1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2016 ước tính tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,72%, đóng góp 2,33 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực dịch vụ tăng 6,13%, đóng góp 2,48 điểm phần trăm; riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,23%, làm giảm 0,16 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung.
Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn, bán lẻ tăng 7,52%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,99%; vận tải, kho bãi tăng 5,56%; thông tin và truyền thông tăng 8,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,75%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,43%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 6,2%, trong đó ngành khai khoáng giảm 1,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,9%; ngành xây dựng quý I tăng 9,94%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do ngành nông nghiệp (chiếm trên 70% giá trị tăng thêm khu vực I) giảm 2,69%. Nguyên nhân do sản lượng lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và sản lượng cây trồng vụ đông ở miền Bắc sụt giảm . Giá trị tăng thêm của ngành lâm nghiệp tăng 6,24%; ngành thủy sản tăng 2,12%.
Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,44%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,24%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,71%). Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2015 là: 12,35%; 34,90%; 42,14% (thuế là 10,61%).
Xét về góc độ sử dụng GDP quý I/2016, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,87% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp 5,39 điểm phần trăm; tích lũy tài sản tăng 8,3%, đóng góp 1,56 điểm phần trăm; chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 1,49 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm nay theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 178,8 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 137 nghìn tỷ đồng, giảm 2,5%; lâm nghiệp đạt 6,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3%; thủy sản đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%.

a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3021,6 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc gieo cấy được 1100,3 nghìn ha, bằng 99%; các địa phương phía Nam gieo cấy được 1921,3 nghìn ha, bằng 98,8% (Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1553,8 nghìn ha, bằng 99,5%).
Đến giữa tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch hơn 1,1 triệu ha lúa đông xuân sớm, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1079 nghìn ha, chiếm 69,5% diện tích xuống giống và tăng 27,2%. Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 67,2 tạ/ha, giảm 5,6% (khoảng 4 tạ/ha) so với vụ đông xuân trước; sản lượng toàn vùng ước tính đạt 10,4 triệu tấn, giảm 700 nghìn tấn.
Tình trạng xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn cùng kỳ năm trước với độ mặn trên các sông chính tăng cao, thấm sâu vào nội đồng 40-60 km. Đến thời điểm hiện nay, toàn bộ các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã bị xâm nhập mặn, trong đó 8 tỉnh đã công bố tình trạng thiên tai do hạn hán và xâm nhập mặn . Một số địa phương có diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại nặng: Kiên Giang 56,5 nghìn ha (mất trắng 35,3 nghìn ha); Cà Mau 48,6 nghìn ha; Trà Vinh 21,6 nghìn ha (mất trắng 5 nghìn ha); Bến Tre gần 20 nghìn ha (mất trắng 14,7 nghìn ha); Long An 8,6 nghìn ha (mất trắng 1,1 nghìn ha).
Đàn trâu cả nước đến tháng Ba ước tính giảm 2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng khoảng 1%, trong đó đàn bò sữa tăng 8%; đàn lợn tăng 2,3%; đàn gia cầm tăng 2%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm giảm 0,4%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 2%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 3,9%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,6%.

b. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 3 tháng đầu năm ước tính đạt 12,5 nghìn ha, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 1613 nghìn m3, tăng 7%; sản lượng củi khai thác đạt 7,7 triệu ste, tăng 1,3%.
Tính đến trung tuần tháng Ba, diện tích rừng bị thiệt hại trên cả nước là 823,1 ha, gấp 5,1 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 726 ha, gấp 9,8 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 97,1 ha, tăng 13,6%.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1271,7 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 934,2 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 124,5 nghìn tấn, xấp xỉ cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 549,6 nghìn tấn, tăng 1,9% (cá đạt 388,3 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 91,9 nghìn tấn, giảm 1%).
Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 722,1 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 545,9 nghìn tấn, tăng 3,8%; tôm đạt 32,6 nghìn tấn, tăng 2,8%.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2016 ước tính tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2015 , trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 7,9%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 13,1%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,4%; ngành khai khoáng giảm 1,2%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 2 tháng đầu năm nay tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2015. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/3/2016 tăng 8,7% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân hai tháng đầu năm là 78,2%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2016 tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8%.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong quý I năm nay, cả nước có 23767 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 186 nghìn tỷ đồng, tăng 24,8% về số doanh nghiệp và tăng 67,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015 ; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 34,5%. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 322,2 nghìn người, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2015.
Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong quý I/2016 là 9376 doanh nghiệp, tăng 84,1% so với cùng kỳ năm 2015 . Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong quý I là 2919 doanh nghiệp, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tới 93%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong quý I là 20044 doanh nghiệp, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước.

b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2016 cho thấy: Có 29,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay khả quan hơn quý trước; 27,1% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 43,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 53,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,2% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.
Về khối lượng sản xuất, có 31,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I năm nay tăng so với quý trước; 29,5% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 39,1% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Về xu hướng quý II so với quý I, có 54,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 10,6% số doanh nghiệp dự báo giảm và 35,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định.
Về đơn đặt hàng, có 29,0% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý I năm nay cao hơn quý trước; 27,1% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 43,9% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý II so với quý I tiếp tục khả quan với 50,5% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 11,3% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 38,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý I năm nay so với quý trước, có 23,2% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 24,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 52,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 38,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 12,6% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,8% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.
Về chi phí sản xuất, có 23,6% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý I năm nay tăng so với quý trước; 10,8% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 65,6% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý II/2016, có 18,5% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý I; 11,5% cho rằng chi phí giảm và 70% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.
Về giá bán sản phẩm quý I năm nay so với quý trước, có 14,6% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 12,3% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 73,1% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý II so với quý I, có 16,7% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,2% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,1% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.
Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 18,5% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý I năm nay tăng so với quý trước; 31,1% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 50,4% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 14,9% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 30,8% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 54,3% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.
Về tồn kho nguyên vật liệu quý I/2016 so với quý trước, có 17% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,7% số doanh nghiệp cho là giảm và 54,3% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý II so với quý I, có 14,9% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,4% dự báo lượng tồn kho giảm và 56,7% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên, vật liệu.
Về sử dụng lao động quý I năm nay so với quý trước, có 14,3% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 16,2% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 69,5% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Dự kiến quý II so với quý I, có 21,2% số doanh nghiệp dự báo quy mô lao động tăng; 8,2% số doanh nghiệp dự báo giảm và 70,6% số doanh nghiệp ổn định quy mô lao động.

5. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2016 ước tính đạt 859,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,9%, thấp hơn mức tăng 9,2% của cùng kỳ năm 2015.
Vận tải hành khách quý I/2016 ước tính đạt 884,5 triệu lượt khách, tăng 8,1% và 42,2 tỷ lượt khách.km, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2015. Vận tải hàng hóa quý I ước tính đạt 303,5 triệu tấn, tăng 7% và 59,9 tỷ tấn.km, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.
Khách quốc tế đến nước ta 3 tháng đầu năm ước tính đạt 2459,2 nghìn lượt người, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 1986,6 nghìn lượt người, tăng 16,8%; đến bằng đường bộ đạt 435,6 nghìn lượt người, tăng 50,5%; đến bằng đường biển đạt 37 nghìn lượt người, giảm 40,1%.

6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 21/3/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,08% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 2,09%). Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,26% (cùng kỳ năm trước tăng 0,94%); tăng trưởng tín dụng đạt 1,54% (cùng kỳ năm trước tăng 1,25%).
Đến thời điểm hiện nay, số doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường là 61 doanh nghiệp, trong đó lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ 29 doanh nghiệp và 1 chi nhánh nước ngoài; lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ có 17 doanh nghiệp; lĩnh vực môi giới bảo hiểm có 12 doanh nghiệp. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính quý I/2016 tăng 20% so với cùng kỳ năm 2015.

7. Xây dựng, đầu tư

a. Xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng quý I năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt 201,5 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 16,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,4%; khu vực ngoài Nhà nước 171,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 85,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 13,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,5%.
Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 164 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2015, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 13,9 nghìn tỷ đồng, tăng 11%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 139,3 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, giảm 6%.

b. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm nay theo giá hiện hành ước tính đạt 273,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 96,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,4% tổng vốn và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 100,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,7% và tăng 11,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 76,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,9% và tăng 13,5%.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2016 thu hút 473 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2740,4 triệu USD, tăng 77,2% về số dự án và tăng 125,2% về số vốn so với cùng kỳ năm 2015. Đồng thời có 203 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp bổ sung vốn với 1285,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 4026,3 triệu USD, tăng 119,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I/2016 ước tính đạt 3,5 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2015.

8. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính đạt 182,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18% dự toán năm, trong đó thu nội địa 152,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19,4%; thu từ dầu thô 7,2 nghìn tỷ đồng, bằng 13,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, bằng 13,2%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính đạt 227,7 nghìn tỷ đồng , bằng 17,9% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển trên 40,1 nghìn tỷ đồng, bằng 15,7% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 40 nghìn tỷ đồng, bằng 15,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 155,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9%; chi trả nợ và viện trợ 31,9 nghìn tỷ đồng, bằng 20,6%.

9. Xuất, nhập khẩu

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I năm nay ước tính đạt 37,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,8 tỷ USD, tăng 0,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 27,1 tỷ USD, tăng 5,8%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I đạt 39,8 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2015.
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu quý I ước tính đạt 37,1 tỷ USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,9 tỷ USD, giảm 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22,2 tỷ USD, giảm 5,7%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I năm nay đạt 40,7 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2015. Tính chung quý I/2016 xuất siêu 776 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,05 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,83 tỷ USD.

b. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Xuất khẩu dịch vụ quý I năm nay ước tính đạt 2,92 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 69,2% tổng kim ngạch và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2015. Nhập khẩu dịch vụ quý I ước tính đạt 3,73 tỷ USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 54% kim ngạch và giảm 0,7%. Nhập siêu dịch vụ quý I/2016 là 810 triệu USD.

10. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2016 tăng 0,57% so với tháng trước, tăng 0,99% so với tháng 12/2015 và tăng 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 1,25% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.
Lạm phát cơ bản tháng 3/2016 giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 3 tháng đầu năm 2016 tăng 1,76% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.
Chỉ số giá vàng tháng 3/2016 tăng 4,87% so với tháng trước; tăng 7,79% so với tháng 12/2015; tăng 0,83% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2016 giảm 0,38% so với tháng trước; giảm 0,84% so với tháng 12/2015; tăng 4,26% so với cùng kỳ năm 2015.

b) Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá xuất nhập khẩu

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2016 giảm 1,80% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp giảm 1,01%; chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất giảm 3,38%; chỉ số giá cước vận tải kho bãi giảm 1,75%; chỉ số giá dịch vụ tăng 1,84%.
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I/2016 giảm 4,80% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I/2016 giảm 8,85% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa quý I năm nay tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2015.

11. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/4/2016 ước tính là 54,4 triệu người, tăng 761,8 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2015. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên ước tính 47,8 triệu người, tăng 128,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2015.
Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,3 triệu người, bao gồm 22,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 42,3% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,0 triệu người, chiếm 24,4%; khu vực dịch vụ 17,8 triệu người, chiếm 33,3%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2016 ước tính là 2,23%, trong đó khu vực thành thị là 2,96%; khu vực nông thôn là 1,87%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 – 24 tuổi) quý I ước tính là 6,47%, trong đó khu vực thành thị là 9,51%; khu vực nông thôn là 5,35%. Tỷ lệ thất nghiệp của người từ 25 tuổi trở lên quý I là 1,27%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 1,77%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,77%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,25%.

12. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong 3 tháng đầu năm, cả nước có 90,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 365,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 9,4%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và khoảng 600 triệu đồng.
Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm 2016 là 4104 tỷ đồng, bao gồm: 2918 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 919 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 267 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác.

13. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 5,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 24,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (06 trường hợp tử vong); 46 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 59 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 10 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/3/2016 là 227,3 nghìn người, trong đó 84,7 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 86,7 nghìn người.
Tính từ 17/12/2015 đến 17/3/2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 17 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 1011 người bị ngộ độc, trong đó 02 trường hợp tử vong.

14. Tai nạn giao thông

Tính chung 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4985 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2523 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2462 vụ va chạm giao thông, làm 2193 người chết; 1635 người bị thương và 2887 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 3 tháng giảm 14,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 6%; số vụ va chạm giao thông giảm 22,3%); số người chết giảm 6,5%; số người bị thương giảm 0,7% và số người bị thương nhẹ giảm 24,9%. Bình quân 01 ngày trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông, gồm 28 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 27 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết, 18 người bị thương và 32 người bị thương nhẹ.

15. Thiệt hại do thiên tai

Trong 3 tháng đầu năm 2016, rét đậm, rét hại kéo dài cùng với lốc xoáy, triều cường và cháy rừng làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 13,5 nghìn ha lúa; 7,3 nghìn ha hoa màu và 1,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 16,5 nghìn con gia súc; 7,5 nghìn gia cầm và hơn 720 tấn thủy sản các loại bị chết.
Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo sơ bộ, hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của 426 nghìn hộ gia đình, làm 172,6 nghìn ha lúa, 8 nghìn ha hoa màu; 41,5 nghìn ha cây ăn quả và 3,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng.

16. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện 3504 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 1286 vụ với tổng số tiền phạt gần 350 tỷ đồng.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 939 vụ cháy, nổ làm 13 người chết và 80 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 510 tỷ đồng./.