Nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2002 đã được Quốc hội khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 10 với những chỉ tiêu chủ yếu sau:
1. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7-7,3%;
2. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,2%;
3. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14%;
4. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 6,8-7%;
5. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 10-13%;
6. Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 17%;
7. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 3-4%;
8. Tạo việc làm mới cho 1,4 triệu lao động;
9. Đào tạo nghề cho 1 triệu người;
10. Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 14-15%(*);
11. Giảm tỷ lệ sinh 0,04%.
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên, trong những tháng vừa qua, các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể và đồng bộ. Nhờ vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng tình hình kinh tế-xã hội quý I/2002 vẫn diễn biến theo chiều hướng tích cực, thể hiện ở các số liệu thống kê dưới đây.

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước quý I/2002 tăng 6,6% so với quý I/2001, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,3%; khu vực dịch vụ tăng 5,8%. Nếu đối chiếu với tốc độ tăng 7,1% của quý I năm 2001 thì tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I năm nay thấp hơn, chủ yếu do ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt giảm. Nhưng nếu so với tốc độ tăng 5,6% của quý I/2000 và tăng 6,3% của quý IV năm 2001 thì tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước của quý này vẫn cao hơn.

Do kinh tế tiếp tục tăng trưởng, nguồn thu được duy trì nên tổng thu ngân sách Nhà nước quý I/2002 ước tính đạt 25% dự toán cả năm và tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Đây là năm thứ hai, tiếp theo năm 2001 thu ngân sách quý I đạt 1/4 dự toán cả năm (Quý I/1998 đạt 19,6%; quý I/1999 đạt 20,1%; quý I/2000 đạt 22%; quý I/2001 đạt 25,9%). Đáng chú ý là hầu hết các khoản thu chủ yếu của ngân sách đều đều đạt tương đối cao: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 23,7% dự toán cả năm và tăng 10,5% so với quý I/2001; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 25,1% và tăng 8,6%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 26,1% và tăng 22,1%. Riêng thu từ dầu thô tuy đạt 26,1% dự toán cả năm, nhưng chỉ bằng 74,1% cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá bán dầu thô giảm từ 194 USD/tấn của quý I/2001 giảm xuống chỉ còn 142 USD/tấn trong quý I/2002.
Tổng chi ngân sách Nhà nước quý I năm nay ước tính đạt 21,1% dự toán cả năm và tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt 21% và tăng 12,6%; chi thường xuyên đạt 24,4% và tăng 4,3%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm và đều tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 24,4% dự toán cả năm và tăng 4,6% so với quý I/2001; chi cho y tế đạt 24,1% và tăng 5,5%; chi cho văn hoá thông tin đạt 24,8% và tăng 2,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 24,6% và tăng 6,2%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 24,8% và tăng 4,5%. Bội chi ngân sách quý I/2002 ước tính bằng 6,8% tổng số chi trong quý và chỉ bằng 7,1% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó 56% được bù đắp bằng vay trong nước và 44% còn lại bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.
Trong ba tháng đầu năm, giá cả không có biến động bất thường. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng 1,1%; tháng 2 tăng 2,2% và tháng 3 giảm 0,8%. Tính chung 3 tháng giá tiêu dùng tăng 2,5%, trong đó lương thực tăng 5,6%; thực phẩm tăng 5,1%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng giảm trên dưới 1%. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2002 đã tăng 3,4%, trong đó lương thực tăng 13,4%; thực phẩm tăng 5,7%. Giá lương thực, thực phẩm tăng đang khuyến khích nông dân mở rộng sản xuất, tăng cường đầu tư thâm canh nâng cao số lượng và chất lượng nông sản hàng hoá.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp quý I là gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch các loại cây vụ đông. Tính đến 15/3/2002 cả nước đã gieo cấy được 2960,4 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1120,3 nghìn ha, bằng 99,2%; các địa phương phía Nam 1840,1 nghìn ha, bằng 98,6%. Diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm nay giảm trước hết là do nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục chuyển một phần diện tích lúa năng suất thấp sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long vụ này ước tính chỉ đạt 1511,8 nghìn ha, giảm 25,7 nghìn ha so vụ đông xuân 2001 (Long An giảm 17 nghìn ha; An Giang giảm 2,9 nghìn ha; Tiền Giang giảm 3,7 nghìn ha; Vĩnh Long giảm 1,4 nghìn ha). Mặt khác, một số địa phương thuộc Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ bị hạn, thiếu nước nên cũng phải giảm diện tích gieo cấy lúa đông xuân (Đồng Nai giảm 1000 ha; Bình Thuận giảm 2505 ha).
Đến nay các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 714,6 nghìn ha lúa đông xuân sớm, chiếm 38,8% diện tích xuống giống và bằng 92,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 688,5 nghìn ha, chiếm 45,5% và bằng 94,3% (Kiên Giang 117 nghìn ha; Trà Vinh 33,5 nghìn ha; Cần Thơ 54 nghìn ha; Tiền Giang 20 nghìn ha; Đồng Tháp 19,4 nghìn ha). Trên diện tích đã thu hoạch năng suất tương đối khá (Bến Tre 46,5 tạ/ha; Đồng Tháp 60 tạ/ha; Cần Thơ 58,5 tạ/ha). Tuy nhiên, một số diện tích chưa thu hoạch đang bị hạn: Đồng bằng sông Cửu Long 40 nghìn ha; Đông Nam Bộ 30 nghìn ha; Tây Nguyên 5 nghìn ha. Hạn hán có thể sẽ làm Cà Mau mất trắng 1667 ha; Kiên Giang mất 1689 ha; Lâm Đồng mất 925 ha và Bình Thuận mất 600 ha. Mặc dù vậy, vụ đông xuân này của đồng bằng sông Cửu Long vẫn là vụ cho năng suất và sản lượng cao. Sơ bộ ước tính, năng suất bình quân toàn vùng có thể đạt 54 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha so với vụ đông xuân trước và sản lượng đạt trên dưới 8 triệu tấn, tăng 40 vạn tấn.
Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương còn đẩy mạnh gieo trồng ngô, cây chất bột có củ, cây công nghiệp và rau đậu. Đến 15/3/2002 cả nước đã gieo trồng được 261,4 nghìn ha ngô, bằng 103,2% cùng kỳ năm trước; 160,2 nghìn ha khoai lang, bằng 90,6%; 70 nghìn ha sắn, bằng 98%; 152 nghìn ha lạc, bằng 101,9%; 47,8 nghìn ha đậu tương, bằng 129,2%; 19,4 nghìn ha thuốc lá, bằng 104,3%; 39,2 nghìn ha mía, bằng 160%; 275,3 nghìn ha rau đậu, bằng 114,2%. Ngoài ra, các địa phương phía Nam còn gieo cấy được 118,5 nghìn ha lúa hè thu sớm, bằng 90% cùng kỳ năm trước.
Sản xuất lâm nghiệp tập trung vào các hoạt động chính như: Trồng, khoanh nuôi và chăm sóc rừng; trồng cây phân tán; khai thác gỗ và các loại lâm sản khác phục vụ tiêu dùng trong nước và chế biến xuất khẩu. Một số tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn đã đẩy mạnh tiến độ trồng rừng tập trung nên diện tích trồng trong quý I/2002 đã tăng hơn cùng kỳ năm trước: Tuyên Quang tăng 5,4%; Thanh Hoá tăng 26%; Thừa Thiên Huế tăng gấp 2,1 lần…Tuy nhiên, tổng hợp chung cả nước thì diện tích trồng rừng tập trung trong quý I năm nay mới đạt 60 nghìn ha, chỉ bằng 96,7% cùng kỳ năm trước. Trồng cây phân tán đạt kết quả khá, nhất là ở các tỉnh Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế. Ước tính quý I/2002 cả nước trồng được 121 triệu cây phân tán, tăng 2% so quý I/2001. Khai thác gỗ ước tính đạt trên 618,2 nghìn m3, tăng 0,5%.
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tiếp tục phát triển. Ước tính quý I/2002 sản lượng thuỷ sản đạt 642,3 nghìn tấn, tăng 2,9% so với quý I/2001, trong đó nuôi trồng đạt 183,5 nghìn tấn, tăng 5,4%; khai thác 458,8 nghìn tấn, tăng 2%.
Tính chung, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I/2002 theo giá so sánh 1994 tăng 2,6% so với quý I/2001, trong đó nông nghiệp tăng 2%; lâm nghiệp tăng 1,3% và thuỷ sản tăng 5,5%.
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I/2002 ước tính tăng 13,8% so với quý I/2001, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,3% (Trung ương quản lý tăng 11,5%; địa phương quản lý tăng 10,8%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 21,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12%. Hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp lớn quý này đã đạt tốc độ tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước: Hà Nội tăng 25,5%, Hải Phòng tăng 18%; Hà Tây tăng 26,2%; Hải Dương tăng 28,2%; Quảng Ninh tăng 24%; Đà Nẵng tăng 14,8%; Khánh Hoà tăng 27,8%; Đồng Nai tăng 17,7%; Bình Dương tăng 32,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,8%; Cần Thơ tăng 11,5%… Tuy nhiên, vẫn có một số địa phương đạt tốc độ tăng không cao, thậm chí còn giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: Phú Thọ chỉ tăng 5,9%; Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 1,3%…
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua tăng trưởng cao và ổn định nên đã kích cầu xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng gồm: Xi măng, gạch các loại, đá xây dựng, cấu kiện kim loại, kính xây dựng phát triển mạnh. Ngành đóng tàu cũng đang có chiều hướng phát triển khả quan, các trung tâm đóng tàu lớn của nước ta như: Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ đang được Nhà nước đầu tư vốn, khuyến khích và hỗ trợ sản xuất nên từng bước đã chiếm lại được thị trường trong nước và bước đầu có sản phẩm xuất khẩu. Số lượng đơn đặt hàng đóng mới và sửa chữa tàu tải trọng lớn từ các khách hàng trong và ngoài nước đang tăng lên.
Qúy I năm nay, khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 21,2%, là tốc độ tăng cao nhất trong tất các khu vực và cao nhất trong các quý I những năm gần đây do phần lớn các doanh nghiệp của khu vực này là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển năng động, lại được Luật doanh nghiệp và các chính sách khác của Nhà nước khuyến khích phát triển. Sau khi Luật doanh nghiệp ra đời, cộng với thủ tục cấp phép thành lập doanh nghiệp được cải tiến theo hướng ngày càng đơn giản, nhanh chóng đã góp phần làm cho mỗi năm tăng thêm hàng nghìn doanh nghiệp. Khu vực công nghiệp cá thể cũng đang có chiều hướng phát triển mạnh ở nhiều địa phương với các làng nghề truyền thống như: Dệt, may, đúc, sản xuất đồ gỗ, gốm, sứ, hàng thủ công mỹ nghệ…
Tuy nhiên, phần lớn những ngành góp phần làm tăng nhanh giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp đều thuộc lĩnh vực gia công lắp ráp với đặc điểm là giá trị toàn bộ sản phẩm thì lớn nhưng giá trị tăng thêm lại rất nhỏ, đặc biệt là các ngành lắp ráp ô tô, xe máy, tivi, tủ lạnh, cấu kiện thép, cán thép… Trong khi đó, một số ngành công nghiệp chế biến từ nguyên liệu ban đầu sẵn có ở trong nước như đường, bột ngọt, thuốc lá, giấy, phân bón… lại đang có xu hướng tăng chậm lại. Vì thế mặc dầu giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng cao, nhưng giá trị tăng thêm tăng không tương ứng do chi phí trung gian tăng nhanh.
Nhìn chung sản xuất công nghiệp vẫn đạt được nhip độ tăng khá, nhưng đã xuất hiện dấu hiệu tăng chậm do một số sản phẩm có tỷ trọng giá trị sản xuất tương đối lớn không còn giữ được nhịp độ tăng cao như trước đây: (1). Dầu thô khai thác liên tục giảm, từ mức phổ biến đạt 1,5 triệu tấn/tháng đến nay bình quân chỉ đạt trên 1,3 triệu tấn/tháng. (2). Một số mặt hàng thực phẩm chế biến quan trọng như thủy sản chế biến, sữa bột, đồ hộp… tăng chậm hoặc giảm do thiếu thị trường xuất khẩu; một số sản phẩm khác như sản xuất đường mật lại thiếu nguyên liệu; sản xuất bia, thuốc lá nhu cầu tiêu dùng trong nước bị chững lại. (3). Ngành dệt, da giầy, may mặc vẫn còn khó khăn về thị trường, chưa phục hồi được tốc độ tăng cao như trước.

4. Đầu tư và xây dựng.

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung trong kế hoạch năm 2002 được bố trí 21,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1 nghìn tỷ so với kế hoạch năm 2001, trong đó trung ương quản lý 13,1 nghìn tỷ đồng; địa phương quản lý 8,5 nghìn tỷ đồng, Ước tính quý I, nguồn vốn này thực hiện được 5220,3 tỷ đồng, đạt 24,2% kế hoạch và tăng 28,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó trung ương thực hiện 3591,5 tỷ đồng, bằng 27,4% kế hoạch và tăng 28,1%; địa phương thực hiện 1628,8 tỷ đồng, bằng 19,2% và tăng 30,2%.
Trong quý I năm nay, ngành Giao thông Vận tải đã hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng như: Cầu Phả Lại, cầu Tân Đệ và tuyến đường Tân Đệ-thị xã Thái Bình, cầu Lim trên quốc lộ 10, cầu Ngà (Bắc Ninh), cầu Đôi (Thừa Thiên-Huế). Ngoài ra, còn thông xe 10 cầu lớn và 21 cầu loại trung bình trên đường Hồ Chí Minh. Một số công trình trọng điểm khác cũng đang đẩy nhanh tiến độ thi công để hoàn thành vào quí II năm nay như: Giai đoạn II tuyến đường Hà Nội- Bắc Ninh, đường nối quốc lộ 1A với quốc lộ 1B; cầu Trung Hà, các cầu vượt trên tuyến đường Hà Nội- Lạng Sơn. Trong quý I cũng đã khởi công xây dựng mới một số công trình lớn như: Đoạn Bờ Đậu-Thuỷ Khẩu quốc lộ 3, đường nối từ Láng- Hoà Lạc đến Làng Văn hoá các dân tộc, mở rộng cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), đồng thời đang đẩy nhanh tiến độ làm các thủ tục để khởi công cầu Thanh Trì, cầu Bãi Cháy, cầu Cần Thơ, dự án giai đoạn II cảng Hải Phòng và giai đoạn II quốc lộ 9.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20/3 đã cấp giấy phép cho 101 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 215,1 triệu USD. Các dự án cũng như số vốn đăng ký đầu tư tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp và ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản. Ngành công nghiệp 85 dự án với số vốn đăng ký 153 triệu USD, chiếm 71,1% tổng số vốn đăng ký; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 7 dự án với số vốn đăng ký 22,9 triệu USD, chiếm 10,6%. Thành phố Hồ Chí Minh 36 dự án với số vốn đăng ký 32 triệu USD; Bình Dương 19 dự án và 36,4 triệu USD; Đồng Nai 12 dự án và 24,7 triệu USD; Bắc Kạn tuy là tỉnh còn nhiều khó khăn về kết cấu hạ tầng và dịch vụ nhưng kỳ này cũng đã cấp giấy phép được cho 2 dự án với số vốn đăng ký 0,9 triệu USD.
Nếu theo đối tác đầu tư thì Đài Loan có 23 dự án với tổng số vốn đăng ký 41,3 triệu USD; Hàn Quốc 30 dự án và 39,1 triệu USD; Nhật Bản 4 dự án và 27,8 triệu USD, Malaixia 6 dự án và 27,5 triệu USD; Liên bang Nga 2 dự án và 17 triệu USD, Irắc 1 dự án và 12 triệu USD, Trung Quốc 4 dự án và 8,7 triệu USD, Mỹ 7 dự án với 4,5 triệu USD…
5. Vận tải.
Vận chuyển hành khách quý I/2002 ước tính đạt 214,5 triệu lượt hành khách và 7,8 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,2% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,4% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 40 triệu tấn và 11,9 tỷ tấn.km, tăng 5,3% về tấn và 3,9% về tấn.km.
Hoạt động vận tải tuy có tăng lên nhưng nhìn chung chất lượng phục vụ còn hạn chế. Đáng lo ngại nhất là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng nhìn chung tai nạn giao thông vẫn tiếp tục xảy ra với mức độ lớn. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, chỉ tính riêng 2 tháng đầu năm đã xảy ra 6126 vụ tai nạn giao thông, tăng 1402 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm chết 2272 người và làm bị thương 7164 người. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì số người chết tăng 696 người và số bị thương tăng 1685 người.
6. Thương mại, du lịch.
Hoạt động thương mại trong nước ba tháng đầu năm phát triển khá, hàng hoá phục vụ Tết Nguyên đán phong phú, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng đa dạng của dân cư. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ quý I/2002 ước tính đạt 67,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với quý I/2001, trong đó thương nghiệp Nhà nước chiếm 16,9% và tăng 7,8%; ngoài quốc doanh (Tập thể, tư nhân, cá thể và hỗn hợp) chiếm 81,2% và tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,9% và giảm 12,3%. Kinh doanh thương nghiệp tăng 11,5%; khách sạn, nhà hàng tăng 12,3%; hoạt động du lịch lữ hành tăng 38,7%; dịch vụ tăng 15,4% và cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ tăng 8,8%.
Hoạt động du lịch tiếp tục theo chiều hướng phát triển. Lượng khách quốc tế đến nước ta trong quý I ước tính đạt trên 642 nghìn lượt người, tăng 6,4% so với quý I/2001, trong đó khách đến với mục đích du lịch 344 nghìn lượt người, tăng 5,9%; vì công việc 101 nghìn lượt người, tăng 10,2%; thăm thân nhân 120 nghìn lượt người, tăng 4,1% và mục đích khác 77 nghìn lượt người, tăng 7,6%. Một số nước có lượng khách đến nước ta tương đối lớn trong 3 tháng vừa qua là: Trung Quốc 169 nghìn lượt người, chiếm 26,3% tổng số khách; Mỹ 72 nghìn lượt người, chiếm 11,2%; Nhật Bản 62 nghìn lượt người, chiếm 9,6%…
Xuất khẩu đang gặp khó khăn lớn về thị trường và giá bán. Do vậy, ước tính kim ngạch xuất khẩu quý I/2002 đạt 3,2 tỷ USD, giảm 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 1659 triệu USD, giảm 14,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 1533 triệu USD, giảm 8,8%.
Kim ngạch xuất khẩu quý I năm nay giảm sút so với quý I/2001 trước hết là do giá trị xuất khẩu dầu thô giảm mạnh. Mặc dù giá dầu thô tháng 3 đã tăng so với tháng 12/2001 nhưng giá xuất khẩu bình quân cả quý I vẫn thấp hơn rất nhiều cùng kỳ năm trước nên lượng dầu thô xuất khẩu quý này tuy chỉ giảm 2,8% so với quý I/2001 nhưng trị giá lại giảm tới 25,5%. Sau dầu thô là sự sụt giảm của hàng điện tử, máy tính. Hợp đồng xuất khẩu mặt hàng này hạn chế nên kim ngạch xuất khẩu cả quý I/2002 chỉ bằng 57,8% mức xuất khẩu cùng kỳ năm 2001. Các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, rau quả, hạt tiêu, lạc tiếp tục theo hướng giảm sút cả về lượng và giá trị bắt đầu từ cuối năm 2001. Xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2002 đạt 92 nghìn tấn, chỉ bằng 22% mức xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2001. Tháng 3 lượng gạo xuất khẩu có thể đạt 250 nghìn tấn nên ước tính cả quý đạt 342 nghìn tấn với trị giá 74 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 41,1% về lượng và bằng 53,5% về giá trị. Xuất khẩu thuỷ sản 2 tháng đầu năm 2002 đạt 188 triệu USD, giảm 9,2% so với 2 tháng đầu năm 2001. Trong tháng 3, xuất khẩu mặt hàng này tăng lên nên ước tính xuất khẩu thuỷ sản quý I/2002 đạt 338 triệu USD, giảm 5,1% so với quý I/2001. Tuy nhiên, trong quý I năm nay vẫn có một số mặt hàng như dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, than đá, chè đạt kim ngạch xuất khẩu tăng hơn cùng kỳ năm trước, trong đó hàng giày dép tăng 8,6%, là tốc độ tăng cao nhất trong 5 mặt hàng xuất khẩu có trị giá trên 100 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu quý I năm nay ước tính đạt 3,7 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 2617 triệu USD, tăng 0,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1096 triệu USD, tăng 6,8%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu quý I/2002 giảm so với cùng kỳ năm trước là: Xăng dầu, nguyên liệu và phụ liệu dệt may da, hàng điện tử, xe máy, phân bón. Xăng dầu có khối lượng nhập khẩu tăng 6,6%, nhưng do giá nhập khẩu thấp nên trị giá đã giảm 18,6%; giá trị nhập khẩu hàng điện tử và linh kiện giảm 5,4%, chủ yếu do lắp ráp đồ điện tử xuất khẩu giảm nên nhu cầu nhập khẩu linh kiện bị chững lại; phân bón nhập khẩu tiếp tục giảm do lượng tồn kho lớn và nhu cầu sử dụng không tăng. Do triển khai nhiều biện pháp quản lý nhập khẩu xe máy nên ước tính quý I/2002 lượng xe máy nhập khẩu khoảng 145 nghìn chiếc với kim ngạch 47 triệu USD, chỉ bằng 33,9% về lượng và bằng 39% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trong quý này cũng có một số mặt hàng nhập khẩu có tốc độ tăng tương đối cao so với cùng kỳ năm trước như: Giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 15,2%; hoá chất tăng 19,3%. Nhập siêu quý I ước tính 521 triệu USD, bằng 16,3% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 958 triệu USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 437 triệu USD.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư.
Do sản xuất tiếp tục phát triển và giá tiêu dùng không có biến động bất thường nên đời sống dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung đều tiếp tục được cải thiện. Đáng chú ý là trong quý I năm nay, giá bán lương thực, thực phẩm tăng, nông sản hàng hoá tồn đọng ít đã góp phần đáng kể nâng cao thu nhập của phần lớn các hộ nông dân. Do vậy, tình trạng thiếu đói giáp hạt ở nông thôn giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của 19 tỉnh xảy ra thiếu đói giáp hạt, tại thời điểm trung tuần tháng 3/2002 chỉ có 188,9 nghìn hộ với 882,1 nghìn nhân khẩu trong diện thiếu đói, giảm 16,9% về số hộ và giảm 14,9% về số nhân khẩu so với cùng kỳ năm trước. Số hộ và nhân khẩu thiếu đói giáp hạt tập trung ở các tỉnh miền núi như Lai Châu, Nghệ An, Đắk Lắk. Để giúp các hộ trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, các địa phương đã trợ cấp trên 5 nghìn tấn lương thực và 3,8 tỷ đồng. Ngoài ra, trong quý I vừa qua, nhiều địa phương còn tặng quà Tết và cứu trợ cho các đối tượng chính sách, già cả, cô đơn, trẻ em nghèo, đối tượng bị di chứng chiến tranh và đồng bào thuộc các vùng bị thiên tai với tổng trị giá trên 94,1 tỷ đồng.

2. Hoạt động văn hoá, thể thao.
Trong quí I năm 2002, hoạt động văn hóa, thể thao mừng Đảng, mừng xuân Nhâm Ngọ đã diễn ra sôi động trên cả nước. Giao thừa Tết Nguyên đán, lần đầu tiên các tỉnh, thành phố đã tổ chức bắn pháo hoa tạo được không khí phấn khởi cho nhân dân đón mừng năm mới. Hầu hết các tỉnh tổ chức hội báo xuân và tất cả các báo triển lãm đã được chuyển tặng nhân dân các huyện vùng sâu, vùng xa và chiến sĩ các đồn biên phòng. Cũng bắt đầu từ Tết Nguyên đán Chương trình VTV5 chính thức phát sóng 14 thứ tiếng dân tộc ít người.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” và công tác văn hóa thông tin cơ sở được chú trọng. Lai Châu đã tổ chức 11 đội thông tin lưu động chuyên nghiệp với chương trình đậm đà bản sắc văn hoá truyền thống để phục vụ bà con các dân tộc. Cà Mau huy động nhân dân đóng góp hàng trăm ngày công lao động xây dựng các trạm thông tin, cụm panô, câu lạc bộ sinh hoạt văn hoá. Cà Mau hiện đang có 40 tủ sách tại các ấp, khóm văn hoá và 30 điểm bưu điện văn hoá. Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức liên hoan hợp xướng lần thứ III năm 2002, quy tụ 16 đội tham gia với 1350 diễn viên. Bắc Giang đẩy mạnh xây dựng Nhà văn hoá làng. Đến nay Bắc Giang đã có 964 nhà văn hoá làng, 500 câu lạc bộ văn hoá, trên 1000 đội văn nghệ quần chúng. Một số địa phương khác cũng tổ chức tốt phong trào xây dựng Nhà văn hoá làng như Thái Nguyên, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng…
Trong 2 tháng đầu năm 2002, Cục Nghệ thuật biểu diễn cũng đã cấp phát 462,9 nghìn tem đĩa CD, 156 nghìn tem đĩa video, 17 giấy phép công diễn các chương trình ca nhạc, 12 giấy phép sản xuất và phát hành các chương trình ca nhạc. Ngành Điện ảnh đã chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt việc chiếu phim phục vụ dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người. Cục Điện ảnh cũng đã gửi 375 băng hình đến vùng núi, trong đó 14 băng lồng tiếng dân tộc.
Công tác thanh tra văn hoá tiếp tục được đẩy mạnh. Trong 2 tháng đầu năm đã xử lý 492 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 419 triệu đồng, thu giữ 21 đầu máy video, 12805 băng video, 71075 đĩa các loại và 950 cuốn sách có nội dung không lành mạnh.
Cũng trong quý I/2002, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức nhiều hoạt động thể dục thể thao đón xuân mới, phát động phong trào thi đua chào mừng ngày Thể thao Việt Nam và Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ 4. Uỷ ban Thể dục Thể thao đã hoàn thành đề án phát triển thể dục, thể thao, trong đó có nội dung đưa thể dục thể thao về cơ sở, đồng thời đẩy mạnh giai đoạn II cuộc vận động “Toàn dân tập thể dục thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Hiện nay công tác chuẩn bị lực lượng cũng như cơ sở vật chất cho SEAGAMES 22 đang được tiến hành khẩn trương, bảo đảm đúng tiến độ. Uỷ ban Thể dục Thể thao còn tiến hành tập huấn các đội tuyển thể thao quốc gia tại 3 trung tâm huấn luyện để chuẩn bị tham gia Đại hội Thể thao Châu Á lần thứ 14, giải bóng đá Tiger Cup 2002 và SEAGAMES 22.
3. Tình hình dịch bệnh.
Nhìn chung, trong quí I năm nay các loại bệnh gây dịch giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước, nhất là bệnh sốt rét. Từ đầu năm đến ngày 18/3/2002, cả nước chỉ có 321 lượt người bị thương hàn; 37,7 nghìn lượt người sốt rét và 1230 lượt người sốt xuất huyết. Riêng ngộ độc thực phẩm và nhiễm HIV/AIDS có chiều gia tăng. Trong quý I đã có 36 người chết do ngộ độc thức ăn. Từ 19/2 – 18/3/2002 đã phát hiện thêm 1425 trường hợp nhiễm HIV, tăng 403 trường hợp so với tháng trước và 157 bệnh nhân AIDS, tăng 91 bệnh nhân. Như vậy, đến ngày 18/3/2002, cả nước đã có 46840 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 6774 bệnh nhân AIDS (3724 bệnh nhân đã chết).
Tóm lại, diễn biến kinh tế-xã hội quý I/2002 có những mặt tích cực và tiến bộ. Tổng sản phẩm trong nước tăng 6,6%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,8%; vụ đông xuân tiếp tục được mùa; thu ngân sách đạt 25% dự toán cả năm và là tỷ lệ cao trong các quý I những năm gần đây; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, nhất là nông dân tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn lớn, nổi bật là xuất khẩu giảm sút nhiều, nếu không có các biện pháp kịp thời khắc phục thì không những khó đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đề ra, nhất là mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu 10-13%, mà còn tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống trong những tháng tới.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ