1. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

      a. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2017 ước tính tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,03%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,17%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm. Tăng trưởng quý I năm nay cao hơn mức tăng của quý I các năm 2012-2014[1], nhưng thấp hơn so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015 và 5,48% của cùng kỳ năm 2016.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp đã cho thấy dấu hiệu khả quan với mức tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2016 ngành này giảm sâu 2,69%), đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp tăng 4,94%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chỉ tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, thấp nhất kể từ năm 2011 trở lại đây[2], trong đó ngành khai khoáng sụt giảm mạnh, bằng 90% cùng kỳ năm trước, làm giảm 0,76 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung; ngành chế biến, chế tạo đạt mức tăng 8,30% (giảm đáng kể so với mức tăng 9,70% của cùng kỳ năm 2015 và 8,94% của cùng kỳ năm 2016), đóng góp 1,46 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 6,10%, thấp hơn tốc độ tăng 8,60% của cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,30 điểm phần trăm.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,77 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,03%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,76%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,72%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,06%; khu vực dịch vụ chiếm 43,99%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,76% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 11,42%; 34,37%; 43,54%; 10,67%).

Xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,73% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 7,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 6,65 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 8,50%, đóng góp 2,27 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu, làm giảm 4,42 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

     a. Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3.040,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.114,3 nghìn ha, bằng 101,3%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.926,6 nghìn ha, bằng 100,3%, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.538 nghìn ha, bằng 98,9%. Đến nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 934,9 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 61% diện tích xuống giống và bằng 86,6% cùng kỳ năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 63,6 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha. Sản lượng lúa đông xuân toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 9,9 triệu tấn, giảm 125 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước.

Cũng đến thời điểm trên, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn tất thu hoạch lúa vụ mùa 2016-2017. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt trên 151 nghìn ha, bằng 73,1% cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của hạn hán, ngập mặn và khó khăn về nguồn nước tưới dưỡng. Năng suất lúa mùa toàn vùng ước tính đạt 40,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 606,6 nghìn tấn, giảm 207,1 nghìn tấn.

Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 341,4 nghìn ha ngô, bằng 98,3% cùng kỳ năm trước; 65,9 nghìn ha khoai lang, bằng 95,5%; 106,2 nghìn ha lạc, bằng 84,5%; 24,9 nghìn ha đỗ tương, bằng 73%; 531,2 nghìn ha rau đậu, bằng 102,5%.

Đàn trâu cả nước tháng Ba ước tính giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 1,5%-2,2%; đàn lợn tăng 1,5%-2,0%; đàn gia cầm tăng 3,2%-3,8%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 3,6%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4,3%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 5,3%.

     b. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 3 tháng đầu năm ước tính đạt 28,5 nghìn ha, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 16,1 triệu cây, tăng 1,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.684 nghìn m3, tăng 5,4%; sản lượng củi khai thác đạt 7,8 triệu ste, tăng 1,3%.

Trong quý I, diện tích rừng bị thiệt hại là 200,4 ha, giảm 76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 97,7 ha, giảm 86,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 102,7 ha, tăng 5,8%.

      c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1.320,8 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 978,6 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm đạt 131,5 nghìn tấn, tăng 5,3%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng ước đạt 566,8 nghìn tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 401,6 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 97,8 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cá tra quý I ước tính đạt 209,3 nghìn tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú ước tính đạt 39,3 nghìn tấn, tăng 2,8%; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 37,5 nghìn tấn, tăng 14,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 754,1 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 577 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 33,7 nghìn tấn, tăng 1% (Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 720 nghìn tấn, tăng 3,7%).

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba ước tính tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,3%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%. Tính chung quý I năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây[3]. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3%, đóng góp 5,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 11,4%, làm giảm 2,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 43,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 14,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và sản xuất trang phục cùng tăng 11,6%; dệt tăng 11,4%. Một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thiết bị điện tăng 5,6%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,4% (trong đó sản xuất đường giảm 6,5%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; khai khoáng khác tăng 1,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 1,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học giảm 1% (Samsung Bắc Ninh giảm sản lượng điện thoại thông minh và máy tính bảng để chuẩn bị sản xuất sản phẩm mới); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,6%; khai thác than giảm 5,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,6%.

Trong quý I năm nay, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm 2016: Ti vi tăng 43,3%; thép cán tăng 32,2%; sắt thép thô tăng 23,2%; phân ure tăng 18,5%; sữa tươi tăng 12,7%; sơn hóa học tăng 12,1%. Một số sản phẩm tăng khá: Thủy hải sản chế biến tăng 10,2%; ô tô tăng 10%; điện sản xuất và quần áo mặc thường cùng tăng 9,5%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ: Thức ăn cho thủy sản và xi măng cùng tăng 5,4%; thuốc lá điếu tăng 1,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 1,1%; xe máy giảm 0,6%; giày, dép da giảm 1,6%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 3,9%; than đá giảm 5,6%; đường kính giảm 7,4%; điện thoại di động giảm 8,2%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 8,9%; dầu thô khai thác giảm 14,9%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 2 tháng đầu năm tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/3/2017 tăng 12,5% so với cùng thời điểm năm 2016; tỷ lệ tồn kho bình quân 2 tháng đầu năm 2017 là 74,3%.

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

     a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]

Tính chung quý I năm nay, cả nước có 26.478 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 271,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 30,9%. Nếu tính cả 325,4 nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I năm 2017 là 596,6 nghìn tỷ đồng. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 291,5 nghìn người, bằng 90,5% cùng kỳ năm trước. Trong 3 tháng đầu năm còn có 9.271 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong quý I năm nay lên hơn 35,7 nghìn doanh nghiệp.

     b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2017 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 24,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 41,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 57,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 9,8% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 32,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I năm 2017 ước tính đạt 921,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,2% (thấp hơn mức tăng 7,5% của quý I năm 2016). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm nay ước đạt 689,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,9% tổng mức và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,4%; may mặc tăng 8,8%; phương tiện đi lại tăng 8,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,3%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 3,4%.

Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm đạt 969,9 triệu lượt khách, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 44,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,4%. Vận tải hàng hóa quý I đạt 350,1 triệu tấn, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước và 64,4 tỷ tấn.km, tăng 6,7%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý I năm 2017 ước tính đạt 96,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối tháng 3/2017, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 129,5 triệu thuê bao, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuê bao di động là 120,6 triệu thuê bao, giảm 0,6%[5]; thuê bao Internet băng rộng cố định ước tính đạt 9,5 triệu thuê bao, tăng 18,8%.

Khách quốc tế đến nước ta trong 3 tháng đầu năm ước tính đạt 3.212,5 nghìn lượt người, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 2.631,6 nghìn lượt người, tăng 32,5%; đến bằng đường bộ đạt 468,8 nghìn lượt người, tăng 7,6%; đến bằng đường biển đạt 112,1 nghìn lượt người, tăng 66,2%.

     II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 16/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,88% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 3,08%); huy động vốn tăng 2,43% (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,26%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,81%.

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2017 ước tính tăng 20% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 29%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 15%.

  1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I theo giá hiện hành ước tính đạt 297,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 99,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng vốn và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 117,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,4% và tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 80,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,1% và tăng 6,2%.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 45,4 nghìn tỷ đồng, bằng 15,6% kế hoạch năm và tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn trung ương quản lý đạt 9,7 nghìn tỷ đồng, bằng 14,3% và tăng 1,6% ; vốn địa phương quản lý đạt 35,7 nghìn  tỷ đồng, bằng 16% và tăng 6,4%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2017 thu hút 493 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.917,2 triệu USD, tăng 4,2% về số dự án và tăng 6,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 223 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 3.940 triệu USD. Trong 3 tháng còn có 1.077 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 852,9 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 3 tháng đầu năm đạt 7.710,1 triệu USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I ước tính đạt 3.620 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 216,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 175,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,7%; thu từ dầu thô 9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 32,2 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 229,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 32,6 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1%; chi thường xuyên 173,2 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%; chi trả nợ lãi 23 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2%. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 38,4 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

     a. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I năm 2017 ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 12,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 31,4 tỷ USD, tăng 13%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu quý I năm nay đạt 45,6 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập 18,4 tỷ USD, tăng 24,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập 27,2 tỷ USD, tăng 21,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.

Cán cân thương mại hàng hóa tính chung quý I/2017 nhập siêu 1,90 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,06 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,16 tỷ USD.

     b. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I năm 2017 ước tính đạt 3,3 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 68% tổng kim ngạch và tăng 9,3%; dịch vụ vận tải đạt 625 triệu USD, chiếm 19,1% và tăng 7,4%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước tính đạt 3,8 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 47,6% tổng kim ngạch và giảm 2,7%; dịch vụ du lịch đạt 1,1 tỷ USD, chiếm 27,8% và tăng 13,3%. Nhập siêu dịch vụ quý I là 500 triệu USD, bằng 15,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá

     a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2017 tăng 0,21% so với tháng trước, trong đó 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 7,51% (dịch vụ y tế tăng 9,86%) do trong tháng có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[6] thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế (tác động làm CPI tăng khoảng 0,38%). Nhóm giáo dục tăng 0,75% (dịch vụ giáo dục tăng 0,87%) do trong tháng tỉnh Thanh Hóa thực hiện lộ trình tăng học phí. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,5% (giá vật liệu xây dựng tăng 0,53%; giá nước sinh hoạt tăng 0,43%; giá điện sinh hoạt tăng 0,26%). Nhóm giao thông tăng 0,39% chủ yếu do ảnh hưởng của lần điều chỉnh tăng giá xăng, dầu tại thời điểm 18/2/2017[7] (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,04%). Nhóm thiết bị và đồ gia đình gia đình tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; bưu chính viễn thông tăng 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,87% (lương thực tăng 0,16%; thực phẩm giảm 1,22%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,12%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%.

CPI bình quân quý I năm nay tăng 4,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2016. CPI tháng 3/2017 tăng 0,90% so với tháng 12/2016 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2017 không đổi so với tháng trước và tăng 1,60% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 3 tháng đầu năm 2017 tăng 1,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

      b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 3/2017 giảm 0,28% so với tháng trước; tăng 1,98% so với tháng 12/2016 và tăng 5,00% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2017 tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 0,26% so với tháng 12/2016 và tăng 1,92% so với cùng kỳ năm 2016.

       c. Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2017 tăng 1,41% so với quý trước và tăng 5,13% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 0,34% và tăng 1,96%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,18% và tăng 0,66%; chỉ số giá cước vận tải kho bãi tăng 1,63% và tăng 0,85%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 1,36% và tăng 3,72%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm nay tăng 1,58% so với quý trước và tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,45% và tăng 3,23%. Tỷ giá thương mại hàng hóa[8] quý I năm nay tăng 0,12% so với quý trước và tăng 2,40% so với cùng kỳ năm trước.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

  1. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/4/2017 ước tính là 54,5 triệu người, tăng 104,9 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2016, bao gồm: Lao động nam 28,0 triệu người, chiếm 51,4%; lao động nữ 26,5 triệu người, chiếm 48,6%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 18,1 triệu người, chiếm 33,2%; khu vực nông thôn là 36,4 triệu người, chiếm 66,8%. Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 47,9 triệu người, tăng 212,5 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam 25,8 triệu người, chiếm 53,9%; lao động nữ 22,1 triệu người, chiếm 46,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,3 triệu người, chiếm 34,0%; khu vực nông thôn là 31,6 triệu người, chiếm 66,0%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,4 triệu người, bao gồm 21,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 40,6% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,6 triệu người, chiếm 25,5%; khu vực dịch vụ 18,1 triệu người, chiếm 33,9%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2017 ước tính là 2,30%, trong đó khu vực thành thị là 3,21%; khu vực nông thôn là 1,82%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) quý I/2017 ước tính là 6,96%, trong đó khu vực thành thị là 10,90%; khu vực nông thôn là 5,57%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 1,74%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,80%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,25%. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[9] quý I/2017 ước tính là 55,5%, trong đó khu vực thành thị là 47,2%; khu vực nông thôn là 63,0%.

  1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Quý I/2017, cả nước có 76,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 312,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,3%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 11,2 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng.

Công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí huy động từ ngân sách Trung ương, các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm 2017 là 3.775 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã có 9,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

  1. Giáo dục, đào tạo

Tính đến cuối tháng 3/2017, cả nước có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi[10]; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1, trong đó 12 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3[11].

Năm 2016, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh hơn 2,1 triệu lượt người, đạt 96,5% so với kế hoạch, trong đó cao đẳng nghề, trung cấp nghề tuyển sinh được 238,7 nghìn lượt người, đạt 95,5%; sơ cấp nghề tuyển sinh 1,8 triệu lượt người, đạt 96,6%.

Toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay có 1.989 cơ sở, bao gồm 219 trường cao đẳng; 303 trường trung cấp chuyên nghiệp; 190 trường cao đẳng nghề, 280 trường trung cấp nghề và 997 trung tâm giáo dục nghề nghiệp.

  1. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có gần 6,3 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 14,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 87 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 73 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 10 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 16 trường hợp nhiễm vi rút Zika. Dịch bệnh ho gà có chiều hướng diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát tại các tỉnh phía Bắc do điều kiện thời tiết chuyển lạnh và độ ẩm cao. Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã phát hiện 114 trường hợp mắc bệnh ho gà, trong đó 5 trường hợp đã tử vong.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/3/2017 là 215,9 nghìn người, trong đó 88,5 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 90,3 nghìn người.

Tính từ 18/12/2016 đến 17/3/2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 21 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 641 người bị ngộ độc, trong đó 15 trường hợp tử vong. Đáng lưu ý là từ đầu năm đến nay, trên cả nước đã xảy ra hàng chục vụ ngộ độc rượu (methanol) với số nạn nhân lên đến hàng trăm người như vụ ngộ độc methanol nghiêm trọng ở Lai Châu ngày 13/2 đã làm hơn 80 người nhập viện, trong đó 9 trường hợp tử vong; vụ ngộ độc ở Hà Giang đã làm 86 người phải nhập viện.

  1. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa 3 tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Đinh Dậu. Các hoạt động thông tin, tuyên truyền, kỷ niệm được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm; tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong nhân dân.

Phong trào thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi khắp các địa phương với nhiều hoạt động phong phú như: Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Đại hội Thể dục thể thao các cấp; triển khai chương trình phối hợp về thể dục thể thao với các Bộ, ngành và kế hoạch Bơi an toàn, phòng chống tai nạn đuối nước trẻ em năm 2017; chuẩn bị tổ chức chạy tiếp sức hưởng ứng SEA Games 29 và Para Games 9.

Thể thao thành tích cao 3 tháng đầu năm đạt được những kết quả ấn tượng, giành được 18 huy chương vàng, 17 huy chương bạc và 10 huy chương đồng trên các đấu trường quốc tế.

  1. Tai nạn giao thông

Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.812 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.451 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.361 vụ va chạm giao thông, làm 2.114 người chết, 1.032 người bị thương và 2.803 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm nay giảm 3,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 4,1%); số người chết giảm 3,6%; số người bị thương giảm 36,9% và số người bị thương nhẹ giảm 2,9%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 26 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 11 người bị thương và 31 người bị thương nhẹ.

Mặc dù tình hình tai nạn giao thông trong thời gian gần đây đã có sự cải thiện nhất định nhưng số vụ tai nạn đường sắt có xu hướng gia tăng tại nhiều địa phương trên địa bàn cả nước, báo động những hiểm họa tiềm ẩn đối với loại hình giao thông vốn được coi là an toàn này. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2017, cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm 37 người chết và 18 người bị thương. Tai nạn xảy ra chủ yếu tại các điểm giao cắt giữa đường sắt và đường ngang dân sinh, trong đó có một số vụ tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người và tài sản.

  1. Thiệt hại do thiên tai 

Trong 3 tháng đầu năm 2017, triều cường, lốc xoáy và mưa đá làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư tại một số địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 6 người bị thương; 2,9 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 3,2 nghìn ha lúa, 845 ha hoa màu, 260 ha cây công nghiệp, 360 ha cây lâm nghiệp, cây ăn quả và 326 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 3 tháng đầu năm ước tính hơn 57 tỷ đồng.

  1. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong quý I/2017 đã phát hiện 4.022 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 3.427 vụ với tổng số tiền phạt gần 40 tỷ đồng.

Trong quý I năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.293 vụ cháy, nổ, làm 33 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 684 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 37,7%, số người chết gấp 2,5 lần, số người bị thương giảm 13,8% và thiệt hại ước tính tăng 34,2%./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

[1] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%.

[2] Mức tăng quý I của ngành công nghiệp một số năm: Năm 2011: 9,16%; năm 2012: 7,86%; năm 2013: 4,43%; năm 2014: 4,17%; năm 2015: 9,27%; năm 2016: 6,92%.

[3] Quý I: năm 2012 tăng 5,9%; năm 2013 tăng 5%; năm 2014 tăng 5,3%; năm 2015 tăng 9,3% và năm 2016 tăng 7,4%.

[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[5] Chủ yếu do các nhà mạng thực hiện thu hồi sim rác theo qui định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

[6] Bao gồm: Phú Thọ, Bình Định, Hải Phòng, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Ninh Bình, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Thơ, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh.

[7] Mặc dù trong tháng Ba có hai đợt điều chỉnh giảm giá xăng vào thời điểm 06/3/2017 và thời điểm 21/3/2017.

[8] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[9] Lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm những người không làm việc trong khu vực hộ nông nghiệp và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) lao động gia đình không được hưởng công hưởng lương; (ii) người chủ hoặc xã viên hợp tác xã của cơ sở chưa có đăng ký kinh doanh và (iii) người làm công ăn lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc.

[10]Chỉ còn tỉnh Ninh Thuận chưa được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.

[11]Theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT ngày 22/3/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về Điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.