1. Sản xuất nông nghiệp.
Tính đến 15/11 cả nước đã thu hoạch được 1401,1 nghìn ha lúa mùa, bằng 94,6% cùng kỳ năm trước. Riêng các địa phương phía Bắc thu hoạch 1120,9 nghìn ha, chiếm 88% diện tích gieo cấy và bằng 92,9% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Hồng 477,3 nghìn ha, chiếm trên 90% và bằng 94,6%. Vùng Bắc Trung Bộ đã cơ bản thu hoạch xong với năng suất sơ bộ đạt 31,1 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha so với vụ mùa 2000 (Thanh Hoá 38,5 tạ/ha; Nghệ An 30 tạ/ha). Các địa phương phía Nam cũng đã thu hoạch được 280,2 nghìn ha lúa mùa sớm, chiếm trên 32% diện tích gieo cấy và bằng 102,2% cùng kỳ năm trước.
Cùng với việc thu hoạch lúa mùa sớm, các địa phương phía Nam còn tranh thủ gieo cấy lúa đông xuân. Tuy nhiên, do lũ rút chậm nên đã ảnh hưởng đến tiến độ, đến trung tuần tháng 11 mới gieo cấy được 268,1 nghìn ha, chỉ bằng 83,7% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long 265,4 nghìn ha, bằng 85,3%.
Các địa phương phía Bắc cũng đang đẩy mạnh việc chăm sóc và gieo trồng các cây lương thực và cây màu vụ đông. Cũng đến thời điểm trên, ngô đông đã gieo trồng được 126,9 nghìn ha, bằng 105,5% cùng kỳ năm trước; khoai lang 106,9 nghìn ha, bằng 87,1%; đậu tương đạt 29,1 nghìn ha, bằng 123,8%; rau đậu 96 nghìn ha, bằng 95%.
2. Sản xuất công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp tháng 11 tăng 13,8% so với tháng 11/2000 và 11 tháng tăng 14,3% so với 11 tháng năm 2000, trong đó hai chỉ tiêu tương ứng của doanh nghiệp Nhà nước là tăng 14,6% và tăng 12,7%; ngoài quốc doanh tăng 21,5% và tăng 19,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,3% và tăng 12,6%. Sở dĩ tốc độ tăng sản xuất công nghiệp tháng 11 thấp hơn tốc độ tăng của các tháng trước là do: (1) Khai thác dầu thô tháng này giảm 6,7%, do chủ động giảm mức khai thác; (2) Một số mặt hàng tiêu dùng trong nước có tỷ trọng lớn như: Rượu bia, thuốc lá, xe máy… nhu cầu không tăng hoặc bão hoà nên sản xuất đang có xu hướng giảm (Bia chỉ tăng 1,5%; thuốc lá giảm 0,2%; xe máy giảm 16,8%; bột ngọt giảm 7%…). Ngành da giày, may mặc vẵn gặp khó khăn về thị trường gia công xuất khẩu nên những mặt hàng chính giảm từ 0,9% – 1,5%.
Tuy nhiên, vẫn có một số ngành sản xuất tăng cao như: Sản xuất đường tháng 11 tăng 72,5% (tăng gần 45 ngàn tấn); sản xuất vải và chế biến thuỷ sản có dấu hiệu tăng cao trở lại (Thuỷ sản chế biến tăng 39,6%; vải lụa tăng 17,2%); chế tạo máy công cụ, sản xuất động cơ, lắp ráp ôtô, ti vi, sản xuất điện đều có nhịp độ tăng cao hơn các tháng trước (Máy công cụ tăng 225%; động cơ diezen tăng 108,6%; động cơ điện tăng 20,7%; máy biến thế tăng 59,3%; tivi tăng 33,9%, ôtô tăng 57,1%; điện phát ra tăng 20,1%). Nhờ một số ngành sản phẩm sản xuất tăng cao đã bù đắp cho một số ngành giảm nhiều nên sản xuất công nghiệp tháng 11 và 11 tháng nhìn chung vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá.
3. Đầu tư và xây dựng.
Ước tính thực hiện vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước tập trung 11 tháng năm 2001 đạt gần 22,5 nghìn tỷ đồng, tăng 40,5 % so với cùng kỳ năm trước và bằng 93,6% kế hoạch năm, trong đó trung ương 15,1 nghìn tỷ đồng, bằng 98,4%; địa phương 7,4 nghìn tỷ đồng, bằng 85,1%.
Trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20 tháng 11 năm 2001 đã cấp giấy phép cho 411 dự án với tổng số vốn đăng ký 2073,8 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 32,1% về số dự án và tăng 61,5% về số vốn đăng ký. Các dự án được cấp giấy phép trong 11 tháng vừa qua tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 324 dự án và 1711,6 triệu USD, chiếm gần 78,8% về số dự án và 82,5% về số vốn đăng ký; tiếp đến là ngành giao thông vận tải, bưu điện có 3 dự án với vốn đăng ký 230,9 triệu USD và chiếm 11,6%.
Nếu phân theo đối tác đầu tư thì Hà Lan tuy chỉ có 4 dự án nhưng có vốn đăng ký lớn nhất với 573,9 triệu USD, chiếm 27,7% tổng số. Sau đó là Pháp 10 dự án với vốn đăng ký 407,1 triệu USD; Singapore 16 dự án với 265,2 triệu USD; Đài Loan 115 dự án với 184,7 triệu USD; Nhật Bản 32 dự án với 156,2 triệu USD; Mỹ 22 dự án với 82,2 triệu USD…
4. Vận tải và bưu chính, viễn thông.
Vận chuyển hành khách 11 tháng ước tính đạt 774 triệu lượt hành khách và 26,2 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5% về khối lượng vận chuyển và tăng 6% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 134,4 triệu tấn và trên 40,6 tỷ tấn.km, tăng 7% về tấn và 9,7% về tấn.km.
Hoạt động vận tải nhìn chung đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đi lại của nhân dân, nhưng đáng lo ngại vẫn là tình trạng tai nạn giao thông tiếp tục gây thiệt hại lớn về người cũng như về tài sản của Nhà nước và của nhân dân. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia thì từ đầu năm đến hết tháng 10, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 21812 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8643 người và làm bị thương 24282 người. Trong số vụ tai nạn nêu trên thì 97,6% là tai nạn trên đường bộ.
5. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 11 tháng ước tính đạt 215 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 38 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1%; kinh tế cá thể 142 nghìn tỷ đồng, tăng 7,9%; kinh tế tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 35 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5%.
Khách quốc tế đến nước ta trong 11 tháng đạt trên 2,1 triệu lượt người, tăng 9,2% so với 11 tháng năm 2000, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1216 nghìn lượt người, chiếm 56,9% tổng số lượt khách; đi công việc 399 nghìn lượt người, chiếm 18,7%; thăm thân nhân 437 nghìn lượt người, chiếm 20,4% và mục đích khác 87 nghìn lượt người, chiếm 4%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2001 tăng 0,2% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,8%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,4%; phương tiện đi lại, bưu điện giảm 2,4%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,1%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại bằng hoặc tăng 0,1-0,3%. Tính chung 11 tháng, chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,2%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm giảm 0,2% (Lương thực tăng 0,1%; thực phẩm giảm 0,3%); dược phẩm y tế giảm 0,4%; phương tiện đi lại, bưu điện giảm 4,4%; nhóm đồ uống, thuốc lá và đồ dùng, dịch vụ khác tăng 1,2%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,7%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,8%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,9%; giáo dục tăng 3,4. Chỉ số giá vàng tháng 11/2001 giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 4,6% so với tháng 12/2000; hai chỉ tiêu so sánh tương ứng của đô la Mỹ là tăng 0,2% và tăng 3,5%.
Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm nay ước tính đạt 13820 triệu USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 7574 triệu USD, tăng 9,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 6246 triệu USD, bằng mức cùng kỳ năm 2000. Giá cả trên thị trường thế giới của nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta từ đầu năm đã ở mức thấp, cộng với sự suy giảm của một số nền kinh tế lớn và sự kiện 11/9 ở Mỹ đã tác động lớn đến kết quả xuất khẩu 11 tháng vừa qua, nhất là những tháng gần đây. Trong số 15 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thì 9 mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm so với 11 tháng năm 2000, trong đó: Hàng điện tử, máy tính và linh kiện giảm 23,2%; cà phê giảm 21,3%; hạt tiêu giảm 38,6%; hạt điều giảm 15,2%; dầu thô giảm 8,3%; gạo giảm 8,9%.
Kim ngạch nhập khẩu 11 tháng đạt 14527 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 10164 triệu USD, giảm 3,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4363 triệu USD, tăng 22,7%. Các mặt hàng nhập khẩu tăng so với 11 tháng năm 2000 là: Sắt thép tăng 31,7% về lượng và tăng 15,2% về giá trị; bông tăng 40,7% và tăng 35,6%; sợi dệt tăng 17,1% và tăng 6,1%; ô tô tăng 90,9% và tăng 94,1%. Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu của một số mặt hàng trong 11 tháng năm nay thấp hơn nhiều so với 11 tháng năm 2000 như: Điện tử, máy tính và linh kiện chỉ bằng 77,8%; phân bón bằng 70,2% và vải bằng 88,6%. Nhập siêu 11 tháng 707 triệu USD, bằng 5,1% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2590 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1883 triệu USD.
6. Một số tình hình xã hội
a. Thiếu đói giáp hạt
Theo báo cáo của 33 tỉnh, thành phố, đến ngày 20 tháng 11 năm 2001, cả nước có 100,4 nghìn hộ với 503,4 nghìn nhân khẩu trong diện thiếu đói giáp hạt, chiếm 0,88% tổng số hộ và 0,95% tổng số nhân khẩu nông nghiệp. Nếu so với thời điểm 31/10 thì giảm 6,4% về số hộ và giảm 6,7% về số nhân khẩu. Hai tỉnh có số hộ và số nhân khẩu trong diện thiếu đói giáp hạt cao là: Đắk Lắk 31,8 nghìn hộ với 155,7 nghìn nhân khẩu; Nghệ An 28,2 nghìn hộ với 140,2 nghìn nhân khẩu. Để giúp đỡ các gia đình trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, chỉ riêng 20 ngày đầu tháng 11 các địa phương đã trợ giúp 4151 tấn lương thực và 695 triệu đồng. Nếu tính chung từ đầu năm đến 20/11 thì các gia đình thiếu đói đã được trợ giúp 9946 tấn lương thực và 20,1 tỷ đồng.
b. Lao động và việc làm
Theo kết quả của cuộc điều tra lao động, việc làm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê tiến hành, tại thời điểm 1 tháng 7 năm 2001 cả nước có 39,5 triệu người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên, trong đó lao động nữ chiếm 49,4% và nam chiếm 50,6%; lao động khu vực thành thị chiếm 23,23% và nông thôn chiếm 76,67%. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 6,28%, giảm 0,14% so với cùng kỳ năm 2000. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn 74,26%, tương đương mức 74,2% của năm trước.
c. Thiệt hại thiên tai
Cơn bão số 8 đổ bộ vào miền Trung gây thiệt hại lớn đến 11 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Theo báo cáo của các địa phương bão đi qua, có 29 người chết, 147 người bị thương, 3956 ngôi nhà bị đổ, 1474 phòng học bị sập và hư hại, 13 nghìn ha lúa, 29 nghìn ha hoa màu và cây ăn quả bị thiệt hại. Tổng trị giá thiệt hại ước tính 665 tỷ đồng.
Lũ lớn và kéo dài ở đồng bằng sông Cửu Long cũng gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản, nhất là số trẻ em bị chết đuối. Mặc dù mùa lũ năm nay hầu hết các địa phương trong vùng đã tổ chức các điểm trong giữ trẻ nhưng tính đến 16/11/2001 vẫn có 292 trẻ bị chết đuối, tuy thấp hơn mùa lũ năm 2000 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với các mùa lũ của những năm trước.
d. Y tế
Trong tháng, ngành Y tế đã tích cực triển khai nhiều hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhất là nhân dân vùng bão lũ Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long nên dịch bệnh tuy vẫn xảy ra nhưng chỉ ở diện hẹp và với mức độ thấp. Dịch tả và dịch hạch không phát sinh, chỉ có 1075 lượt người mắc bệnh thương hàn; 8632 lượt người sốt rét và 2880 lượt người sốt xuất huyết. Riêng nhiễm HIV/AIDS vẫn có xu hướng gia tăng. Từ 15/10 đến 19/11 đã phát hiện thêm 1025 trường hợp nhiễm HIV; 171 bệnh nhân AIDS và 84 người chết do AIDS. Như vậy, đến ngày 19/11/2001 cả nước đã phát hiện được 41842 người nhiễm HIV, trong đó 6288 bệnh nhân AIDS (Trong số này đã có 3446 người bị chết).

TỔNG CỤC THỐNG KÊ