1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/8/2008, cả nước đã gieo cấy được 1387,7 nghìn ha lúa mùa, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1140,7 nghìn ha, bằng 99,2%; các địa phương phía Nam gieo cấy 247 nghìn ha, bằng 107,9%. Các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ cơ bản đã gieo cấy xong. Một số địa phương miền núi phía Bắc do ảnh hưởng của mưa bão nên tiến độ gieo cấy chậm so với cùng kỳ năm trước (Lào Cai bằng 93,4%; Bắc Giang bằng 96,8%; Điện Biên bằng 96,3%; Sơn La bằng 88,6%).

Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam còn thu hoạch được 1284,5 nghìn ha lúa hè thu sớm, bằng 112,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1211 nghìn ha, bằng 111,4%. Các địa phương cũng đang tranh thủ thời tiết thuận lợi gieo trồng cây vụ mùa. Tính đến trung tuần tháng Tám, cả nước đã gieo trồng được 937,7 nghìn ha ngô, bằng 103,5% cùng kỳ năm trước; 131,3 nghìn ha khoai lang, bằng 93,8%; 441,9 nghìn ha sắn, bằng 117,6%; 221,6 nghìn ha lạc, bằng 101,6%; 145,3 nghìn ha đậu tương, bằng 89,9%; 682,5 nghìn ha rau đậu các loại, bằng 113,3%.

Do tích cực phòng chống và dập dịch nên chăn nuôi trong tháng có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên dịch lợn tai xanh và dịch cúm gia cầm vẫn xuất hiện tại một số địa phương. Tính đến ngày 24/8, cả nước còn 1 tỉnh có dịch cúm gia cầm (Bến Tre) và 6 tỉnh có dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày (Lào Cai, Phú Thọ, Quảng Trị, Phú Yên, Vĩnh Long và Trà Vinh).

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung tháng 8/2008 ước tính đạt 15,9 nghìn ha, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán đạt 13,1 triệu cây, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 368,5 nghìn m3, tăng 2,6%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2008, tổng diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 133,8 nghìn ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2007; số cây trồng phân tán đạt 138,7 triệu cây, bằng 99,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2052,9 nghìn m3, tăng 1,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong 8 tháng là 2313 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy 982 ha.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 8/2008 ước tính đạt 450,1 nghìn tấn, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 284 nghìn tấn, tăng 16,6%; khai thác 166,1 nghìn tấn, bằng 99,9%. Tính chung 8 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 3001,6 nghìn tấn, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước (Cá 2290,9 nghìn tấn, tăng 13,7%; tôm 314,7 nghìn tấn, tăng 2,9%), trong đó nuôi trồng đạt 1580 nghìn tấn, tăng 23,4%; khai thác đạt 1421,6 nghìn tấn, tăng 0,1%. Sản lượng thuỷ sản tuy vẫn tăng nhưng việc nuôi trồng và khai thác hải sản đang gặp khó khăn. Mặc dù Chính phủ đã có chủ trương cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản vay vốn để thu mua cá tra nguyên liệu của các địa phương nhưng lượng cá tồn đọng còn nhiều. Hiện nay An Giang đang tồn đọng 28 nghìn tấn; Cần Thơ 14 nghìn tấn; Vĩnh Long 12 nghìn tấn, Tiền Giang 6,3 nghìn tấn. Khai thác thuỷ sản tuy thuận lợi về thời tiết nhưng ngư dân vẫn đang gặp nhiều khó khăn do giá xăng, dầu tăng cao.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tuy gặp khó khăn do giá đầu vào tăng nhưng giá trị sản xuất tháng 8/2008 ước tính vẫn tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 đạt 438,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước 100 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% (Trung ương quản lý tăng 9,1%, địa phương quản lý giảm 1,6%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước 156,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 181,5 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,4%, các sản phẩm khác tăng 20,4%).

Những sản phẩm có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung là: Xe tải tăng 78%; xe chở khách tăng 73,6%; máy giặt tăng 41,5%; sữa bột tăng 34%; biến thế điện tăng 28,3%; tủ lạnh, tủ đá tăng 27,1%; tivi tăng 25,9%; xà phòng giặt tăng 24,1%; thủy hải sản chế biến tăng 22,8%; quần áo người lớn tăng 20,6%. Đáng chú ý là, một số sản phẩm quan trọng, có giá trị tăng thêm cao nhưng đạt tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là: Điện sản xuất tăng 12,4%; nước máy thương phẩm tăng 12,2%; xi măng tăng 11,1%; xe máy tăng 8,6%; phân hóa học tăng 7,3%; sơn hoá học tăng 5,6%; khí đốt thiên nhiên tăng 5,1%; thép tròn tăng 3,2%; than sạch tăng 2,6%; khí hóa lỏng giảm 19,2%; dầu thô giảm 6,3%.

Một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vẫn duy trì được tốc độ tăng 8 tháng cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Vĩnh Phúc tăng 35,3%; Hải Dương tăng 24,5%; Bình Dương tăng 24,3%; Đồng Nai tăng 20,8%; Hải Phòng tăng 18%; Cần Thơ tăng 17,4%. Những địa phương khác đạt tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là: Phú Thọ và Quảng Ninh cùng tăng 16,1%; Đà Nẵng tăng 15,1%; Hà Nội (mới) tăng 14,6%; Thanh Hoá tăng 13,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13%; Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 2,1%.

3. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tháng 8/2008 ước tính đạt 8,5 nghìn tỷ đồng, bằng 8,7% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, bằng 7,8%; vốn địa phương đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1%. Tính chung 8 tháng đầu năm, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện được 56 nghìn tỷ đồng, bằng 57,1% kế hoạch năm, trong đó vốn Trung ương 17,1 nghìn tỷ đồng, bằng 51,7%; vốn địa phương 38,9 nghìn tỷ đồng, bằng 59,8%.

Trong 8 tháng, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện được 1147,1 tỷ đồng, bằng 68,8% kế hoạch năm; Bộ Công thương 154,2 tỷ đồng, bằng 65,1%; Bộ Y tế 576,2 tỷ đồng, bằng 61,8%; Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch 268,4 tỷ đồng, bằng 60,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 652,7 tỷ đồng, bằng 58,3%; Bộ Giao thông Vận tải 2967,2 tỷ đồng, bằng 47,2%;  Bộ Xây dựng 78,5 tỷ đồng, bằng 22,3%.

Một số địa phương có tiến độ thực hiện nhanh là: Lâm Đồng 745,6 tỷ đồng, bằng 94,6% kế hoạch năm; Quảng Trị 644,7 tỷ đồng, bằng 83,4%; Yên Bái 478,9 tỷ đồng, bằng 81,8%; Thái Nguyên 457,5 tỷ đồng, bằng 72% ; Bà Rịa-Vũng Tàu 1413,2 tỷ đồng, bằng 71,3%; Ninh Thuận 371,8 tỷ đồng, bằng 70,6%; Đà Nẵng 1605,3 tỷ đồng, bằng 66,1%.

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước 8 tháng đầu năm nay đạt thấp do giá cả biến động, công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn, khâu tổ chức thực hiện việc tách các tiểu dự án giao cho địa phương làm chủ đầu tư còn lúng túng, việc triển khai các văn bản hướng dẫn xử lý biến động giá cả vật liệu xây dựng chậm.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt khá, trong tháng 8/2008 cả nước có 118 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 1,8 tỷ USD, nâng tổng số dự án cấp mới từ đầu năm đến 22/8/2008 lên 772 dự án với tổng số vốn đăng ký 46,3 tỷ USD, tuy giảm 20,8% về số dự án nhưng tăng 416,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính thêm 833,7 triệu USD vốn đăng ký bổ sung của 210 lượt dự án được cấp phép các năm trước thì 8 tháng cả nước đã thu hút được 47,2 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 349,7% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện 8 tháng đầu năm ước tính đạt 7 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm 2007.

Trong 8 tháng đầu năm, các dự án mới được cấp phép tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ với 23,6 tỷ USD, chiếm 51% tổng vốn đăng ký; công nghiệp và xây dựng 22,5 tỷ USD, chiếm 48,6%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 200,9 triệu USD, chiếm 0,4%.

Các dự án được cấp phép trong 8 tháng thuộc 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó Bà Rịa-Vũng Tàu có số vốn đăng ký dẫn đầu với 9,3 tỷ USD, chiếm 20,2% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Thành phố Hồ Chí Minh 7,9 tỷ USD, chiếm 17,1%; Hà Tĩnh 7,9 tỷ USD, chiếm 17%; Thanh Hóa 6,2 tỷ USD, chiếm 13,4%; Phú Yên 4,3 tỷ USD, chiếm 9,4%; Kiên Giang 2,3 tỷ USD, chiếm 5%.

Trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Đài Loan dẫn đầu với 8,6 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đăng ký; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, chiếm 15,7%; Ma-lai-xi-a 5 tỷ USD, chiếm 10,9%; Bru-nây 4,4 tỷ USD, chiếm 9,5%; Ca-na-đa 4,2 tỷ USD, chiếm 9,1%; Xin-ga-po 4 tỷ USD, chiếm 8,7% ; Thái Lan gần 4 tỷ USD, chiếm 8,6% ; Quần đảo Virgin thuộc Anh 3,1 tỷ USD, chiếm 6,7%; Hoa Kỳ 1,4 tỷ USD, chiếm 3%.

Nguồn vốn ODA được ký kết với các nhà tài trợ từ đầu năm đến 22/8/2008 đạt 1,7 tỷ USD, trong đó vốn vay đạt 1,5 tỷ USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 179,5 triệu USD. Giải ngân vốn ODA 8 tháng đạt 1,3 tỷ USD, bằng 69% kế hoạch năm 2008, trong đó vốn vay đạt 1,1 tỷ USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 170 triệu USD.

4. Thương mại, dịch vụ

Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2008 ước tính đạt 81,7 nghìn tỷ đồng, nâng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng lên 609,2 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2007. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng chỉ tăng 6,4%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng, kinh doanh thương nghiệp đạt 501,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 82,3%; khách sạn, nhà hàng đạt 69,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4%; du lịch đạt 8 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3%; dịch vụ đạt 30,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 5%.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 8/2008 tăng 1,56% so với tháng trước, cao hơn mức tăng 1,13% của tháng 7 do giá xăng dầu tăng cuối tháng 7 đã ảnh hưởng đến giá tiêu dùng tháng này, trong đó giá nhóm phương tiện đi lại, bưu điện chịu tác động trực tiếp nên tăng mạnh ở mức 9,07% (Tháng 7 tăng 0,55%), giá của các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng nhẹ. Nhóm hàng hoá và dịch vụ có giá giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng của tháng trước là: Lương thực giảm 1,1%; thực phẩm tăng 0,53%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,67%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,11%; dược phẩm, y tế tăng 1,23%. Nhóm hàng hoá và dịch vụ có giá tăng cao hơn mức tăng của tháng trước là: Giáo dục tăng 1,16%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 1,08%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,18%. So với cùng kỳ năm trước, giá tiêu dùng tháng 8/2008 tăng 28,32%; so với tháng 12/2007, giá tiêu dùng tháng 8/2008 tăng 21,65%. Giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2008 so với 8 tháng năm 2007 tăng 22,14%.

Giá vàng tháng 8/2008 giảm 2,96% so với tháng trước, tăng 39,96% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,44% so với tháng 12/2007. Giá đô la Mỹ tháng 8/2008 giảm 2,96% so với tháng trước, tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,78% so với tháng 12 năm trước.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8/2008 ước tính đạt 6,1 tỷ USD, tăng 40,6% so với cùng kỳ năm trước, nhưng giảm 6,8% so với tháng 7/2008, chủ yếu do trong tháng không tiếp tục tái xuất thép và vàng (7 tháng đầu năm, trị giá sắt, thép tái xuất 1,5 tỷ USD; trị giá vàng tái xuất 339 triệu USD); đồng thời do giá một số mặt hàng khoáng sản và nông sản như gạo, cà phê, cao su trên thị trường thế giới giảm so với tháng trước. Tính chung 8 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 43,3 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 19,6 tỷ USD, tăng 43,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô đạt 15,8 tỷ USD, tăng 28%; dầu thô đạt 7,9 tỷ USD, tăng 53,3%.

Trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó 10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: Dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính, cà phê, cao su và than đá. Xuất khẩu dầu thô đạt 9 triệu tấn, tương đương 7,9 tỷ USD, giảm 10,8% về lượng và tăng 53,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; hàng HHdệt may đạt 6 tỷ USD, tăng 20%; giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 18,5%; hàng thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,8%; gạo đạt 3,4 triệu tấn, tương đương 2,2 tỷ USD, giảm 4,8% về lượng và tăng 96,1% về kim ngạch; sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, tăng 20,5%; cà phê đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9,2%; cao su đạt 1 tỷ USD, tăng 30,5%; than đá đạt 1 tỷ USD, tăng 52,8%. Nhìn chung giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng 8 tháng năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá của 5 mặt hàng gồm dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao su và trị giá tái xuất thép và vàng thì tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 8 tháng chỉ tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2007.

Tính riêng 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt kim ngạch cao nhất với 6,8 tỷ USD, tăng 44,3% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt 6,6 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm 2007 gồm các mặt hàng chính như: hàng dệt may đạt 2,9 tỷ USD, tăng 17,7%; giày dép đạt 576 triệu USD, tăng 11%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 593 triệu USD; dầu thô đạt 573 triệu USD; riêng hàng thuỷ sản chỉ đạt 342 triệu USD, giảm 13,1%, chủ yếu do xuất khẩu tôm, cá tra và cá basa giảm. Xuất khẩu sang thị trường EU đạt 6,3 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giày dép đạt 1,5 tỷ USD, tăng 16,4%; hàng dệt may đạt 965 triệu USD, tăng 22,3%. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Ôx-trây-li-a đạt 2,7 tỷ USD, tăng 71,6% và thị trường Trung Quốc đạt 2,6 tỷ USD, tăng 45,8%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 8/2008 ước tính 7 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước và giảm 4,1% so với tháng trước, chủ yếu do giá nhập khẩu nhiều mặt hàng tháng này có xu hướng giảm, trong đó giá xăng dầu giảm 6,4%; phôi thép giảm 5,2%; phân bón giảm 28,2%; giấy giảm 7,2%. Tính chung kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 8 tháng ước tính 59,3 tỷ USD, tăng 54,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước 40,1 tỷ USD, tăng 65,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 19,2 tỷ USD, tăng 41,3%. Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng vẫn đạt kim ngạch cao nhất với 9,6 tỷ USD, tăng 41,6% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu 9,1 tỷ USD, tăng 94,3%; sắt thép 5,5 tỷ USD, tăng 81,3%, trong đó phôi thép 1,5 tỷ USD, tăng 118,1%; vải 3 tỷ USD, tăng 18,2%; điện tử máy tính và linh kiện 2,3 tỷ USD, tăng 32,5%; chất dẻo 2,1 tỷ USD, tăng 40,3%; ô tô nguyên chiếc 44,3 nghìn chiếc, tương đương 843 triệu USD, tăng 223,6% về lượng và tăng 206,3% về kim ngạch. Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 8 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước một mặt do lượng nhập khẩu tăng, mặt khác do giá nhập khẩu tăng, nếu loại trừ yếu tố tăng giá của 5 mặt hàng gồm xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo và giấy thì kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 8 tháng ước tính 53,2 tỷ USD, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm 2007.

Nhập siêu tháng 8/2008 ước tính 900 triệu USD, cao hơn mức 753 triệu USD của tháng 7. Tính chung 8 tháng năm nay nhập siêu 16 tỷ USD, bằng 36,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, gấp hơn 2 lần mức nhập siêu cùng kỳ năm 2007.

Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận chuyển hành khách 8 tháng ước tính đạt 1254,4 triệu lượt khách và 57,8 tỷ lượt khách.km, tăng 11,6% về lượt khách và tăng 9,3% về lượt khách.km so với cùng kỳ năm trước. Các đơn vị vận tải do trung ương quản lý vận chuyển 23,2 triệu lượt khách và đạt 14,6 tỷ lượt khách.km, tăng 15,7% về lượt khách và tăng 5,5% về lượt khách.km; các đơn vị vận tải do địa phương quản lý vận chuyển 1231,2 triệu lượt khách và đạt 43,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5% về lượt khách và tăng 10,6% về lượt khách.km.

Trong các ngành vận tải, vận chuyển hành khách đường bộ đạt 1130,9 triệu lượt khách và 41,4 tỷ lượt khách.km, tăng 12,5% về lượt khách và tăng 10,1% về lượt khách.km so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 104,6 triệu lượt khách và 2,1 tỷ lượt khách.km, tăng 3,9% và tăng 4,3%; đường hàng không đạt 7,1 triệu lượt khách và 10,9 tỷ lượt khách.km, tăng 14,7% về lượt khách và tăng 11,7% về lượt khách.km. Riêng vận chuyển hành khách bằng đường sắt giảm 2,9% về số lượt khách và giảm 4,1% về số lượt khách.km.

Vận chuyển hàng hóa 8 tháng đầu năm ước tính đạt 391 triệu tấn và đạt 113,9 tỷ tấn.km, tăng 11,9% về số tấn và tăng 39,9% về số tấn.km so với cùng kỳ năm 2007. Vận tải hàng hóa của các ngành vận tải đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải đường bộ đạt 275,9 triệu tấn và 14,3 tỷ tấn.km, tăng 12,5% về khối lượng vận chuyển và tăng 18,7% về khối lượng luân chuyển; vận tải đường biển đạt 36,2 triệu tấn và 92,9 tỷ tấn.km, tăng 28% và tăng 47%; đường sông đạt 72,8 triệu tấn và 3,5 tỷ tấn.km, tăng 3,8% và tăng 4,1%; đường sắt tăng 2,4% và tăng 14,5%.

Bưu chính, viễn thông

Hoạt động của ngành Bưu chính, Viễn thông nhìn chung có mức tăng trưởng ổn định. Số thuê bao điện thoại phát triển mới trong tháng Tám ước tính đạt 2,3 triệu máy, 8 tháng đầu năm đạt 15,3 triệu thuê bao, tăng 14,9% so với 8 tháng năm 2007. Tính đến hết tháng 8/2008, ước tính cả nước có 67,1 triệu thuê bao điện thoại, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 36,9 triệu thuê bao. Số thuê bao internet phát triển mới 8 tháng ước tính đạt 952,8 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao internet đến hết tháng 8/2008 lên 6,2 triệu thuê bao. Số người sử dụng internet tính đến cuối tháng 8/2008 ước tính 20,7 triệu người, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó số người sử dụng internet của Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông 16,2 triệu người, tăng 87%. Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông 8 tháng ước tính đạt 38,7 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 30,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6%.

5.Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2008 ước tính đạt 78,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 72,8%; thu từ dầu thô đạt 80,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 94%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 71,7%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 62,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 66,8%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 90,4%; thu phí xăng dầu đạt 60,8%; thu phí, lệ phí đạt 61,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2008 ước tính đạt 66,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 58,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 57,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương) đạt 66,8%; chi trả nợ và viện trợ đạt 66,3%.

6. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Tám, cả nước có 22,3 nghìn hộ với 104,4 nghìn nhân khẩu trong diện thiếu đói, chiếm 0,19% số hộ và chiếm 0,21% số nhân khẩu nông nghiệp. So với tháng 7/2008, số hộ thiếu đói giảm 77% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 70%, chủ yếu do vụ đông xuân được mùa và công tác hỗ trợ cứu đói được triển khai kịp thời. Tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ năm 2007, số hộ thiếu đói vẫn tăng 2,56% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 2,75% do giá tiêu dùng tăng đã ảnh hưởng đến đời sống nông dân. Để hỗ trợ nông dân khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức đã trợ giúp cho các hộ thiếu đói 30,9 nghìn tấn lương thực và 10,2 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Dịch sốt xuất huyết tiếp tục tăng mạnh và diễn biến phức tạp, tập trung chủ yếu tại các địa phương vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Trong tháng 8/2008, cả nước đã có 39 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xuất hiện dịch sốt xuất huyết với 14 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 9 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, cả nước đã có 36,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 33 người đã tử vong.

Cũng trong tháng Tám, cả nước có khoảng 900 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; hơn 100 trường hợp mắc bệnh viêm não virút; 390 trường hợp mắc tiêu chảy cấp, trong đó có 73 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả và 435 trường hợp ngộ độc thực phẩm. Tính chung 8 tháng đã có gần 4 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; hơn 500 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (8 người đã tử vong); 4,5 nghìn trường hợp mắc tiêu chảy cấp nguy hiểm, trong đó có 722 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả và 6,4 nghìn trường hợp ngộ độc thực phẩm (47 người đã tử vong).

Số người nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng, trong tháng Tám đã phát hiện thêm 1,4 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 16/8/2008 lên 171,9 nghìn người, trong đó 67,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 40,2 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Uỷ ban ATGT quốc gia, trong tháng 7/2008 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1032 vụ tai nạn giao thông, làm chết 923 người và làm bị thương 624 người, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 93,51% số vụ, 97,18% số người chết và 96,15% số người bị thương. So với tháng 7/2007, tai nạn giao thông giảm 163 vụ, số người chết giảm 126 người, số người bị thương giảm 318 người.

Tính chung 7 tháng đầu năm 2008, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 7494 vụ tai nạn giao thông, làm chết 6844 người và làm bị thương 4902 người. So với 7 tháng đầu năm 2007, tai nạn giao thông đã giảm tương đối nhanh: Số vụ tai nạn giảm 1368 vụ, số người chết giảm 1115 người, số người bị thương giảm 1957 người. Bình quân một ngày trong 7 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 35 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 23 người. So với bình quân một ngày của 7 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giao thông giảm 7 vụ; số người chết giảm 5 người và số người bị thương giảm 9 người.

Thiệt hại thiên tai

Trong tháng Tám năm 2008, bão số 4 và gió lốc đã làm 19 tỉnh bị thiệt hại. Đặc biệt bão số 4 gây mưa to trên diện rộng làm xuất hiện lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ bị thiệt hại nặng nhất.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương công bố ngày 25/8/2008, tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc (Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn), bão số 4 đã làm 130 người chết; 32 người mất tích và 90 người bị thương; 27,2 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập úng; 27,6 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 11,5 nghìn ngôi nhà bị đổ và ngập nước, trong đó Lào Cai có 49 người chết; 30 người mất tích và 53 người bị thương. Tổng giá trị thiệt hại tại 11 tỉnh ước tính 1870 tỷ đồng, trong đó Lào Cai thiệt hại 985 tỷ đồng; Yên Bái 438 tỷ đồng; Phú Thọ 300 tỷ đồng.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục hậu quả trong đợt mưa, lũ sau bão số 4 tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Văn phòng Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương đã chủ trì họp với các Bộ, ngành liên quan để thống nhất phương án hỗ trợ các tỉnh bị thiệt hại, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo phương án,  220 tỷ đồng sẽ được trích từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2008 để hỗ trợ cho các địa phương, trong đó Lào Cai 80 tỷ đồng; Yên Bái 60 tỷ đồng; Phú Thọ 40 tỷ đồng; Hà Giang 20 tỷ đồng; Tuyên Quang 10 tỷ đồng và Sơn La 10 tỷ đồng. Phương án cũng đề xuất hỗ trợ 400 tấn gạo cho 2 tỉnh Yên Bái và Phú Thọ. Tổng công ty lương thực miền Bắc được chỉ đạo điều chuyển 70 tấn gạo để cấp ngay cho tỉnh Lào Cai. Hiện nay, công tác cứu trợ đang được các cấp, các ngành chủ động triển khai, khẩn trương chuyển hàng cứu trợ nhằm giúp người dân khắc phục hậu quả sau bão, nhanh chóng ổn định đời sống và tiếp tục sản xuất.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ