lệ tồn kho bình quân quý I/2019 là 72,9%.

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

      a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong quý I năm nay, cả nước có 28.451 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 375,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% về số doanh nghiệp và tăng 34,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018[5]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 13,2 tỷ đồng, tăng 26,9%. Nếu tính cả 722,5 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong quý I năm nay là 1.098 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 15.050doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 78,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm nay lên hơn 43,5 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I năm 2019 là 317,6 nghìn người, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong quý I năm nay là 14.761 doanh nghiệp, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 15.331 doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm 2018 là 8.404 doanh nghiệp, chiếm 54,8%; doanh nghiệp thông báo giải thể là 3.378 doanh nghiệp, chiếm 22% và 3.549 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể, chiếm 23,2%. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong quý I năm 2019 là 4.116 doanh nghiệp, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 3.737 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 90,8%.

       b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2019 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 25,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 40,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II/2019, có 54,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 10,6% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 34,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2019 ước tính đạt 1.184,9 nghìn tỷ đồng, tăng12% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,9%). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm nay ước tính đạt 910,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,8% tổng mức và tăng13,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 140 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% và tăng 9,2%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 11,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 12,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 123,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,4% và tăng 5,1%.

Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1.237 triệu lượt khách, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và 55,7 tỷ lượt khách.km, tăng 10%;vận tải hàng hóa đạt 412,2 triệu tấn, tăng 8,6% và 78,1 tỷ tấn.km, tăng 6,5%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý I/2019 ước tính đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối tháng 3/2019, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt135,3 triệu thuê bao, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sốthuê bao di động là 131,1 triệu thuê bao, tăng 6,1%; thuê bao internet băng thông rộng cố định ước tính đạt 13,9 triệu thuê bao, tăng 15,8%.

Khách quốc tế đến nước ta trong quý I/2019 ước tính đạt 4.500,1 nghìn lượt người, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.516,3nghìn lượt người, tăng 4,5%; đến bằng đường bộ đạt 908,8nghìn lượt người, tăng 26,2%; đến bằng đường biển đạt 75 nghìn lượt người, giảm 37,4%.Trong 3 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 3.390,4 nghìn lượt người, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (trong đóTrung Quốc 1.281,1 nghìn lượt người, giảm 5,6%; Hàn Quốc 1.107,8 nghìn lượt người, tăng 24,1%; Nhật Bản 233,4 nghìn lượt người, tăng 8,3%; Đài Loan 207,1 nghìn lượt người, tăng 26%; Ma-lai-xi-a 143,6 nghìn lượt người, tăng 11,1%); khách đến từ châu Âu đạt 685,2 nghìn lượt người, tăng 6,1%; khách đến từ châu Mỹ đạt 293,5 nghìn lượt người, tăng 6,3%; khách đến từ châu Úc đạt 119,3 nghìn lượt người, tăng 0,2%;khách đến từ châu Phi đạt 11,7 nghìn lượt người, tăng 5,7%.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/3/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,54% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 3,23%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 1,72% (cùng kỳ năm 2018 tăng 2,2%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 1,9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 2,23%).

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm 2019 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2019 ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 23%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2019 theo giá hiện hành đạt 359,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 106,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 158 nghìn tỷ đồng, chiếm 44% và tăng 13,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 94,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,3% và tăng 7,5%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I/2019 ước tính đạt 50,8 nghìn tỷ đồng, bằng 14,7% kế hoạch năm và tăng 3,2% so với quý I/2018 (cùng kỳ năm trước bằng 14% và tăng 10,3%), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% kế hoạch năm và giảm 30,5%; vốn địa phương quản lý đạt 44,5 nghìn tỷ đồng, bằng 14,9% kế hoạch năm và tăng 10,9%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2019 thu hút 785 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 3.821,4 triệu USD, tăng 27% về số dự án và tăng 80,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 279 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 1.298,4 triệu USD, giảm 27,5% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 3 tháng đạt 5.119,8 triệu USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng ước tính đạt 4.120 triệu USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 3 tháng năm 2019 còn có 1.653 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp là 5,69 tỷ USD, gấp 3 lần cùng kỳ năm 2018, trong đó có 588 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,79 tỷ USD và 1.065 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 0,9 tỷ USD.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong quý I/2019, cả nước có 24 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư của phía Việt Nam là 80,4 triệu USD, bên cạnh đó có 8 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 39,6 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) trong quý I năm nay đạt 120 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2019 ước tính đạt 278,6 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa 221,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9%; thu từ dầu thô 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 22,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 47 nghìn tỷ đồng, bằng 24,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2019 ước tính đạt 254,5 nghìn tỷ đồng, bằng 15,6% dự toán năm, trong đó chithường xuyên đạt 192,7 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%; chi đầu tư phát triển 33,5 nghìn tỷ đồng, bằng 7,8%; chi trả nợ lãi 27,7 nghìn tỷ đồng, bằng 22,2%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

      a) Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2019 ước tínhđạt 58,51 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 17,05 tỷ USD, tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 41,46 tỷ USD, tăng 2,7%, chiếm 70,9%.

Trong quý I có 9 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 70,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó:điện thoại và linh kiện đạt 12,1 tỷ USD, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước;hàng dệt may đạt 7,3 tỷ USD, tăng 13,3%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,9 tỷ USD, tăng 9,3%; giày dép đạt 4 tỷ USD, tăng 15,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,9 tỷ USD, tăng 5,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,3 tỷ USD, tăng 17%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,2 tỷ USD, tăng 7,6%;thủy sản đạt 1,7 tỷ USD, giảm 1,4%; sắt thép đạt 1,1 tỷ USD, tăng 3,6%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản quý I năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 885 triệu USD, giảm 8,6%; cà phê đạt 830 triệu USD, giảm 23,8% (lượng giảm 15,3%);hạt điều đạt 625 triệu USD, giảm 17,2% (lượng tăng 4,7%); gạo đạt 567 triệu USD, giảm 23,6% (lượng giảm11,5%); hạt tiêu đạt 189 triệu USD, giảm 14,7% (lượng tăng 18,5%).Riêng cao su đạt kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm 458 triệu USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước (lượng tăng 32%).

        b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I/2019 tínhđạt 57,98 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 24,09 tỷ USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,89 tỷ USD, tăng 6%.

Trong quý I có 13 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 69,5% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 11,7 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 8,7 tỷ USD, tăng 15,1%; vải đạt 2,8 tỷ USD, tăng 6,4%; điện thoại và linh kiện đạt 2,8 tỷ USD, giảm 15,4%; sắt thép đạt 2,3 tỷ USD, tăng 4,1%; chất dẻo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 4,1%; ô tô đạt 1,8 tỷ USD, tăng 103,7%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7,8%;kim loại thường đạt 1,5 tỷ USD, giảm 11%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,4 tỷ USD, tăng 8,8%; hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, tăng 7%; sản phẩm hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, tăng 3,5%; xăng dầu đạt 1,2 tỷ USD, giảm 47,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa tính chung quý I/2019 tiếp tục xuất siêu 536triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 7,04 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,57 tỷ USD.

         c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I/2019 ước tính đạt 4,1 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó dịch vụ du lịch đạt 3 tỷ USD (chiếm 71,2% tổng kim ngạch), tăng 7,3%; dịch vụ vận tải đạt 741 triệu USD (chiếm 17,9%), tăng 1,5%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I/2019 ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 47,5% tổng kim ngạch), tăng 8%; dịch vụ du lịch đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 31,6%), tăng 6,7%. Nhập siêu dịch vụ trong quý I/2019 là 405 triệu USD, bằng 9,8% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá

    a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2019 giảm 0,21% so với tháng trước, trong đó 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm.Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nhiều nhất với 1,42% (lương thực giảm 0,55%[6]; thực phẩm giảm 1,97%[7]), làm CPI chung giảm 0,51%, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng sau Tết giảm và ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,17%; văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,09%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%; bưu chính viễn thông giảm 0,07%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng gồm: Giao thông tăng 2,22% do tác động của điều chỉnh tănggiá xăng, dầu vào thời điểm ngày 2/3/2019 (tác động làm CPI tăng 0,23%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,78% chủ yếu do giá gas trong tháng tăng 4,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giáo dục tăng 0,01%.

CPI bình quân quý I/2019 tăng 2,63% so với bình quân cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân quý I thấp nhất trong 3 năm trở lại đây[8]; CPI tháng 3/2019 tăng 0,69% so với tháng 12/2018 và tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2019 giảm 0,06% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân quý I/2019 tăng 1,83% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

       b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 3/2019 giảm 0,49% so với tháng trước; tăng 3,3% so với tháng 12/2018 và giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2019 tăng 0,05% so với tháng trước; giảm 0,44% so với tháng 12/2018 và tăng 2,02% so với cùng kỳ năm 2018.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2019 giảm 0,06% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân quý I/2019 tăng 1,83% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

      c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2019 tăng 0,19% so với quý IV/2018 và tăng 2,60% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuấtnông, lâm nghiệp và thủy sản quý I tăng 0,43% và tăng 3,60%; chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I giảm 0,54% và tăng 1,45%;chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý I tăng 0,79% và tăng 2,86%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I/2019 tăng 3,63% so với quý IV/2018 và tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I giảm 0,27% và tăng 1,06%. Tỷ giá thương mại hàng hóa[9] quý I năm nay tăng 3,91% so với quý IV/2018 và tăng 1,81% so với cùng kỳ năm 2018.

  1. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nướcquý I/2019 ước tính là 55,4 triệu người, giảm 207 nghìn người so với quý trước, bao gồm: Lao động nam 29 triệu người, chiếm 52,3%; lao động nữ 26,4 triệu người, chiếm 47,7%. Lực lượng lao độngtừ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị 18,5 triệu người, chiếm 33,3%; khu vực nông thôn 36,9 triệu người, chiếm 66,7%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý I/2019 ước tính là 48,8 triệu người, giảm 96,4 nghìn người so với quý trước và tăng 444,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động nam 26,6 triệu người, chiếm 54,4%; lao động nữ 22,2 triệu người, chiếm 45,6%. Lực lượng lao động trong độ tuổikhu vực thành thị 16,9 triệu người, chiếm 34,7%; khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, chiếm 65,3%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I/2019 ước tính là 54,3 triệu người, bao gồm 19,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35,4% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 15,6 triệu người, chiếm 28,6%; khu vực dịch vụ 19,5 triệu người, chiếm 36%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2019 là 2,17%, trong đó khu vực thành thị là 3,11%; khu vực nông thôn là 1,67%[10]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2019 ước tính là 6,27%, trong đó khu vực thành thị là 10,49%; khu vực nông thôn là 4,64%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2019 ước tính là 1,21%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,60%; khu vực nông thôn là 1,53%. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[11]quý I/2019 ước tính là 54,3%, trong đó khu vực thành thị là 45,9%; khu vực nông thôn là 61,3%.

  1. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Đời sống dân cư những tháng đầu năm 2019 nhìn chung ổn định, thiếu đói trong nông dân giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2018. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, trong quý I,cả nước có 28,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 38,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 105,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 39,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 1,7 nghìn tấn gạo.

Công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, trong quý I năm nay đã có 14 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

  1. Giáo dục, đào tạo

Theo báo cáo sơ bộ, năm học 2018-2019, cả nước 5.360 nghìn trẻ em bậc mầm non; 8.359 nghìn học sinh tiểu học; 5.603 nghìn học sinh trung học cơ sở; 2.578 nghìn học sinh trung học phổ thông và 11,7 nghìn học sinh trung cấp sư phạm; 44,5 nghìn sinh viên cao đẳng sư phạm; 1.443 nghìn sinh viên đại học chính quy. Trong 3 tháng đầu năm 2019, công tác giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh được 248,8 nghìn người, trong đó 44,8 nghìn người trình độ cao đẳng, trung cấp; 204 nghìn người trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác.

  1. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong 3 tháng đầu năm2019, cả nước có hơn 8,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 41,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 6 trường hợp mắc viêm màng não do mô cầu; 84 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút và 173 người bị ngộ độc thực phẩm (3 người tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/3/2019 là 209,07 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 95,8 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,2 nghìn người.

  1. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trọng tâm của các hoạt động văn hóa 3 tháng đầu năm 2019 là các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi và sinh hoạt lễ hội truyền thống ở nhiều địa phương trên cả nước. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân.Hoạt động thông tin, tuyên truyền được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quản lý lễ hội được quan tâm thực hiện nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; hoạt động kiểm tra, an ninh trật tự tại các lễ hội được tăng cường và công tác vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh tại các di tích được đảm bảo.

Phong trào thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi khắp các địa phương để tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Các hoạt động thể dục, thể thao được tổ chức rộng khắp cả nước, từ các trò chơi dân gian, truyền thống đến các môn thể thao hiện đại nhằm phục vụ tốt nhu cầu thưởng thức, vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân và phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương.

  1. Tai nạn giao thông

Trong 3 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.030 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.148 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.882 vụ va chạm giao thông, làm 1.905 người chết, 1.209 người bị thương và 1.932 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng giảm 13,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 10,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 17,4%); số người chết giảm 11,4%; số người bị thương giảm 0,9% và số người bị thương nhẹ giảm 19,7%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, gồm 24 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 21 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 13 người bị thương và 22 người bị thương nhẹ.

  1. Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Thiên tai xảy ra trong 3 tháng đầu năm đã làm 8 người chết, mất tích; 15 người bị thương; 4,9 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 265 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 8 nghìn ngôi nhà bị sạt lở và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong quý I/2019 ước tính hơn 104 tỷ đồng.

Trong quý I/2019 đã phát hiện 2.378 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 2.127 vụ với tổng số tiền phạt 22 tỷ đồng.

Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 957 vụ cháy, nổ, làm 30 người chết và 57 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính là hơn 154 tỷ đồng./.

[1] Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đãhạ dự báo mức tăng trưởng toàn cầu năm 2019 xuống 3,5%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo 3,7% trước đó, đây là lần đầu tiên IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới kể từ tháng 7/2016. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng hạ mức dự báo thấp hơn 0,2 điểm phần trăm, xuống còn 3,3% cho tăng trưởng kinh tế thế giới 2019. Trong khi đó, ngân hàng Thế giới (WB) chỉ dự báo mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 đạt 2,9%.

[2] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 5,90%; năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%; năm 2015 tăng 6,12%; năm 2016 tăng 5,48%; năm 2017 tăng 5,15%; năm 2018 tăng 7,45%; năm 2019 tăng 6,79%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 2,87%; năm 2012 tăng 4,06%; năm 2013 tăng 2,28%; năm 2014 tăng 4,72%; năm 2015 tăng 3,38%; năm 2016 tăng 1,90%; năm 2017 tăng 3,76%; năm 2018 tăng 4,96%; năm 2019 tăng 5,1%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành chế biến, chế tạo quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 4,38%; năm 2014 tăng 5,97%; năm 2015 tăng 9,70%; năm 2016 tăng 8,94%; năm 2017 tăng 8,60%; năm 2018 tăng 14,30%; năm 2019 tăng 12,35%.

[5] Quý I/2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 2,7%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 1,5%.

[6] Chủ yếu do giá gạo giảm 0,65% so với tháng trước.

[7] Chủ yếu do giá thịt lợn trong tháng giảm 5,3% so với tháng trước; giá thủy sản tươi sống giảm 1,51%; giá trứng gia cầm giảm 2,76% và giá rau tươi giảm 1,53%.

[8] Tốc độ tăng CPI bình quân quý I so với bình quân cùng kỳ năm trước của một số năm như sau: Năm 2017 tăng 4,96%; năm 2018 tăng 2,82%; năm 2019 tăng 2,63%

[9] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[10] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 2,20%, trong đó khu vực thành thị là 3,12%;
khu vực nông thôn là 1,74%.

[11] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.