Trong 9 tháng năm 2005, những diễn biến của tình hình trong nước và thế giới như sự phục hồi của kinh tế thế giới; giá cả quốc tế tăng mạnh, đặc biệt là giá dầu thô, giá nhập khẩu sắt thép, chất dẻo… và giá nhiều nguyên, vật liệu đầu vào khác; giá tiêu dùng trong nước tăng; các tác động bất lợi của thời tiết… đã tác động thuận và không thuận đến nền kinh tế nước ta. Do có sự chỉ đạo điều hành sát sao của Chính phủ ngay từ những tháng đầu năm và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương và toàn dân nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm 2005, năm cuối của kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 2001-2005, kinh tế nước ta tiếp tục phát triển tích cực và đạt mức tăng trưởng cao, xã hội ổn định. Trên cơ sở số liệu thống kê 8 tháng và số liệu ước tính tháng 9, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2005 như sau:

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ

  1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng 2005 ước tính tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10%; khu vực dịch vụ tăng 8,2%. Trong 8,1% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,8%; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4% và khu vực dịch vụ đóng góp 3,3%.

Bảng 1. Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2005

theo giá so sánh 1994

Tổng sản phẩm trong nước

(Tỷ đồng)

Tốc độ tăng      so với 9 tháng năm 2004 (%)Đóng góp của mỗi khu vực vào tốc độ tăng chung (%)
    
Tổng số2778708,18,1
 Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản541424,10,8
Công nghiệp và xây dựng11151310,04,0
Riêng công nghiệp8983710,33,3
Dịch vụ1122158,23,3

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm nay mức tăng đạt 4,1%, trong đó ngành nông nghiệp tăng 3,5%, chủ yếu do lúa đông xuân tiếp tục là năm được mùa, sản lượng tăng 252,7 nghìn tấn; chăn nuôi gia súc ổn định và phát triển nhanh, dịch cúm gia cầm tuy có phát sinh ở một số địa phương, nhưng ảnh hưởng không lớn như năm trước, đàn gia cầm đã tăng trưởng. Thuỷ sản tăng mạnh trong quí III. Lâm nghiệp 9 tháng tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác.

Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10%, trong đó giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến tăng 11%; công nghiệp điện nước tăng 12%; xây dựng tăng 8,9%.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,2%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng 7% của 9 tháng năm 2004. Trong khu vực này, các ngành có tỷ trọng lớn và thuộc lĩnh vực dịch vụ kinh doanh như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch đều có mức tăng cao so với mức tăng của từng ngành trong 9 tháng năm trước: Thương nghiệp 9 tháng năm nay tăng 8,1% (cùng kỳ tăng 7,6%); Khách sạn nhà hàng tăng 15,4% (cùng kỳ tăng 7,6%); Vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9% (cùng kỳ tăng 7,7%)…

Do khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao hơn mức tăng chung và tăng nhanh hơn các khu vực khác nên cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo chiều hướng tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng và giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và khu vực dịch vụ.

 

Bảng 2. Tỷ trọng các khu vực kinh tế

trong tổng sản phẩm trong nước

 

%   

9 tháng

năm 2003

9 tháng

năm 2004

9 tháng

năm 2005

    
Tổng số100,00100,00100,00
 Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản22,3521,6420,62
Công nghiệp và xây dựng39,7740,4641,25
Riêng công nghiệp34,4234,9635,77
Dịch vụ37,8837,9038,13

Tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 82,3% dự toán cả năm, cao hơn mức dự kiến 78,9% của 9 tháng năm trước 3,4 điểm phần trăm, chủ yếu do tăng thu từ dầu thô, nhờ giá bán dầu thô trên thị trường quốc tế liên tục tăng cao hơn nhiều so với mức giá khi lập dự toán. Trong tổng thu, các khoản thu nội địa đạt 76,8% dự toán năm 2005 (9 tháng năm trước 78,9%), thu từ dầu thô đã vượt 7% dự toán ngân sách cả năm (9 tháng năm 2004 là 97,8%) và thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 72,6% (9 tháng năm trước 66,2%).

Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa nhìn chung đạt mức trên 75% kế hoạch năm, nhưng thấp hơn tỷ lệ thực hiện kế hoạch của 9 tháng năm trước: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 75,1% (9 tháng năm trước 81,2%); thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh 77,4% (9 tháng năm trước 77,9%); thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 75,9% (9 tháng năm trước 83,3%); các khoản thu về nhà đất 88,6% (9 tháng năm trước đã vượt 39,5% dự toán cả năm); thu thuế sử dụng đất nông nghiệp 127,4% (9 tháng năm trước 132,8%). Riêng thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 73,8%, cao hơn tỷ lệ 68,7% của 9 tháng năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng đã căn bản đáp ứng nhu cầu chi từ ngân sách Nhà nước, ước tính đạt 74,2% dự toán cả năm 2005, cao hơn tỷ lệ 71,1% của 9 tháng năm trứơc, trong đó chi cho đầu tư phát triển 70% (9 tháng năm trước 63,6%), chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 69,3% (9 tháng năm trước 62,8%); chi trả nợ và viện trợ 77,5% (9 tháng năm trước 76,8%); riêng chi thường xuyên 75,9% (thấp hơn tỷ lệ 79,2%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ trên 75% so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo 75,8%; chi cho y tế 75,4%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 75,1%; chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể 76%; chi sự nghiệp kinh tế 76,9%… Bội chi ngân sách ở mức thấp so với GDP và bằng 48,9% mức bội chi dự toán cho cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 68,4% và vay nước ngoài 31,6%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2005 ước tính đạt 125,87 nghìn tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp 93,61 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3%; lâm nghiệp 4,72 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8%; thuỷ sản 27,54 nghìn tỷ đồng tăng 9,7%. Tình hình cụ thể của từng ngành như sau:

  1. Nông nghiệp

Sản xuất lương thực: Diện tích lúa cả năm đạt 7339,5 nghìn ha, bằng 98,6% năm 2004, giảm 105,8 nghìn ha, trong đó diện tích cả ba loại lúa đông xuân, hè thu, lúa mùa đều giảm so với diện tích cùng vụ năm trước: Lúa đông xuân giảm 36,5 nghìn ha, lúa hè thu giảm 18,7 nghìn ha và lúa mùa giảm 50,6 nghìn ha. Diện tích lúa giảm chủ yếu do các địa phương tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, giảm diện tích trồng lúa cho năng suất thấp sang trồng lạc, đỗ tương, rau quả, cây ăn trái và nuôi thuỷ sản; mặt khác còn giảm do ảnh hưởng thời tiết. Năng suất lúa cả năm ư­ớc tính đạt 49,5 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với năm trước; sản  lư­ợng đạt 36,3 triệu tấn, tăng 19,2 vạn tấn (+0,5%). Nếu tính cả 3,7 triệu tấn lương thực có hạt khác thì sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 40,03 triệu tấn, tăng 44,9 vạn tấn so với năm 2004.

Vụ lúa đông xuân 2005 tiếp tục là vụ lúa được mùa, năng suất đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha (+2,7%), sản lượng đạt 17,33 triệu tấn, tăng 252,7 nghìn tấn so với lúa đông xuân 2004.

Lúa hè thu: Năng suất chung cả nước ước tính đạt 44,1 tạ/ha, xấp xỉ hè thu 2004. Sản lượng lúa ước tính đạt 10,34 triệu tấn, giảm 88,2 nghìn tấn (-0,8%) so với vụ hè thu năm trước, trong đó Đông Nam bộ giảm 50,1 nghìn tấn (-9%), Duyên hải Nam Trung bộ giảm 14,4 nghìn tấn (-14,4%), Bắc Trung bộ giảm 60,67 nghìn tấn (-8,4%). Sản lượng giảm một phần do diện tích gieo cấy giảm, ảnh hưởng của hạn hán xảy ra trên diện rộng ở miền Nam nên một số diện tích thiếu nước không gieo sạ được đã chuyển sang trồng màu. Riêng lúa hè thu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đạt sản lượng 8,67 triệu tấn, tăng 100 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước, do tăng cả diện tích (mở rộng diện tích lúa vụ 3) và năng suất.

Lúa mùa: Theo đánh giá sơ bộ, ở các địa phương phía Bắc năng suất lúa mùa đều tăng hơn so vụ mùa 2004, ước tính đạt 46,3 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha (+1,8%), sản lượng 5,63 triệu tấn, tăng 20,1 vạn tấn (+0,4%). Sản lượng lúa mùa dự kiến tăng thấp, chủ yếu do diện tích giảm 18,7 nghìn ha so với vụ mùa năm trước, trong đó đồng bằng Sông Hồng giảm trên 10,7 nghìn ha (đầu vụ khô hạn, thiếu nước tưới nên một số diện tích đã được chuyển sang trồng cây khác hoặc gieo sạ lại). Mặt khác, trong vụ do ảnh hưởng của cơn bão số 2, số 3 và số 6 ở các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh đã có trên 50 nghìn ha lúa phải cấy lại và trên 124 nghìn ha bị ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỉ lệ đẻ nhánh thấp, kéo theo năng suất thấp trên những diện tích này. Ở các tỉnh phía Nam, ước tính diện tích lúa mùa đạt 834,5 ngàn ha, giảm 3,8%, do hạn hán. Hạn hán cũng là nguyên nhân tiếp tục làm giảm năng suất. Sản lượng ước tính đạt 3,04 triệu tấn, tăng 59,6 nghìn tấn (+0,2%) so với năm 2004, trong đó riêng đồng bằng sông Cửu Long sản lượng đã tăng 83,7 nghìn tấn, chủ yếu do tăng diện tích (giá lúa tăng cao nên người dân đã cải tạo đồng ruộng làm 1 vụ thuỷ sản, 1 vụ lúa mùa), bù lại sản lượng lúa mùa ở các vùng Duyên hải, Đông Nam bộ và Tây Nguyên đều giảm.

Sản xuất rau đậu và một số cây hàng năm khác tăng khá: Sản lượng rau đậu đạt 9,66 triệu tấn, tăng 6,9% so với năm 2004; sắn đạt 6,55 triệu tấn, tăng 12,5%;  đỗ tương 296,7 nghìn tấn, tăng 20,7%; lạc 485,4 nghìn tấn, tăng 3,5%; vừng 32,9 nghìn tấn, tăng 55%; bông tăng 9,6%; riêng sản lượng mía chỉ đạt 14,8 triệu tấn, bằng 94,5%.

Sản lượng các cây công nghiệp lâu năm đều tăng so với năm trước: Sản lượng chè búp đạt 534,2 nghìn tấn, tăng 4%; cao su 466,1 nghìn tấn, tăng 11,2%; hồ tiêu 78,5 nghìn tấn, tăng 6,9%; điều 226,4 nghìn tấn, tăng 10,6%; riêng sản lượng cà phê chỉ đạt 782,1 nghìn tấn, giảm 6,4%.  Sản lượng tăng chủ yếu do diện tích cho sản phẩm tăng, mặc dù thời tiết nắng hạn gay gắt, ảnh hưởng đến nguồn nước tưới.

Diện tích cây ăn quả đạt 766,1 nghìn ha, tăng 19,3 nghìn ha do chuyển dịch cơ cấu cây trồng và thực hiện chương trình cải tạo vườn tạp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó xoài tăng 1,2 nghìn ha; cam quýt tăng 4,5 nghìn ha. Sản lượng một số cây ăn quả ước tính cao hơn năm trước: cam quýt tăng 12,2%; dứa tăng 13,9%; xoài tăng 12,8%; bưởi tăng 15,7%.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/8/2005, đàn trâu cả nước có 2,9 triệu con, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng đàn trâu thịt; sản lượng thịt trâu xuất chuồng đạt 59,8 nghìn tấn, tăng 4%. Đàn bò có 5,54 triệu con, tăng 12,9%, trong đó đàn bò lai 1,3 triệu con, tăng 288 nghìn con, đàn bò sữa 104,1 nghìn con, tăng 8,3 nghìn con; sản lượng sữa tăng 30%; sản lượng thịt bò xuất chuồng đạt 142,2 nghìn tấn, tăng 18,7%. Đàn lợn có 27,43 triệu con, tăng 4,9%, trong đó đàn lợn thịt tăng 4,4%; sản lượng thịt lợn xuất chuồng đạt 2,29 triệu tấn, tăng 13,7%. Đàn gia cầm có 219,9 triệu con, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2004; ước tính sản lượng thịt gia cầm năm nay tăng 12%, sản lượng trứng tăng 11%. Đàn gia cầm đang được khôi phục nhưng tốc độ chậm, do tâm lý e ngại dịch cúm tái phát. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang triển khai tiêm phòng cho đàn gia cầm trên diện rộng.

Chăn nuôi gia súc năm 2005 trên địa bàn cả nước ổn định và phát triển nhanh do nguồn thức ăn dồi dào, nhu cầu thực phẩm thay thế sản phẩm gia cầm tăng và giá bán sản phẩm ổn định ở mức cao. Nhiều mô hình chăn nuôi với quy mô lớn được áp dụng ở hầu hết các địa phương như chăn nuôi bò lai lấy thịt, bò sữa sử dụng giống có chất lượng, lợn hướng nạc… Nét nổi bật của chăn nuôi gia súc năm nay là việc phát triển nhanh các mô hình chăn nuôi trang trại, tính đến 01/7/2005, cả nước có 3684 trang trại chăn nuôi, tăng 37% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, xu hướng chăn nuôi nhiều vật nuôi có giá trị kinh tế cao như dê, cừu, hươu, nai đang phát triển ở một số tỉnh như Hải Phòng, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Giang, Hưng Yên, Lâm Đồng, từ đó tạo thêm nguồn thực phẩm thay thế thịt gia cầm.

  1. Lâm nghiệp.

Nắng hạn kéo dài đã ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng. Diện tích rừng trồng tập trung 9 tháng đầu năm đạt 140,5 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán 170,6 triệu cây, bằng 100,1%. Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng (kể cả gỗ nguyên liệu giấy) tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng 9 tháng gặp nhiều khó khăn, thời tiết nắng hạn kéo dài trên diện rộng gây ra nhiều vụ cháy rừng, bên cạnh đó hiện tượng phá rừng vẫn diễn ra ở nhiều địa phương. Cả nước có 8770 ha rừng bị thiệt hại, tăng 69,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích bị cháy 7094 ha, một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là Kon Tum 1483 ha, Điện Biên 877 ha.

  1. Thuỷ sản.

Hoạt động thuỷ sản năm nay tuy gặp một số khó khăn về thời tiết và giá cả, nhưng nhờ có những giải pháp kịp thời nhằm động viên ngư dân yên tâm sản xuất và bám biển nên kết quả vẫn tăng so với năm trước. Sản lượng thuỷ sản 9 tháng năm nay ước tính đạt 2494 nghìn tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 1777 nghìn tấn, tăng 8,3%; tôm 314 nghìn tấn, tăng 11%. Sản lượng nuôi trồng đạt 948 nghìn tấn, tăng 15,5%, trong đó cá tăng 18,3%, tôm tăng 14,4%. Sản lượng khai thác tăng 3,5%, trong đó cá tăng 3,8%, tôm tăng 2,4%.

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 9 tháng đạt 943,2 nghìn ha, tăng 2,5%. Tuy nhiên, trong 9 tháng qua nuôi trồng thuỷ sản đã gặp không ít khó khăn: Một số tỉnh phía Bắc, Trung Nam Bộ và Tây Nguyên bị hạn nặng, mực nước các hồ không đủ để thả giống; ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng một bộ phận diện tích nuôi vụ 1 bị nhiễm mặn, phèn. Mặt khác, khó khăn trong xuất khẩu cá da trơn vào Mỹ và việc mở rộng diện tích nuôi ồ ạt đã làm giá thu mua cá tra, cá basa giảm nhiều so với cùng kỳ gây tâm lý chờ giá tăng, làm cho lượng cá quá lứa ngày càng nhiều; việc quy hoạch vùng nuôi, sản xuất và kiểm dịch giống thuỷ sản, cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thuỷ sản còn hạn chế…

Khai thác thuỷ sản 9 tháng ước tính đạt 1546 nghìn tấn tăng 3,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó, khai thác biển 1408 nghìn tấn tăng 3,8%. Vụ cá nam thời tiết thuận lợi và xuất hiện nhiều chủng loại cá (cá cơm, cá thu, cá ngừ đại dương) nên sản lượng khai thác đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá xăng dầu tăng đã ảnh hưởng đến sản lượng và hiệu quả khai thác thuỷ sản.

  1. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 9 tiếp tục tăng so với tháng 9 năm trước và tăng cao hơn mức tăng của công nghiệp 8 tháng. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 ước đạt 40,8 nghìn tỷ đồng (giá so sánh năm 1994), tăng 19,8% so với tháng 9 năm trước, trong đó doanh nghiệp Nhà nước tăng 8,1%; công nghiệp ngoài Nhà nước tăng 25%; công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 26,9% (dầu mỏ và khí đốt tăng 0,7% và các ngành khác tăng 33,6%). Một số sản phẩm công nghiệp tăng cao trong tháng 9 như: Đường mật tăng 224,3%; bia tăng 35,9%; vải lụa thành phẩm tăng 19%; quần áo may sẵn tăng 23%; quần áo dệt kim tăng 33,4%; giấy bìa các loại tăng 30,9%; gạch lát tăng 18,8%; thép cán tăng 39,9%; máy công cụ tăng 139,3%; ô tô lắp ráp tăng 65%…

Tính chung 9 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính đạt 308,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2004. Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,6% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 13,7%, doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý tăng 0,5%); công nghiệp ngoài Nhà nước tăng 24,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,2% (dầu mỏ và khí đốt giảm 8%, các ngành khác tăng 26,7%).

Trong ba ngành kinh tế cấp I, giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ và khai khoáng tăng 9% so với 9 tháng năm 2004 (tăng thấp so với mức tăng chung của công nghiệp, chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảm 9% và khí đốt thiên nhiên chỉ tăng 6,4%); Công nghiệp điện, khí đốt và nước tăng 14,6% (trong đó điện sản xuất tăng 14%); Công nghiệp chế biến tăng 17,7%, là mức tăng cao nhất so với hai ngành trên, đóng góp chính vào tăng công nghiệp cũng như tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Trong công nghiệp chế biến, sản lượng một số sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ và cao hơn mức tăng trưởng chung đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của ngành công nghiệp như thuỷ sản chế biến tăng 16,6%; phân hoá học tăng 38%; thép cán tăng 18,6%; ô tô lắp ráp tăng 46,9%. Các sản phẩm chủ yếu khác của nền kinh tế tuy không tăng hơn mức chung nhưng cũng có mức tăng khá như: quần áo may sẵn tăng 11,9%; giấy, bìa tăng 11,4%; thuốc trừ sâu tăng 13,7%; xi măng tăng 14,2%; gạch lát tăng 13,5%; máy công cụ tăng 16,1%; động cơ điện tăng 16%; xe máy lắp ráp tăng 14,7%… Tuy nhiên, trong các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, vẫn còn một số sản phẩm đạt thấp hơn mức sản xuất của cùng kỳ năm trước như đường mật, động cơ diezen, ti vi lắp ráp, xe đạp hoàn chỉnh…

Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn trong cả nước có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng cao như Hà Nội tăng 16,1%; Hải Phòng tăng 17,6%; Hải Dương tăng 31,2%; Quảng Ninh tăng 17,9%; Đà Nẵng tăng 18,8%; Bình Dương tăng 33,8%; Đồng Nai tăng 21,7%; riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất trong cả nước chiếm khoảng 26%, tăng 14%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 13%.

Sản xuất công nghiệp 9 tháng qua tăng trưởng ở mức tương đối cao, vượt tốc độ tăng 16% của kế hoạch năm và tăng cao so với các ngành kinh tế, đóng góp phần lớn vào tăng trưởng chung của nền kinh tế và đóng góp tới 80% vào tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm trong sản xuất công nghiệp là chất lượng tăng trưởng. Công nghiệp có xu hướng tăng cao ở khu vực ngoài quốc doanh, chủ yếu là tăng mở rộng qui mô sản xuất, tăng số doanh nghiệp mà chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô vừa và nhỏ với trình độ kỹ thuật và công nghệ có những hạn chế nhất định và tăng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; cả hai khu vực này đều phát triển nhanh các ngành công nghiệp gia công, lắp ráp, là những ngành có tỷ lệ chi phí trung gian cao. Qua điều tra doanh nghiệp công nghiệp những năm gần đây, tỷ lệ chi phí trung gian trong giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng qua các năm, bình quân mỗi năm tăng thêm hơn một điểm phần trăm, đồng nghĩa với tỷ lệ giá trị tăng thêm giảm. Mặt khác, các ngành gia công lắp ráp lại phụ thuộc nặng vào nguyên liệu nhập khẩu.

  1. Đầu tư­

Thực hiện vốn đầu tư­ phát triển 9 tháng năm 2005 theo giá thực tế ư­ớc tính đạt 226,7 nghìn tỷ đồng, bằng 75,6% kế hoạch năm. Trong tổng số, vốn Nhà nư­ớc chiếm 52,6%, vốn ngoài Nhà nước chiếm 30,2%, vốn đầu t­ư trực tiếp nư­ớc ngoài chiếm 17,2%.

 

Bảng 3. Thực hiện vốn đầu t­ư phát triển

9 tháng năm 2005

 

 

 Kế hoạch 2005    (Nghìn tỷ đồng)Ước thực hiện 9 tháng  2005
(Nghìn tỷ đồng)% so với kế hoạch nămTổng số = 100 (%)
Tổng số300,0226,775,6100,0
Vốn Nhà n­ước171,0119,269,752,6
Vốn ngoài Nhà nước86,068,579,730,2
Vốn đầu tư­ trực tiếp n­ước ngoài43,039,090,817,2

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước tập trung 9 tháng năm 2005 ước đạt 41,19 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị Trung ương 15,55 nghìn tỷ đồng bằng 78,1% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương 25,65 nghìn tỷ đồng bằng 80,1% kế hoạch năm.

Trong khối các đơn vị trung ương quản lý, Bộ giao thông vận tải chiếm 31,3% vốn đầu tư thực hiện 9 tháng đạt 84,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chiếm 10,2% và đạt 86,6%; Bộ Xây dựng chiếm 5,5% và đạt 74%. Các Bộ Thuỷ sản, Giáo dục Đào tạo và Y tế tỷ lệ thực hiện vốn còn thấp (từ 49,4- 53,8%).

Trong 9 tháng, nhiều công trình, dự án quan trọng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như: Đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1), Quốc lộ 6 đoạn Hoà Bình- Sơn La, Quốc lộ 2 đoạn Đoan Hùng-Thanh Thuỷ; Quốc lộ 38 đoạn nối cầu Yên Lệnh với Quốc lộ 1A; Quốc lộ 61 đoạn Vị Thanh-Phà Cái Tư); Quốc lộ 14E (km32-km79 và các cầu), Quốc lộ 32 (Vách Kim- Bình Lư); Quốc lộ 14B đoạn Hoà Cầm-Thạch Mỹ, Quốc lộ 100 (Km0-Km20); Quốc lộ 279 (đèo Chiến Thắng-Minh Thắng), đường Hồ Chí Minh đoạn Thanh Hoá-Hoà Bình; đường Si pa Phìn-Mường Nhé; Quốc lộ 27 (Km6-Km36), Quốc lộ 28; đường nối Quốc lộ 6 vào cảng 3 cấp; Quốc lộ 46 (Vinh-Nam Đàn); Cửa khẩu Mộc Bài thuộc dự án đường Xuyên Á; hầm đường bộ đèo Hải Vân… Các dự án trọng điểm nguồn điện đang bám sát tiến độ đề ra. Dự án đuôi hơi Phú Mỹ 2.1 mở rộng đang khẩn trương hoàn thành các công việc để tháng 12 đưa vào vận hành. Các dự án thuỷ điện đã cơ bản đáp ứng tiến độ đề ra.

Trong công nghiệp, ngành Điện đã mở rộng nhà máy điện Uông Bí: Toàn bộ công tác mua sắm và chế tạo thiết bị đạt được 93,7%, đã hoàn thành thi công đạt trên 60% khối lượng thiết kế. Đến cuối tháng 6/2005 đã hoàn thành đóng điện đường dây 500KV Đà Nẵng- Hà Tĩnh và trạm 500KV Hà Tĩnh mở rộng, dài 392 km. Hoàn thành đóng điện và đưa vào vận hành 230Km+ 1000MVA, đồng bộ với đường dây 220KV Cà Mau-Ô Môn, đường dây 220KV Vinh-Hà Tĩnh mạch 2, đường dây 220KV Bình Hoà-Tân Định-Trảng Bàng, trạm 220KV Trảng Bàng, mở rộng trạm 220KV phố Nối, mở rộng trạm 220KV Nam Định, mở rộng trạm 220KV Thái Nguyên, mở rộng trạm 220KV Mai Động… Ngành Than: Đã tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng như nâng cấp một số tuyến đường chính phục vụ cho liên lạc, vận chuyển vật tư và thiết bị. Hoàn thành đưa vào sử dụng Dự án Cải tạo, mở rộng cảng Cẩm Phả với tổng mức đầu tư khoảng 160 tỉ đồng, trong đó có nối dài thêm 250 m cầu cảng để tiếp nhận cùng một lúc 2 tầu có trọng tải lớn trên 3 vạn DWT vào nhận than. Đã hoàn thành và đưa vào vận hành sản xuất nhà máy xi măng Tam Điệp (công suất 1,4 triệu tấn/năm) trong quý 1 năm 2005, cân đối nhu cầu xi măng thêm khoảng 200 nghìn tấn.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 22/9/2005, trên phạm vi cả nước đã có 570 dự án mới được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 2643,9 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 10% về số dự án, nhưng tăng 64% về vốn đầu tư đã đăng ký; qui mô vốn đầu tư bình quân một dự án được cấp phép mới trong 9 tháng năm nay đã tăng lên 4,6 triệu USD, cao hơn mức bình quân 3,1 triệu USD của cùng kỳ. Trong các dự án, qui mô vốn bình quân dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ lớn hơn, do thu hút được các dự án vào bưu chính, viễn thông, xây dựng khu đô thị mới và xây dựng văn phòng… trong khi đó các dự án thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chủ yếu là các dự án qui mô nhỏ; các dự án công nghiệp không có thay đổi lớn về qui mô bình quân một dự án. Số dự án mới được cấp phép đầu tư thuộc thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng là 386 với số vốn đầu tư 1256,9 triệu USD, chiếm 67,7% số dự án và 47,6% số vốn đăng ký; lĩnh vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản 60 dự án và 109,3 triệu USD, 10,5% về dự án và 4,1% về vốn; lĩnh vực dịch vụ 124 dự án và 1277,66 triệu USD, chiếm 21,8% số dự án và 48,3% vốn đầu tư.

 

Bảng 4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép

từ đầu năm đến 22/9/2005

 

Số dự ánSố vốn đăng ký (Triệu USD)Tỷ lệ % của tổng sốVốn bình quân 1 dự án (Triệu USD)
Dự ánVốn đăng ký
TỔNG SỐ5702643,9100,0100,04,64
Công nghiệp và Xây dựng3861256,967,747,63,26
Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản60109,310,54,11,82
Dịch vụ1241277,721,848,310,3

Trong 9 tháng năm nay, 41 tỉnh, thành phố trong cả nước có dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép, trong đó 5 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép với tổng số vốn đầu tư trên 100 triệu USD và lần lượt theo số vốn đăng ký với thứ tự vốn từ cao xuống thấp: Hà Nội 1155,6 triệu USD (63 dự án), Đồng Nai 405,1 triệu USD (75 dự án), Bình Dương 235 triệu USD (104 dự án), thành phố Hồ Chí Minh 203,3 triệu USD (171 dự án) và Hải Phòng 113,3 triệu USD (13 dự án). Như vậy, qui mô bình quân một dự án đầu tư rất chênh lệch giữa các địa phương và dự án đầu tư 9 tháng năm nay vào thành phố Hồ Chí Minh là tương đối nhỏ.

Có 36 nước và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư mới vào Việt Nam. Các nước, vùng lãnh thổ có số vốn đăng ký đầu tư trên 200 triệu USD là: Luxembourg, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Nhật Bản. Hoa Kỳ và Xin-ga-po có các dự án đầu tư mới được cấp phép với số vốn đăng ký gần 100 triệu USD. Theo vốn đầu tư đăng ký từ cao xuống thấp, Luxembourg 770,5 triệu USD, Hàn Quốc 413 triệu USD, Hồng Kông 381,4 triệu USD, Đài Loan 272,9 triệu USD, Nhật Bản 220,5 triệu USD, Hoa Kỳ 95,7 triệu USD và Xin-ga-po 93,9 triệu USD.

Cũng trong 9 tháng năm nay, có 361 lượt dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được tăng vốn 1449,4 triệu USD, trong đó các dự án ngành công nghiệp và xây dựng tăng 1127,6 triệu USD; nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 132,6 triệu USD và dịch vụ tăng 189,2 triệu USD. Đã có 25 dự án của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài với số vốn đầu tư là 84,8 triệu USD (trong đó có 9 dự án của Lào, 3 dự án của Hoa Kỳ).

  1. Thương mại, giá cả và du lịch

Thị trường trong nước 9 tháng năm nay diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của biến động giá trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng dầu tăng mạnh đã làm tăng giá trong nước và hạn chế sức mua. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng theo giá thực tế ước tính đạt 344,28 nghìn tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức tăng trên 10%. Khu vực kinh tế Nhà nước đạt 45,37 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,2% tổng mức và chỉ tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, như vậy nếu loại trừ giá thì khu vực này giảm so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế tập thể đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 1%, tăng 20,7%; khu vực kinh tế cá thể đạt 211,95 nghìn tỷ đồng, chiếm 61,6%, tăng 19,2%; khu vực kinh tế tư nhân 70,19 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,4% và tăng 35,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,38 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,9% và tăng 32,9%. Xét theo ngành kinh doanh, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội ngành thương nghiệp chiếm 77,8% tổng mức và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng tăng 29%, ngành dịch vụ tăng 23,5%. Cụ thể như sau:

 

Bảng 5. Tổng mức bán lẻ hàng hoá

và dịch vụ xã hội 9 tháng năm 2005

Tổng mức (Nghìn tỷ đồng giá thực tế)Cơ cấu  (Tổng số =100) %Tốc độ tăng danh nghĩa so với 9 tháng 2004 (%)
TỔNG SỐ344,28100,019,7
Thương nghiệp267,8277,817,9
Khách sạn, nhà hàng44,4212,929,0
Dịch vụ29,528,623,4
Du lịch2,520,716,4

 

Giá tiêu dùng tháng 9/2005 so với tháng trước tăng 0,8% là mức tăng cao nhất từ tháng 3 năm nay và cũng là mức tăng cao so với tháng 9 các năm tính từ 2001 trở lại đây (tháng 9/2001 tăng 0,5%, tháng 9/2002 tăng 0,2%, tháng 9/2003 tăng 0,1% và tháng 9/2004 tăng 0,3%). Giá 8 trong 10 phân nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng với mức độ khác nhau. Do giá xăng dầu trên thị trường thế giới và xăng dầu nhập khẩu tăng liên tục và tăng ở mức cao suốt từ đầu năm đến nay, giá nhóm phương tiện đi lại, bưu điện đã tăng ở mức đáng kể (+3,8%), vượt xa mức tăng 0,4% của nhóm lương thực, thực phẩm và đã tác động mạnh đến giá tiêu dùng chung, góp 0,38 điểm phần trăm vào tăng giá tiêu dùng, gấp hai lần mức đóng góp của tăng giá nhóm lương thực, thực phẩm. Giá nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 1,7%; giáo dục tăng 1,3%; may mặc, giày dép, mũ nón tăng 0,6%. Riêng giá  nhóm đồ uống, thuốc lá và nhóm văn hoá thể thao, giải trí không tăng so với tháng trước.

So với tháng 12/2004, giá tiêu dùng tháng 9 năm 2005 tăng 6,8%, trong đó  giá của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng: một số nhóm giá tăng cao, đóng góp chính vào tăng giá tiêu dùng so với tháng 12/2004 như giá lương thực, thực phẩm tăng 8,4%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 9,8% (tháng 8/2005 tăng 5,8%); nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 7,2% (tháng 8/2005 tăng 5,4%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,5%;  nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,5%… So với cùng tháng năm trước, giá tiêu dùng tháng 9/2005 tăng 7,8%, cao hơn mức tăng 7,3% của giá tiêu dùng tháng 8.

Bảng 6. Chỉ số giá tiêu dùng

 

1/20052/20053/20054/20055/20056/20057/20058/20059/2005
So với tháng trước101,1102,5100,1100,6100,5100,4100,4100,4100,8
So với tháng 12/2004101,1103,6103,7104,3104,8105,2105,6106,0106,8
So với cùng tháng năm trước109,7109,1108,4108,5108,1107,6107,5107,3107,8

 

Giá vàng tháng 8/2005 tăng 1,6% so với tháng trước và giảm 1,4% so với tháng 12/2004 và tăng 8,7% so với tháng 9/2004. Giá đô la Mỹ tháng 9 giữ ở mức tháng trước, tăng 0,6% so với tháng 12/2004 và tăng 0,7% so với tháng 9/2004.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 9 tháng năm 2005 ước tính đạt 52,89 tỷ USD, tăng 20,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 23,5 tỷ USD, tăng 21,1% và nhập khẩu đạt 27,39 tỷ USD, tăng 19,2%. Khoảng cách giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu được thu hẹp dần, do nhập khẩu có xu hướng tăng chậm hơn xuất khẩu; nhập siêu 9 tháng 3,89 tỷ USD, bằng 16,6% kim ngạch xuất khẩu, là tỷ lệ tích cực hơn so với tỷ lệ 17,8% đã dự kiến cho 9 tháng 2004 và 23,5% đã dự kiến cho 9 tháng 2003.

Tổng giá trị xuất khẩu thực hiện trong tháng 9 ước tính đạt 2,8 tỷ USD, giảm nhẹ so với mức 3,06 tỷ USD đã thực hiện trong tháng 8, do kim ngạch các mặt hàng dầu thô, dệt may, giày dép, gạo và thuỷ sản đều đạt mức thấp hơn tháng 8, do thời vụ; tuy nhiên so với tháng 9 năm trước giá trị xuất khẩu tháng 9 tăng 24,1%. Tính chung 9 tháng năm nay, giá trị xuất khẩu ước tính đạt 23,5 tỷ USD, tăng 21,1% so với 9 tháng/2004, bình quân một tháng xuất khẩu 2,6 tỷ USD (bình quân 9 tháng 2004 2,1 tỷ USD và 9 tháng 2003 1,67 tỷ USD). Trong tổng kim ngạch, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước 10,17 tỷ USD, tăng 14,7%; xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 7,87 tỷ USD, tăng 22,5% và xuất khẩu dầu thô 5,45 tỷ USD, tăng 32,7%..

Trong 9 tháng năm nay, ngoài 4 mặt hàng chủ lực như dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản đạt kim ngạch khoảng 2 tỷ USD trở lên, có thêm 3 mặt hàng đạt kim ngạch cỡ 1 tỷ USD trở lên là gạo; gỗ và sản phẩm gỗ; hàng điện tử, máy tính. Xuất khẩu dầu thô 9 tháng tăng thêm 1,34 tỷ USD so với cùng kỳ, đóng góp tới 32,8% vào tăng giá trị xuất khẩu, chủ yếu do giá dầu thô trên thị trường quốc tế liên tục tăng lên mức kỷ lục và đứng ở mức cao. Giá bình quân một tấn dầu thô xuất khẩu trong 9 tháng tăng 46,4% so với giá xuất khẩu dầu thô bình quân cùng kỳ năm trước, do vậy chỉ riêng yếu tố tăng giá dầu thô đã làm tăng kim ngạch thêm 1,73 tỷ USD, trong khi lượng dầu thô xuất khẩu giảm 9,3%. Xuất khẩu gạo được cả giá và lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước châu Á. Xuất khẩu gạo 9 tháng là 1,18 tỷ USD, tương đương với lượng xuất khẩu 4,38 triệu tấn, tăng 52,5% về kim ngạch so với 9 tháng năm 2004 và tăng 32,6% về lượng. Giá xuất khẩu gạo bình quân 9 tháng tăng 15%. Xuất khẩu than đá đạt 437 triệu USD, tăng 78,9%, trong đó lượng xuất khẩu tăng 35,6%; kim ngạch gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,08 tỷ USD, tăng 44,4%; hàng điện tử, máy tính đạt 1 tỷ USD, tăng 32,2%.

Các mặt hàng chủ lực khác như dệt may, giày dép, thuỷ sản đã đạt được mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trong 8 tháng: Xuất khẩu hàng dệt may 3,53 tỷ USD, tăng 4,4%; xuất khẩu giày dép 2,22 tỷ USD, tăng 12,3% và thuỷ sản xấp xỉ 2 tỷ USD, tăng 13,1%. Tuy nhiên trong 9 tháng, lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như cà phê, hạt tiêu, điều và chè giảm, do vậy giá trị xuất khẩu tương ứng (trừ hạt điều giá tăng nhanh hơn) đều giảm sút so với 9 tháng năm trước (cà phê giảm 1,5%, hạt tiêu giảm 10,8%, chè giảm 15,3%). Hàng công nghiệp giảm mạnh là xe đạp và phụ tùng (-36%); dầu, mỡ động thực vật giảm 50,9%, đồ chơi trẻ em giảm 11,9% …

Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam 8 tháng vẫn ổn định và tăng so với cùng kỳ, nhất là các thị trường lớn và xuất hiện nhiều thị trường mới ở khu vực Châu Phi. Thị trường Hoa kỳ 3,77 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 18,2% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 16,3%, tăng mạnh ở mặt hàng gỗ và đồ gỗ xuất khẩu, giày dép và hải sản; hàng dệt may vào Mỹ có tỷ trọng lớn nhưng giảm trong 9 tháng. Thị trường Nhật Bản 2,83 tỷ USD, tăng 31,6% so với 9 tháng năm trước, trong đó thuỷ sản tăng 9,2%, dầu thô tăng 119,7%, dệt may tăng 15,8%, điện và dây cáp điện 30,9%… Thị trường Ôxtrâylia 1,6 tỷ USD, tăng 60%, trong đó mặt hàng lớn nhất là dầu thô tăng 66%, hải sản tăng 33% và hạt điều tăng 15,9%.

Thị trường AESAN 8 tháng tăng 43,8%, mặt hàng chủ yếu tăng là dầu thô, gạo, máy tính và linh kiện. Riêng thị trường EU 8 tháng tăng nhẹ (+4,4%), tương đương với tăng thêm 145 triệu USD. Tốc độ tăng thấp do sự giảm sút của mặt hàng giày dép; xe đạp, phụ tùng xe đạp; cà phê… Đáng lưu ý là một số thị trường lớn và tiềm năng thuộc khu vực này trong 8 tháng lại giảm như Đức, Anh… Thị trường EU giảm mạnh ở các mặt hàng như giày, dép; xe đạp và phụ tùng; cà phê.

Giá trị nhập khẩu 9 tháng năm 2005 đạt 27,39 tỷ USD, tăng 19,2% so với 9 tháng năm 2004, trong đó, khu vực kinh tế trong nước 17,55 tỷ USD, tăng 17,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 9,83 tỷ USD, tăng 23,1%. Tính đến nay, bình quân mỗi tháng nhập khẩu 3,04 tỷ USD.

Kim ngạch nhập khẩu của các nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất trong nước đều tăng, trong đó các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng trên 30% so với 9 tháng năm trước như xăng dầu, sắt thép, chất dẻo, giấy… Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do giá nhập khẩu một số mặt hàng có giá trị lớn vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao. Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu ước tính đạt 3,76 tỷ USD, tăng 47,8%; sắt thép 2,31 tỷ USD, tăng 30,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 1,22 tỷ USD, tăng 35,9%; vải 1,7 tỷ USD, tăng 19%; chất dẻo tăng 36,4%; hoá chất tăng 29,8%… Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tăng giá nên lượng nhập khẩu không tăng tương ứng hoặc giảm so với cùng kỳ: xăng dầu tăng 8,2%, sắt thép tăng 14,2%, chất dẻo tăng 10,5%… Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 3,83 tỷ USD, giảm nhẹ (-1,6%); nguyên phụ liệu dệt, may, da 1,64 tỷ USD, giảm 0,4%; bông giảm 8,9%; phân bón giảm 13,8% (lượng giảm 27,2%)… Riêng mặt hàng xe máy nhập khẩu 406 triệu USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ, trong đó xe máy nguyên chiếc nhập khẩu tăng 138,1% (số lượng nhập 31 nghìn chiếc, bằng 3,7 lần cùng kỳ).

Bảng 7. Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 9 tháng 2005

 

Tổng mức lưu chuyển ngoại thươngChia ra
Xuất khẩuNhập khẩu
 Triệu USD
Tổng trị giá 50,8823,5027,38
Khu vực kinh tế trong nước27,7210,1717,55
Khu vực có  đầu tư nước ngoài (cả dầu thô)23,1613,339,83
 Tốc độ tăng so với 9 tháng 2004 (%)
Tổng trị giá20,121,119,2
Khu vực kinh tế trong nước26,214,717,1
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài25,026,523,1

 

  1. Vận tải

Vận chuyển hành khách 9 tháng đầu năm 2005 ư­ớc tính đạt 950 triệu l­ượt hành khách và 40,1 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trư­ớc tăng 6,8% về lượt khách và tăng 11,5% về lượt khách.km. Vận chuyển hành khách trong nước, ngoài nước và do trung ương, địa phương quản lý; theo các loại đường vận tải đều tăng so với 9 tháng năm trước cả về số lượt khách và khách.km do tăng nhu cầu đi lại của dân cư, du lịch trong nước và đi ra nước ngoài cũng như từ nước ngoài đến tham quan, du lịch và nghỉ ngơi. Vận tải hành khách bằng đ­ường sắt tăng 3,2% về số lượt khách và tăng 7,1% về số lượt khách.km; bằng hàng không đạt 4,7 triệu lượt khách, tăng 24,7% và tăng 29,3% về khách.km. Vận tải hành khách bằng đường bộ chiếm 84,7% số khách, tăng 7,4%, chiếm 64,3% số khách.km, tăng 8,2%.

Vận chuyển hàng hoá đạt 237,4 triệu tấn và 59,2 tỷ tấn.km, so với 9 tháng năm 2004, tăng 7,0% về tấn và tăng 10,8% về tấn.km, như vậy cả hai chỉ số đều tăng hơn mức tăng của 9 tháng năm trước. Vận chuyển hàng hoá 9 tháng thuộc phạm vi ngoài nước có tỷ trọng lớn, chiếm trên 65% khối lượng hàng hoá luân chuyển và tăng mạnh (+13,9%) so với cùng kỳ năm trước, do lượng xuất, nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao làm tăng nhu cầu vận tải hàng hoá ra nước ngoài. Theo ngành, vận tải bằng đường biển vốn chiếm ưu thế trong vận tải hàng hoá đường dài, chiếm 77,5% tổng số tấn.km hàng hoá luân chuyển 9 tháng, tăng 12,3%, trong khi khối lượng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển tính theo tấn chỉ chiếm khoảng trên 11% và tăng 7,9%. Vận tải hàng hoá bằng đư­ờng sắt tăng 3% về tấn và tăng 3,2% về tấn.km; bằng đường bộ tăng 7,5% và tăng 7,8%; bằng đư­ờng sông tăng 5,7% và  tăng 4,1%.

Mặc dù trong 9 tháng giá xăng dầu tăng cao, gây áp lực tăng cước phí vận tải, nhưng các ngành vận tải đã xắp xếp lại hoạt động hợp lý và hiệu quả hơn như mở thêm các tuyến xe buýt liên tỉnh, các tuyến chất lượng cao, tăng chuyến, đổi mới các dịch vụ bổ trợ, giảm giá cước nhằm tăng sức cạnh tranh giữa các đơn vị… nên hoạt động vận tải 9 tháng đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, 9 tháng qua trật tự an toàn giao thông tiếp tục có những diễn biến phức tạp cần đ­ược khắc phục.

Hoạt động kinh doanh du lịch 9 tháng đầu năm nay phát triển khá. Khách du lịch tăng làm gia tăng các ngành dịch vụ liên quan như vận tải; khách sạn, nhà hàng; thương mại… Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 2,56 triệu người, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1,49 triệu, tăng 31,5%; thăm thân nhân 395,5 nghìn lượt người, tăng 11,1%; vì mục đích khác 323,8 nghìn lượt người, tăng 25,7%. Riêng khách vào vì công việc 352,7 nghìn lượt người, giảm 6,9%.

Khách đến Việt Nam từ Mỹ 253,4 nghìn lượt người, tăng 23,3%; từ Hàn Quốc 234,5 nghìn lượt người, tăng 54,6%; từ Nhật Bản 231,1 nghìn lượt người, tăng 21,5%, từ Đài Loan 213 nghìn lượt người, tăng 13,7%; từ Cam- pu-chia 139,2 nghìn lượt người, tăng 127,2%; từ Ô-xtrây-li-a 107,2 nghìn lượt người, tăng 17,3%. Đáng chú ý là trong 9 tháng năm nay, khách vào tăng mạnh (trên 50%) ở một số nước có tỷ trọng không lớn như từ Ma-lai-xi-a tăng 51,1%; từ  Xin-ga-po tăng 78,2%, từ Italia tăng 58,5%, từ Nga tăng 111,3% và từ Tây Ban Nha tăng 87,3%. Riêng khách đến từ CHND Trung Hoa vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, với 559,7 nghìn lượt người, nhưng lại giảm 3,9% (ngược hẳn với mức tăng 33,3% trong 9 tháng năm trước).

  1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
  2. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2005 ước tính 83,14 triệu người, tăng 1,35% so với năm 2004, trong đó dân số nam 40,86 triệu người, chiếm 49,1%; dân số nữ 42,28 triệu người, chiếm 50,9%. Dân số thành thị 21,97 triệu người, chiếm 26,4% và dân số nông thôn 61,17 triệu người, chiếm 73,6%.

Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tại thời điểm 1/7/2005 là 42,62 triệu người, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó lao động đang làm việc trong khu vực Nhà nước chiếm 10%; khu vực ngoài Nhà nước chiếm 88,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,7%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị năm 2005 là 5,1%, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm 2004.

Trong 9 tháng qua ước tính có 1,2 triệu người được giải quyết việc làm, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số người thuộc diện xuất khẩu lao động và chuyên gia là 50 nghìn người, tăng 5,2%. Ước tính đến cuối năm nay số lao động và chuyên gia xuất khẩu đạt 75 nghìn người, vượt 7% so kế hoạch đề ra.

  1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư 9 tháng năm nay nhìn chung ổn định. Các ngành và địa phương đã có những biện pháp thiết thực tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời thực hiện trợ cấp, phát thưởng kịp thời trong các dịp lễ, tết đã góp phần cải thiện đời sống người lao động. Ở nông thôn, do sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa, giá nông sản, thực phẩm tăng nên đời sống của đại đa số nông dân ổn định và được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và nhiều địa phương tiếp tục giảm, nhiều tỉnh đã không còn hộ đói. Tuy nhiên, một số địa phương do hạn hán kéo dài và do ảnh hưởng mưa, bão trong những tháng đầu năm nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng thiếu đói giáp hạt còn vẫn xảy đối với một bộ phận nông dân tại các tỉnh Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân đã trợ giúp khoảng 20 nghìn tấn lương thực  và 11,3 tỷ đồng.

Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công và các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ xác nhận người có công còn tồn đọng qua các thời kỳ cách mạng. Trong 9 tháng năm nay đã xác nhận mới cho trên 3 nghìn liệt sỹ, 600 cán bộ tiền khởi nghĩa, 7 nghìn thương binh và 1,7 nghìn người hoạt động kháng chiến bị tù đày. Thực hiện trợ cấp thường xuyên hàng tháng cho các đối tượng người có công khoảng 5 tỷ đồng. Công tác bảo trợ và cứu trợ xã hội cũng được các địa phương quan tâm: Trên 300 nghìn đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp thường xuyên, trong đó 103 nghìn người già cả, cô đơn không nơi nương tựa; 45 nghìn trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; 130 nghìn người tàn tật. 61 tỉnh, thành phố đã có Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam với số tiền gần 100 tỷ đồng.

  1. Văn hoá thông tin, thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa thông tin tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc như như đón Xuân Ất Dậu, Giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng, 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 30 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc, các hoạt động kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 và đặc biệt là Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành quần chúng kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đã được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình lịch sử với sự tham gia của trên 1 vạn người.

Công tác phát thanh, truyền hình được đẩy mạnh, thời lượng phát sóng và chất lượng của các chương trình ngày một nâng lên. Trong 9 tháng đầu năm 2005, thời lượng các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam tăng 87% so với cùng kỳ năm 2004 với số giờ phát sóng tăng 35%; số giờ chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam đã đạt 76,4% kế hoạch và số giờ phát sóng đạt 75,2%. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh. Hiện nay cả nước có khoảng 12,5 triệu gia đình được công nhận là gia đình văn hoá, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa tiếp tục được tăng cường. Trong 9 tháng qua, đã tiến hành kiểm tra khoảng 32 nghìn lượt cơ sở kinh doanh hoạt động dịch vụ văn hoá, phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm, trong đó đã rút giấy phép và đình chỉ hoạt động kinh doanh của 200 cơ sở, thu giữ hàng vạn băng đĩa hình, 300 đầu máy, ti vi, máy đánh bạc, đầu giải mã TVRO, 150 nghìn văn hoá phẩm vi phạm, phạt hành chính khoảng 5 tỷ đồng. Trong 9 tháng qua, các nhà xuất bản trong cả nước cũng đã xuất bản được 12 nghìn cuốn sách với 185 triệu bản, đạt 85% kế hoạch năm.

Hoạt động thể dục thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng thu hút hàng vạn người tham dự. Trong 9 tháng, ngành Thể dục Thể thao đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thành công một số giải thi đấu thể thao như: Giải bóng bàn Cúp Hội nhà Báo lần thứ VII; Đại hội Thể thao “Khoẻ vì an ninh tổ quốc” lần thứ V; Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số miền núi toàn quốc lần thứ IV ở các khu vực; Giải thể thao người khuyết tật toàn quốc, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”

Hoạt động thể thao thành tích cao tập trung chủ yếu vào công tác chuẩn bị lực lượng tham dự SEA Games 23 được tổ chức cuối năm nay tại Phi-líp-pin. Đến 15/9 đã triệu tập tập huấn gần 1 nghìn vận động viên, huấn luyện viên, chuyên gia của 32 môn thể thao sẽ tham dự SEA Games 23 tại các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia. Trong 9 tháng qua cũng đã tổ chức trên 100 giải thi đấu thể thao thành tích cao trong nước và tham dự nhiều giải quốc tế và đã đạt được kết quả cao, trong đó có một số thành tích đã đạt cấp châu lục.

  1. Giáo dục và đào tạo

Tổng kết năm học 2004-2005

Năm học 2004-2005 cả nước có 1484,7 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 96,22% và 744,4 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt 90,64%. So với năm học trước, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở năm nay cao hơn 0,12%, trong khi tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông lại thấp hơn 0,93%. Trong năm học qua cũng đã có 2422 học sinh đạt giải quốc gia trong kỳ thi học sinh giỏi lớp 12.

Số trường học, lớp học trong năm học vừa qua tăng so với năm học trước, trong đó trường mầm non, mẫu giáo tăng 4%; trường tiểu học tăng 1%; trung học cơ sở tăng 3,4% và trung học phổ thông tăng 9,9%. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú được củng cố, mở rộng với 13 trường Trung ương, 50 trường tỉnh; 266 trường huyện và 519 trường xã, cụm xã.

Quy mô học sinh tăng ở hầu hết các cấp học, trong đó số trẻ em đi nhà trẻ tăng 1,9%; học sinh mẫu giáo tăng 7,2%; học sinh trung học cơ sở tăng 0,7%; trung học phổ thông tăng 6,6%; riêng quy mô học sinh tiểu học giảm 7,2%. Năm học 2004-2005, cả nước có 112,8 nghìn giáo viên mẫu giáo; 362,4 nghìn giáo viên tiểu học; 302,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 106,1 nghìn giáo viên trung học phổ thông. So với năm học trước, số giáo viên mẫu giáo tăng 5,8%; giáo viên trung học cơ sở tăng 4,2%; giáo viên trung học phổ thông tăng 7,4%; riêng số giáo viên tiểu học giảm 1%. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên mức chuẩn năm học vừa qua cũng tăng so với năm học 2003-2004.

Bên cạnh những thành tích đạt được, trong năm học 2004-2005 cũng có những tồn tại như tình trạng thiếu giáo viên ở một số cấp học, nhất là giáo viên dạy giáo dục công dân, âm nhạc, mỹ thuật, thể dục, quốc phòng. Số trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp, hiện nay cả nước chỉ có 3,2% trường mẫu giáo, mầm non, 21,5% trường tiểu học, 3,9% trường trung học cơ sở và 3,8% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Ngoài ra, cả nước cũng chỉ có khoảng 50% số trường học đảm bảo quy định về diện tích đất và 25% số trường học có đủ các phòng chức năng, phòng thí nghiệm, thư viện theo yêu cầu trường đạt chuẩn quốc gia.

Về công tác phổ cập giáo dục, đến  tháng 7/2005 cả nước có 26 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cấp tiểu học đúng độ tuổi và 26 tỉnh đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Dự kiến đến cuối năm 2005, sẽ có thêm 9 tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 6 tỉnh đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

Tình hình khai giảng năm học 2005-2006:

Năm học 2005-2006, cả nước có 462,8 nghìn trẻ em đi nhà trẻ, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và đạt 9,6% tổng số trẻ em từ 0-2 tuổi; 2547 nghìn học sinh mẫu giáo, tăng 9,3% và đạt 68% số trẻ em từ 3-5 tuổi. Số học sinh tiểu học là 7651,3 nghìn em, giảm 2,7% so với năm học trước; học sinh trung học cơ sở 6712,3 nghìn em, tăng 1,4% và học sinh trung học phổ thông là 3134,4 nghìn em, tăng 13,5%. Số giáo viên tiểu học là 306,6 nghìn người; giáo viên trung học cơ sở là 295,1 nghìn người và giáo viên trung học phổ thông là 106,6 nghìn người. Nếu so với định mức chuẩn thì cả nước còn thiếu khoảng 8,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 24 nghìn  giáo viên trung học phổ thông.

Tình hình tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2005:

Kỳ thi tuyển sinh đại học năm nay được tổ chức theo 2 đợt: 98 cơ sở của 78 trường đại học, học viện tổ chức thi đợt 1 (cho khối A) và 89  trường đại học, học viện đã tổ chức thi đợt 2 (cho các khối B, C, D và năng khiếu). Số thí sinh dự thi đạt 74,9% thí sinh đăng ký, thấp hơn tỷ lệ 78% của kỳ tuyển sinh 2004. Mức điểm sàn cho kỳ tuyển sinh năm nay  là 15 điểm đối với khối A, khối B và 14 điểm đối với khối C, khối D. Đến nay các trường đã căn bản hoàn thành việc tuyển sinh, nhiều trường đã khai giảng và ổn định năm học mới.

  1. Tình hình dịch bệnh

Bệnh sốt rét: Trong tháng 9 có 7,5 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 2 người đã tử vong. Số trường hợp mắc bệnh sốt rét trong cả nước từ đầu năm đến nay là 59,7 nghìn trường hợp, trong đó 3 người đã tử vong, giảm 17% số người mắc bệnh so với cùng kỳ năm 2004.

Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng có 6,3 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó  10 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, cả nước có 26,5 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 28 người tử vong, giảm  46,5% số người mắc bệnh và giảm 62,2% số người tử vong so với cùng kỳ năm trước.

Bệnh cúm tuýp A-H5N1: Trong tháng 9 có 4 trường hợp mắc bệnh, trong đó 3 người đã tử vong. Tổng số mắc bệnh từ đầu năm đến nay là 64 trường hợp, trong đó 21 người đã tử vong. Tính từ trường hợp mắc bệnh cúm tuýp A-H5N1 đầu tiên ở nước ta (tháng 12/2003) đến nay, đã có 91 trường hợp mắc bệnh, trong đó 41 người đã tử vong.

Trong tháng cũng đã có 564 trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, trong đó 2 người tử vong; 153 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, tử vong 8 người. Tính từ đầu năm đến nay đã có trên 3,8 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, trong đó 7 người tử vong và 919 trường hợp bị viêm não vi rút, trong đó có 43 người tử vong.  So với 9 tháng năm 2004, số người mắc bệnh viêm gan vi rút giảm 12,4% và số người mắc bệnh viêm não vi rút giảm  30,3% (người chết do viêm não vi rút giảm 60,6%). Trong 9 tháng qua cũng đã có gần 2,6 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 49 người tử vong; so với cùng kỳ năm trước, số trường hợp ngộ độc tăng 33,8%; số người chết tăng 32,4%.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 9 đã phát hiện thêm 1,4 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến nay lên trên 99,7 nghìn người, trong đó có 16,3 nghìn bệnh nhân AIDS và 9,3 nghìn người đã chết do AIDS.

  1. Tai nạn giao thông

Trong tháng 8 (từ 21/7-21/8) đã xảy ra 1124 vụ tai nạn giao thông, làm chết 910 người và bị thương 976 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 1,4% nhưng số người chết tăng 2,4% và người bị thương tăng 2,7%. So với tháng 8/2004, tai nạn giao thông giảm 19,7% số vụ; giảm 9,5% số người chết và giảm 20,3% người bị thương. Tính chung 8 tháng đầu năm nay, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 9,9 nghìn vụ tai nạn, làm 7,7 nghìn người chết và 8,5 nghìn người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 18,5%, số người chết giảm 6% và người bị thương giảm 23,7%. Mặc dù tai nạn giao thông đã giảm so với cùng kỳ năm trước, nhưng số vụ tai nạn, số người chết và bị thương vẫn ở mức cao; bình quân 1 ngày trong 8 tháng năm nay xảy ra 41 vụ tai nạn, làm chết 32 người và làm bị thương 35 người. Đặc biệt thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.

  1. Thiệt hại do lụt bão

Từ đầu năm đến nay đã xảy ra mưa to, gió lốc, lũ, sạt lở đất, áp thấp nhiệt đới và bão tại nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có tới 5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào nước ta trong khoảng thời gian từ 31/7 đến 19/9 gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 143 người chết, và 226 người bị thương, trong đó Quảng Ninh chết 20 người; Yên Bái chết 18 người, Nghệ An 17 người, Hà Tĩnh 15 người. Thiên tai đã làm trên 30 nghìn mét đê bị sạt lở, cuốn trôi; khoảng 20 vạn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại; 18,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; trên 1,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hàng vạn nhà bị tốc mái và nhiều công trình kinh tế-xã hội khác bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại trên 950 tỷ đồng, trong đó Nghệ An 215 tỷ đồng; Hải Phòng trên 160 tỷ đồng.

Khái quát lại, tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2005 tiếp tục phát triển và ổn định. Các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực then chốt đạt kết quả cao hơn so với 9 tháng đầu năm trước. Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,1% là tốc độ tăng tương đối cao so với tốc độ tăng 9 tháng những năm gần đây. Tốc độ tăng xuất khẩu nhanh hơn nhập khẩu, vì vậy đã giảm được nhập siêu. Thu ngân sách đạt 82,3% dự toán năm 2005 và tăng 24,8% so với cùng kỳ, đã đảm bảo được những khoản chi theo dự toán và bôị chi ngân sách ở mức thấp so với GDP.  Tình hình xã hội ổn định; văn hoá, y tế, giáo dục tiếp tục phát triển.

Với xu hướng phát triển của các ngành kinh tế hiện nay, nếu Chính phủ tiếp tục chỉ đạo sát sao và các ngành, các cấp nỗ lực vượt bậc nhằm đẩy mạnh sản xuất, kiềm chế mức độ tăng giá tiêu dùng và ảnh hưởng của giá nhập khẩu một số nguyên liệu, vật tư quan trọng đến sản xuất trong nước, sản xuất công nghiệp quí IV có thể đạt tăng trưởng cao hơn quí III, cả năm đạt tốc độ tăng trên 17%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng trên 5%, tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng trên  20%; xuất khẩu tăng 20%. Chung lại, tốc độ tăng GDP quí IV trên 9%, cả năm sẽ tăng khoảng 8,4% so với năm 2004 và như vậy cơ bản sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng cho cả thời kỳ kế hoạch 5 năm 2001-2005.