Kinh tế-xã hội nước ta 5 tháng đầu năm 2008 diễn ra trong trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó dự báo. Giá tăng cao ở hầu hết các nước, kể cả ở các nước có nền kinh tế mạnh và duy trì được mức giá thấp trong nhiều năm. Những biến động bất lợi của nền kinh tế toàn cầu và thiên tai, dịch bệnh xảy ra trong nước đã tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp và chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân đẩy mạnh sản xuất, kiềm chế lạm phát nên tình hình kinh tế-xã hội tháng Năm và 5 tháng đầu năm phát triển theo hướng ổn định.

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tháng Năm tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa đông xuân, xuống giống lúa hè thu ở các địa phương phía Nam và chăm sóc lúa đông xuân ở các địa phương phía Bắc. Tính đến trung tuần tháng Năm, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1835,5 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 101,7% cùng kỳ năm trước; năng suất ước tính đạt 61,1 tạ/ha, bằng 103,7%; sản lượng đạt 11,5 triệu tấn, bằng 105,8%. Riêng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản thu hoạch xong. Do dịch bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên toàn vùng đã được khống chế, nông dân tích cực, đầu tư thâm canh, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh nên năng suất ước tính đạt 64,1 tạ/ha, tăng 6,5% so với vụ đông xuân năm 2007; sản lượng đạt 9,8 triệu tấn, tăng 7,8%. Một số tỉnh trong vùng có sản lượng lúa tăng cao so với vụ đông xuân trước là: Kiên Giang đạt 1813,2 nghìn tấn, tăng 15,5%; Sóc Trăng 822,8 nghìn tấn, tăng 16,7%; Hậu Giang 502,8 nghìn tấn, tăng 17,1%; Trà Vinh 294,5 nghìn tấn, tăng 28,1%.

Các địa phương phía Bắc gieo cấy được 1127 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước. Hiện nay lúa đang phát triển tốt, nếu thời tiết thuận lợi thì năng suất có thể đạt cao hơn vụ đông xuân năm 2007.

Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đang tập trung xuống giống lúa hè thu. Tính đến 15/5/2008, diện tích lúa hè thu đã xuống giống đạt 1179,5 nghìn ha, bằng 114,4% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long 1115,9 nghìn ha, bằng 117,7%.

Ngoài việc thu hoạch lúa đông xuân và gieo cấy lúa hè thu, các địa phương trên cả nước còn đẩy mạnh gieo trồng các loại cây hoa màu. Tính đến trung tuần tháng Năm, diện tích gieo trồng ngô đạt 603,6 nghìn ha, bằng 108,7% cùng kỳ năm trước; khoai lang 119,4 nghìn ha, bằng 98,8%; sắn 195,4 nghìn ha, bằng 114%; lạc 179,8 nghìn ha, bằng 101%; đậu tương 114,3 nghìn ha, bằng 107,6%; rau đậu các loại 450,4 nghìn ha, bằng 107%.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 1/4/2008, tổng đàn lợn cả nước có 25,6 triệu con, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do dịch tai xanh xuất hiện tại nhiều địa phương; đàn bò tăng chậm ở mức 3% do ảnh hưởng của dịch lở mồm long móng; đàn gia cầm tăng 6%. Tính đến ngày 22/5/2008, còn một số tỉnh chưa khống chế được dịch bệnh trên gia súc, gia cầm như: Dịch lở mồm long móng ở Nghệ An; dịch cúm gia cầm ở Cần Thơ, Trà Vinh và Long An; dịch tai xanh ở lợn xảy ra chưa qua 21 ngày ở Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Lâm Đồng, Vĩnh Long. Hiện nay, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm vẫn đang diễn biến phức tạp, các ngành chức năng cần tích cực hơn nữa trong việc triển khai đồng bộ các biện pháp, đặc biệt phải kiểm soát chặt chẽ khâu kiểm dịch gia súc vận chuyển nhằm khống chế, ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.

Lâm nghiệp

Trong tháng Năm, nhiều nơi có mưa tạo thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp phát triển. Diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác tăng 1%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2008, diện tích rừng trồng tập trung tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2007; sản lượng gỗ khai thác tăng 1%.

Hiện tượng cháy rừng trong tháng đã giảm do có mưa nhưng tình trạng chặt phá rừng vẫn xảy ra ở nhiều nơi với 3,6 nghìn vụ, trong đó khai thác rừng trái phép 0,3 nghìn vụ; vận chuyển, buôn bán trái phép gỗ và lâm sản 1,6 nghìn vụ. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, cả nước xảy ra 47 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy 615 ha. Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy lớn là Đồng Tháp 334 ha, Lạng Sơn 169 ha, Điện Biên 91 ha.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 5/2008 ước tính đạt 338,8 nghìn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng tăng 15,2%; khai thác tăng 2,2%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 163,8 nghìn tấn, trong đó cá đạt 136 nghìn tấn, tăng 19,3%; tôm 17,8 nghìn tấn, giảm 6,8%. Sản lượng tôm nuôi đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do dịch bệnh thân đỏ đốm trắng xảy ra trên diện tích nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến. Những địa phương bị thiệt hại nhiều là: Kiên Giang trên 40 nghìn ha, Cà Mau 20 nghìn ha, Bạc Liêu trên 10 nghìn ha, Sóc Trăng 4,5 nghìn ha. Hoạt động khai thác thuỷ sản có thuận lợi hơn nên sản lượng khai thác thuỷ sản tháng 5/2008 ước tính đạt 175 nghìn tấn. Tính chung 5 tháng đầu năm 2008, tổng sản lượng thuỷ sản đạt 1638,8 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 726,5 nghìn tấn, tăng 21,8%; khai thác 912,3 nghìn tấn, tăng 0,6%. Trong tổng số, ước tính sản lượng cá đạt 1259,3 nghìn tấn, tăng 11,1%; tôm đạt 142,9 nghìn tấn, tăng 2,7%.

2. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 5/2008 theo giá so sánh ước tính tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước và tính chung 5 tháng đầu năm tăng 16,4%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 7% (Trung ương quản lý tăng 9,6%; địa phương quản lý giảm 0,9%); khu vực ngoài nhà nước tăng 22,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,2% (dầu mỏ và khí đốt giảm 6,5%, các sản phẩm khác tăng 19,7%).

Nhiều tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có qui mô sản xuất công nghiệp lớn vẫn duy trì được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh có mức tăng cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Hải Dương tăng 38%; Vĩnh Phúc tăng 35,3%; Bình Dương tăng 23,5%; Hà Tây tăng 22,7%; Đồng Nai tăng 20%; Phú Thọ tăng 18,5%; Hải Phòng tăng 18,3%; Cần Thơ tăng 17,1%. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt tốc độ tăng không cao, chỉ ở mức 15% và 13,4%; riêng Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,3% do sản lượng dầu thô khai thác tiếp tục giảm.

Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu đạt tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung đã góp phần duy trì sự tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp gồm: Xe tải tăng 109,8%; xe chở khách tăng 106,5%; máy giặt tăng 51,1%; lốp ô tô, máy kéo tăng 41,5%; tivi tăng 30,5%; điều hòa nhiệt độ tăng 29,9%; tủ lạnh, tủ đá tăng 29,7%; dầu thực vật tinh luyện tăng 28,6%; sữa bột tăng 26,9%; quần áo người lớn tăng 25,7%; thủy hải sản chế biến tăng 19,5%; thép tròn tăng 17,1%; gạch lát ceramic tăng 16,8%. Một số sản phẩm chủ yếu khác có tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 15,7%; nước máy tăng 13,5%; xi măng tăng 12,5%; than đá tăng 10,7%; xe máy tăng 9,1%; phân hóa học tăng 4,4%. Tuy vậy, sản lượng một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước là: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 3,1%; dầu thô khai thác giảm 6,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo giảm 6,5%.

3. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tháng 5/2008 ước tính đạt 6,9 nghìn tỷ đồng, bằng 7,1% kế hoạch năm, trong đó vốn Trung ương quản lý 2,1 nghìn tỷ đồng, bằng 6,5%; vốn địa phương quản lý 4,8 nghìn tỷ đồng, bằng 7,3%. Tính chung 5 tháng đầu năm, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện 30,5 nghìn tỷ đồng, bằng 31% kế hoạch năm, bao gồm vốn Trung ương quản lý 9,4 nghìn tỷ đồng, bằng 28,5%; vốn địa phương quản lý 21 nghìn tỷ đồng, bằng 32,3%.

Thực hiện Quyết định 390/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/4/2008, hiện nay các Bộ, Ngành và địa phương đang tiến hành rà soát, kiểm tra, giám sát các công trình, dự án từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư; đồng thời đẩy nhanh tiến độ giải ngân cho các công trình trọng điểm. Một số Bộ và tỉnh, thành phố có khối lượng vốn đầu tư thực hiện lớn là: Bộ Giao thông Vận tải 1487 tỷ đồng, bằng 23,7% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 852 tỷ đồng, bằng 51,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 415,1 tỷ đồng, bằng 37%; Bộ Y tế 309,2 tỷ đồng, bằng 33,2%; thành phố Hồ Chí Minh 2,3 nghìn tỷ đồng, bằng 26,2%; Thành phố Hà Nội 2,1 nghìn tỷ đồng, bằng 33,8%; tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 825 tỷ đồng, bằng 41,6%; thành phố Đà Nẵng 908,1 tỷ đồng, bằng 37,4%; tỉnh Nghệ An 535,3 tỷ đồng, bằng 38,5%; Hải Phòng 441,6 tỷ đồng, bằng 31,3%; tỉnh Quảng Trị 402,9 tỷ đồng, bằng 52,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục tăng cao, tháng 5/2008 cả nước có 130 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 7498 triệu USD, nâng tổng số dự án được cấp giấy phép 5 tháng đầu năm nay lên 324 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 14,7 tỷ USD, tuy giảm 29,6% về số dự án nhưng tăng 160,8% về số vốn so với cùng kỳ năm 2007, trong đó chỉ riêng 16 dự án lớn có quy mô đầu tư từ 100 triệu USD trở lên đã có số vốn đăng ký 12,7 tỷ USD. Các dự án đầu tư tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ với 12,3 tỷ USD, chiếm 83,4% tổng vốn đăng ký. Nếu tính thêm 604,7 triệu USD cấp bổ sung của 132 lượt dự án được cấp phép trước đây thì tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài cả nước trong 5 tháng qua là 15,3 tỷ USD, tăng 134,1% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện 5 tháng đầu năm ước tính là 3,95 tỷ USD, tăng 25,4%.

Các dự án được cấp phép trong 5 tháng đầu năm nay thuộc 36 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó Bà Rịa-Vũng Tàu dẫn đầu với 5,5 tỷ USD, chiếm 37,5% tổng vốn đăng ký; thành phố Hồ Chí Minh 2,1 tỷ USD, chiếm 14,3%; Đồng Nai 1,78 tỷ USD, chiếm 12,1%; Kiên Giang 1,65 tỷ USD, chiếm 11,2%; Bắc Ninh 853,9 triệu USD, chiếm 5,8%; Hà Nội 661,5 triệu USD, chiếm 4,5%; Cần Thơ 539,2 triệu USD, chiếm 3,7%.

Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 5 tháng qua, Ca-na-đa là đối tác có số vốn đăng ký lớn nhất với 4,23 tỷ USD, chiếm 28,8% tổng vốn đăng ký; quần đảo Virgin thuộc Anh 2,69 tỷ USD, chiếm 18,3%; Xin-ga-po 2,24 tỷ USD, chiếm 15,2%; Ma-lai-xi-a 1,48 tỷ USD, chiếm 10%.

4. Thương mại, dịch vụ

Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 5 tháng đầu năm 2008 theo giá hiện hành ước tính đạt 368,9 nghìn tỷ đồng, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 5 tháng đầu năm tăng 8,9%. Khu vực cá thể chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức với 56%, tăng 33,6%; khu vực tư nhân chiếm 29,2%, tăng 35,3%; khu vực Nhà nước chiếm 11,4%, tăng 2,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,4%, tăng 36,3%; khu vực tập thể chiếm 1%, tăng 32,3%. Nếu phân theo ngành kinh doanh thì thương nghiệp chiếm 82,5% tổng mức và tăng 30,1% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 11,2% và tăng 25,6%; dịch vụ chiếm 4,9% và tăng 28,3%; du lịch lữ hành chiếm 1,4% và tăng 43,7%.

Giá tiêu dùng

Giá cả thị trường đang diễn biến phức tạp. Giá tiêu dùng tháng 5/2008 so với tháng trước tăng 3,91%, tăng cao nhất trong 5 tháng đầu năm nay (Tháng Một: 2,38%; tháng Hai: 3,56%; tháng Ba: 2,99%; tháng Tư: 2,2%), đáng chú ý là chỉ số giá tiêu dùng tăng cao tại các vùng phía Nam với mức từ 4% đến trên 6% (Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tăng 4,33%, Tây Nguyên tăng 6,24%, Đông Nam Bộ tăng 4,5%, đồng bằng sông Cửu Long tăng 5,66%).

Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 7,25%, trong đó lương thực tăng đột biến ở mức 22,19% do cơn sốt giá gạo trên diện rộng từ cuối tháng 4/2008 (Giá gạo tại các tỉnh phía Nam tăng từ 20% – 39%; các tỉnh phía Bắc tuy bị ảnh hưởng ít hơn nhưng giá gạo vẫn tăng trên 10%); giá thực phẩm tăng 2,28% do chi phí đầu vào vẫn tiếp tục tăng. Giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng phổ biến từ 0,3% đến dưới 2%, trong đó giá đồ uống và thuốc lá tăng 1,88%; giá hàng may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,96%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,2%, tuy vẫn ở mức cao nhưng đã giảm so với mức tăng 2,62% của tháng trước, trong đó giá một số loại vật liệu xây dựng thiết yếu như: Xi măng, sắt thép, gạch lát…đang bị nhiều nhà bán lẻ đẩy giá lên hoặc giữ hàng để làm giá, mặt khác các doanh nghiệp sản xuất hiện đang gặp khó khăn về vốn để phát triển sản xuất; giá thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,93%; giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng từ 0,33% đến 0,57%.

So với tháng 12/2007, giá tiêu dùng tháng 5/2008 tăng 15,96%, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 26,56%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 12,17%; phương tiện đi lại và bưu điện tăng 10,2%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,06%; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng 5,69%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 5,07%; văn hoá, thể thao giải trí tăng 4,87%. So với cùng kỳ năm 2007, giá tiêu dùng tháng này tăng 25,2%. Giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2008 tăng 19,09% so với 5 tháng đầu năm 2007.

Giá vàng tháng 5/2008 so với tháng trước giảm 3,9%, so với tháng 12/2007 tăng 11,41%, so với cùng kỳ năm trước tăng 32,45%. Giá đô la Mỹ tháng 5/2008 tăng 1,02% so với tháng trước, tăng 0,32% so với tháng 12/2007, tăng 0,45% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Giá trị hàng hóa xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 23,4 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,9 tỷ USD, tăng 23,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 8,9 tỷ USD, tăng 23,9%; dầu thô 4,5 tỷ USD, tăng 45,5%. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhiều mặt hàng được lợi về giá, riêng giá xuất khẩu của 5 mặt hàng chủ yếu (Dầu thô, than, gạo, cà phê, cao su) tăng đã đẩy kim ngạch xuất khẩu tăng thêm 2,9 tỷ USD. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của 5 mặt hàng này thì tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ tăng 11,4%. Tính đến hết tháng 5/2008, đã có 7 mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: Dầu thô, hàng dệt may, giày dép, gạo, cà phê, sản phẩm gỗ và thuỷ sản, nhiều hơn 2 mặt hàng so với 5 tháng đầu năm 2007.

Các mặt hàng công nghiệp vẫn duy trì được tốc độ xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước, trong đó dầu thô (Tuy chỉ đạt 5,7 triệu tấn, giảm 11,3% nhưng tiếp tục được lợi về giá) kim ngạch đạt 4,5 tỷ USD, tăng 45,5%, đóng góp 28,3% vào tổng kim ngạch tăng chung của cả nước; hàng dệt may đạt 3,3 tỷ USD, tăng 19% do đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và EU (Trong 4 tháng đầu năm xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ đạt 1,5 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước; EU 445 triệu USD, tăng 21,7%); giày dép đạt 1,7 tỷ USD, tăng 13,4% ; điện tử, máy tính đạt 964 triệu USD, tăng 25,2%; than đá tuy giảm 15,7% về lượng nhưng do giá tăng nên kim ngạch đạt 565 triệu USD, tăng 34,9%.

Hàng nông sản, lâm sản và thủy sản chế biến cũng đạt tốc độ xuất khẩu tăng cao, chủ yếu do nhiều sản phẩm được lợi về giá; thủy sản đạt 1,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước (Riêng trong 4 tháng đầu năm nay, thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường EU đạt 309 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước và sang thị trường Nhật Bản 208 triệu USD); gạo 2,1 triệu tấn với kim ngạch đạt 1,2 tỷ USD, tăng 12,9% về lượng và tăng 94,1% về kim ngạch; sản phẩm gỗ đạt 1,1 tỷ USD, tăng 20,8%; cao su đạt 493 triệu USD, tăng 15,3%. Riêng cà phê 5 tháng mới xuất khẩu được 493 nghìn tấn, giảm 35,6% và kim ngạch đạt 1 tỷ USD, giảm 9,6%. Như vậy, dễ nhận thấy rằng 5 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất khẩu nói chung và kim ngạch xuất khẩu của một số hàng, nhóm hàng nói riêng tăng cao và khá cao do giá xuất khẩu tăng.

Giá trị nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 37,8 tỷ USD, tăng 67% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 26,3 tỷ USD, tăng 80%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2%. Những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao vẫn là máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu dùng cho sản xuất, trong đó nhiều mặt hàng có giá nhập khẩu tăng. Riêng giá của 5 mặt hàng xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, giấy tăng đã làm kim ngạch tăng thêm 3,3 tỷ USD, do đó nếu loại trừ yếu tố tăng giá nhập khẩu của 5 mặt hàng này thì tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước chỉ tăng 52,3%.

Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,7 tỷ USD, tăng 42,5% so với cùng kỳ năm trước. Xăng dầu đạt 4,8 tỷ USD, tăng 68,7% về kim ngạch và tăng 6,2% về lượng. Sắt thép đạt 4,1 tỷ USD, tăng 137,8% về kim ngạch và tăng 84,3% về lượng, trong đó phôi thép 1,2 tỷ USD tăng 223,6% về kim ngạch và tăng 108% về lượng. Vải đạt 1,8 tỷ USD, tăng 14,9%. Hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 1,5 tỷ USD, tăng 43,1%. Chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, tăng 37,7%. Phân bón tăng 39,4% về lượng và tăng 164,3% về kim ngạch. Thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 98,7%; bông tăng 74,3%. Thuốc trừ sâu tăng 58,9%. Giấy tăng 38,4% về lượng và tăng 52,5% về kim ngạch. Xe máy nguyên chiếc tăng 40,5%; riêng ô tô nguyên chiếc tăng 432,4% so với cùng kỳ năm 2007 do lượng nhập khẩu tăng 505,8%. Lượng ô tô nhập khẩu đã có xu hướng giảm do tăng thuế đối với hàng ô tô nhập khẩu.

Nhập siêu 5 tháng đầu năm ước tính đạt 14,4 tỷ USD, bằng 61,6% kim ngạch xuất khẩu và gấp 3,4 lần mức nhập siêu của 5 tháng đầu năm 2007.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm là 2,1 triệu lượt người, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không 1,5 triệu lượt người, chiếm 72,7% tổng số lượt khách đến, tăng 7,6%. Phân theo mục đích đến thì khách du lịch là 1,3 triệu lượt người, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2007; đến vì công việc 389,4 nghìn lượt người, tăng 52,6%; thăm thân nhân 271,4 nghìn lượt người, tăng 2,3%.

Khách đến từ Trung Quốc 352,2 nghìn lượt người, chiếm tỷ trọng lớn nhất với 16,9%, tăng 53,8% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là khách đến từ Hoa Kỳ 195,1 nghìn lượt người, tăng 7,8%; Đài Loan 141,6 nghìn lượt người, tăng 11,5%; Thái Lan 87,6 nghìn lượt người, tăng 31,9%; Pháp 82,2 nghìn lượt người, tăng 9,5%; Ma-lai-xi-a 69,8 nghìn lượt người, tăng 16,9%; Xin-ga-po 64,5 nghìn lượt người, tăng 24,4%; Anh 48 nghìn lượt người, tăng 10,3%; Đức 47,9 nghìn lượt người, tăng 15,1%. Riêng lượng khách đến từ Hàn Quốc và Nhật Bản chỉ đứng sau lượng khách đến từ Trung Quốc và Hoa Kỳ nhưng giảm 0,6% và giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

Giao thông vận tải

Khối lượng hành khách vận chuyển 5 tháng đầu năm ước tính đạt 740 triệu lượt khách và 34,4 tỷ lượt khách.km, tăng 10,4% về số khách và tăng 10,8% về số khách.km so với cùng kỳ năm trước, trong đó các đơn vị vận tải Trung ương quản lý đạt 13,1 triệu lượt khách và 8,5 tỷ lượt khách.km, tăng 6,9% về số khách và tăng 10,1% về số khách.km; các đơn vị vận tải địa phương quản lý đạt 726,9 triệu lượt khách và 25,9 tỷ lượt khách.km, chiếm 98,2% tổng số khách và chiếm 75,3% tổng số khách.km, tăng 10,5% về số khách và tăng 11% về số khách.km. Trong các ngành vận tải, vận tải hành khách bằng đường bộ đạt 667,3 triệu lượt khách và 24,9 tỷ lượt khách.km, tăng 11,6% về số khách và tăng 12,8% về lượt khách.km; đường hàng không đạt 3,8 triệu lượt khách và 6,4 tỷ lượt khách.km, tăng 13,1% và tăng 9,2%; đường biển đạt 2,3 triệu lượt khách và 133,3 triệu lượt khách.km, tăng 4,3% và tăng 5,6%; đường sông đạt 62,2 triệu lượt khách và 1,3 tỷ lượt khách.km, tăng 2,1% và tăng 6,5%. Riêng vận chuyển hành khách bằng đường sắt đạt 4,4 triệu lượt khách và 1,7 tỷ lượt khách.km, giảm 2,6% về số khách và giảm 5% lượt khách.km.

Vận chuyển hàng hóa 5 tháng đầu năm ước tính đạt 168,4 triệu tấn và 64,5 tỷ tấn.km, tăng 9,7% về tấn và tăng 33,2% về tấn.km so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, khối lượng hàng hóa luân chuyển bằng đường biển đạt 54 tỷ tấn.km, chiếm tỷ trọng lớn nhất với 83,7% và có tốc độ tăng cao nhất ở mức 43,2%. Vận chuyển hàng hóa trong tất cả các ngành vận tải đều tăng cả hai chỉ số khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển: Đường hàng không tăng 5% và tăng 4%; đường sông tăng 3,2% và tăng 10,1%; đường sắt tăng 4,3% và tăng 12,9%; đường bộ tăng 11,9% và tăng 16,3%; đường biển tăng 25% và tăng 43,2%.

Bưu chính viễn thông

Hoạt động bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển. Số thuê bao điện thoại phát triển mới trong 5 tháng đầu năm đạt 5,9 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao trên cả nước tính đến hết tháng 5/2008 là 52,6 triệu thuê bao, đạt mật độ 60,1 máy/100 dân. Riêng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 32,2 triệu thuê bao, chiếm 61,3% số thuê bao cả nước. Số thuê bao internet phát triển mới 5 tháng đầu năm đạt 486,2 nghìn thuê bao, tính đến hết tháng 5/2008, cả nước có 5,6 triệu thuê bao. Tổng doanh thu bưu chính viễn thông trong 5 tháng đầu năm ước tính đạt 27,8 nghìn tỷ đồng, trong đó doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông chiếm 52,2% với 14,6 nghìn tỷ đồng gồm 13,3 nghìn tỷ đồng doanh thu viễn thông, 606,4 tỷ đồng doanh thu bưu chính và 633,3 tỷ đồng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông khác.

5. Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/5/2008 ước tính đạt 46,1% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa đạt 44,1%; thu từ dầu thô 45,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 53,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 43,1% dự toán cả năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 34,5%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 42,3%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 55,9%; thu phí xăng dầu đạt 36,2%; thu phí, lệ phí đạt 38,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/5/2008 ước tính đạt 37% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 34,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 33,7%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương) đạt 38,5%; chi trả nợ và viện trợ đạt 43,8%.

6. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng Năm (Tính tới thời điểm 21/5/2008) cả nước có 181,6 nghìn hộ thiếu đói với 766,9 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 1,6% tổng số hộ và 1,5% số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. Số hộ thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, trong đó Yên Bái có tỷ lệ nhân khẩu thiếu đói so với nhân khẩu nông nghiệp là 7,3%, Lai Châu 7,5%, Thanh Hoá 6,7%, Nghệ An 9,3% và Hà Tĩnh 10,8%.

So với tháng trước, số hộ thiếu đói tăng 18,4% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 22,4%. So với cùng kỳ năm trước, số hộ thiếu đói gấp 2,1 lần; số nhân khẩu thiếu đói gấp 1,9 lần. Tình trạng thiếu đói tăng nhiều chủ yếu vẫn do ảnh hưởng của bão và lũ lụt xảy ra vào cuối năm 2007 và đợt rét đậm, rét hại kéo dài xảy ra vào đầu năm 2008 ở các tỉnh phía Bắc. Bên cạnh đó, giá cả hàng hoá tăng mạnh cũng ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người dân. Tính từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 23 nghìn tấn lương thực và 9,6 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Từ ngày 21/4/2008 đến ngày 20/5/2008 trên địa bàn cả nước có 4,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 2,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 136 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút và 1,4 nghìn trường hợp mắc tiêu chảy cấp nguy hiểm, trong đó có 170 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả. Tính từ đầu năm đến nay, đã có 21,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 11,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 1,9 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút và 3,4 nghìn trường hợp mắc tiêu chảy cấp, trong đó có 497 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả.

Nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn cả nước tiếp tục được phát hiện. Trong tháng 5/2008 đã phát hiện thêm 2,9 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến 20/5/2008 lên 145,9 nghìn người, trong đó 30,7 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 17,5 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Mặc dù công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền và khuyến cáo người dân về vấn đề an toàn thực phẩm đã được các Bộ, các ngành và các địa phương tích cực triển khai trong thời gian qua nhưng hiệu quả đạt được chưa cao. Trong tháng Năm đã xảy ra 12 vụ ngộ độc thực phẩm với gần 400 trường hợp bị ngộ độc tại 9 tỉnh/thành phố trên địa bàn cả nước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2008 đã có 1,8 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 26 người đã tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng tư trên địa bàn cả nước đã xẩy ra 1075 vụ tai nạn giao thông (riêng đường bộ chiếm 94,6%), làm chết 961 người và làm bị thương 708 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 1,9%, số người chết giảm 1,2% và số người bị thương tăng 15,5%; so với cùng kỳ năm 2007, số vụ tai nạn giao thông giảm 13,1%, số người chết giảm 14,6% và số người bị thương giảm 19,6%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2008, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4365 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4015 người và làm bị thương 2781 người. So với 4 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giao thông giảm 17,3%, số người chết giảm 15,3% và số người bị thương giảm 32,2%. Bình quân một ngày trong 4 tháng đầu năm 2008, trên địa bàn cả nước xảy ra 36,1 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và làm bị thương 23 người. So với 4 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giao thông bình quân một ngày giảm 8 vụ, số người chết giảm 6 người và số người bị thương giảm 11 người.

Khái quát lại, trong điều kiện hết sức khắc nghiệt nhưng 5 tháng đầu năm nay kinh tế nước ta vẫn duy trì được xu hướng tăng trưởng. Đời sống nhân dân ổn định. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn đạt được tốc độ tăng cao. Vụ đông xuân tại các địa phương phía Nam đạt kết quả khá. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục tăng. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn lớn như: Giá tiêu dùng ở mức cao và vẫn có xu hướng tăng cao, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư; nhập siêu tiếp tục gia tăng gây khó khăn cho cân đối vĩ mô và đặc biệt làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu dùng trong nước.

Để thực hiện tốt mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008, các cấp, các ngành và các doanh nghiệp cần tập trung vào thực hiện có kết quả một số nhiệm vụ trọng tâm mà Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã giao sau đây: (1) Tiếp tục nghiên cứu để đề ra những giải pháp đúng và kịp thời nhằm kiềm chế lạm phát; (2) Kiểm soát chặt chẽ cơ cấu hàng nhập khẩu, ưu tiên nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất trong nước; đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng hoá đáp ứng tiêu dùng và xuất khẩu, từ đó giảm nhập siêu; kiểm soát tốt hoạt động nội thương, không để đầu cơ, tăng giá tuỳ tiện; (3) Tính toán hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển; (4) Kiểm tra chặt chẽ và rà soát các công trình, dự án đã, đang và sẽ được đầu tư để tránh lãng phí và đảm bảo đầu tư có hiệu quả; (5) Làm tốt công tác phòng và chống dịch bệnh cho người và gia súc, gia cầm; (6) Triển khai kịp thời và thực hiện nghiêm công tác an sinh xã hội.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ