1. Sản xuất nông nghiệp
Trong tháng 8 trọng tâm của sản xuất nông nghiệp là gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch lúa hè thu nhìn chung tiến độ chậm hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 15/8/2001 cả nước gieo cấy được 1591,7 nghìn ha, bằng 92,9% so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1244,3 nghìn ha, bằng 98,4%, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng 520 nghìn ha, bằng 98,4%, vùng bắc Trung Bộ 210,5 nghìn ha, bằng 89,5%. Các địa phương phía Nam gieo cấy 347,4 nghìn ha, bằng 77,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 114,9 nghìn ha, bằng 56%.

Thời tiết không thuận lợi với những đợt mưa to kéo dài đầu tháng 8 đã làm nhiều diện tích lúa mùa mới gieo cấy của một số địa phương phía Bắc bị ngập nặng, trọng tâm là vùng đồng bằng sông Hồng: Bắc Ninh 10,5 nghìn ha; Hà Tây 6,3 nghìn ha; Hải Dương 16,3 nghìn ha; Hưng Yên 14,5 nghìn ha và Hà Nội 6,5 nghìn ha. Hiện nay nước đã rút nhưng thời tiết lại chuyển sang nắng nóng làm khoảng 12 nghìn ha lúa ngâm trong nước bị chết, phải gieo cấy lại.
Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam tiếp tục thu hoạch lúa hè thu chính vụ. Tính đến trung tuần tháng 8 các tỉnh phía Nam đã thu hoạch được 1099,4 nghìn ha, bằng 84,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long đạt 1016,8 nghìn ha, bằng 89,8%.

Nhìn chung vụ hè thu năm nay thời tiết không thuận lợi, đầu vụ nắng nóng kéo dài gây hạn hán ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, trong khi đó kết thúc thời vụ thu hoạch lúa đông xuân năm nay chậm hơn mọi năm làm ảnh hưởng đến tiến độ khâu làm đất nên một số diện tích phải xạ chay, vì vậy năng suất lúa hè thu chính vụ năm nay có thể bị ảnh hưởng.

Cùng thời điểm này cả nước đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ gieo cấy các loại cây trồng khác như: Ngô 626 nghìn ha, bằng 99,8% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 226,3 nghìn ha, bằng 94,6%; sắn 249,4 nghìn ha, bằng 109,1%. Diện tích gieo trồng cây công nghiệp ngắn ngày đạt 410,6 nghìn ha, bằng 101% so với cùng kỳ năm trước (lạc 201,6 nghìn ha, bằng 95,5%; đậu tương 106,5 nghìn ha, bằng 110,9%; thuốc lá 22,9 nghìn ha, bằng 113,4%; mía trồng mới 42,5 nghìn ha, bằng 131,6%).

2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng 8 vẫn duy trì được mức độ tăng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 13% (trung ương quản lý tăng 13,1%; địa phương quản lý tăng 12,8%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 24,6%; khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài tăng 10,5% (dầu mỏ và khí đốt tăng 0,5%; các ngành khác tăng 15%).

Tính chung 8 tháng đầu năm 2001, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,6% (trung ương quản lý tăng 12,1%, địa phương quản lý tăng 10,6%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,4% (dầu mỏ và khí đốt tăng 12,9%, các ngành khác tăng 15%).

Một số địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp tương đối lớn đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ năm trước như Hải Phòng tăng 19,7%; Quảng Ninh tăng 16,2%; Đà Nẵng tăng 20,7%; Khánh Hòa tăng 21,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 16,1%; Bình Dương tăng 30,6%; Đồng Nai tăng 14,4%; Cần Thơ tăng 22,4%. Riêng thành phố Hà Nội đạt mức tăng 8,4%, thấp hơn mức tăng trung bình của cả nước.

Đóng góp có tính quyết định cho mức tăng trưởng khá cao của ngành công nghiệp trong 8 tháng đầu năm là các ngành nhiên liệu năng lượng, công nghiệp phục vụ cho xây dựng, thuỷ sản xuất khẩu, chế biến thực phẩm, lắp ráp ô tô và điện tử tin học.

Nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng đạt mức tăng trưởng cao như: Sản xuất than sạch 8 tháng tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự: Thuỷ sản chế biến tăng 26,6%; xà phòng giặt tăng 25,6%; xe máy tăng 14,6%; gạch lát tăng 40,5%; thép cán tăng 21,9%; quạt điện dân dụng tăng 31,1%; điện phát ra tăng 14,4%.

Ngoài các mặt hàng quan trọng có mức tăng trưởng cao như trên, một số sản phẩm cơ khí chế tạo cũng đạt mức tăng trưởng cao do ký được hợp đồng tiêu thụ như: Động cơ điện tăng 15,3%; máy biến thế tăng 24,5%.

Tuy sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm tính chung đạt mức tăng trưởng khá cao, nhưng cũng còn nhiều ngành hàng, mặt hàng vẫn trong tình trạng khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ nên tốc độ tăng chậm hoặc giảm như vải lụa tăng 2,1%; phân hóa học giảm 7,5%; hàng may sẵn tăng 5,6%; bia tăng 6,7%; sứ vệ sinh tăng 2,5%; đường mật giảm 23,5%.

3. Đầu tư và xây dựng
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 8 tháng đầu năm 2001 đạt tiến độ tương đối tốt, theo ước tính thực hiện 13256,9 tỷ đồng, đạt 64,5% kế hoạch năm, cao hơn thực hiện 8 tháng đầu năm 2000 là 3,2%, mặc dù kế hoạch năm 2001 cao hơn năm 2000 khoảng 5000 tỷ đồng, trong đó vốn trung ương quản lý thực hiện 9271,9 tỷ đồng đạt 68,6%; vốn địa phương quản lý 3985,0 tỷ đồng, đạt 56,7%.

Từ đầu năm đến nay ngành điện đã hoàn thành và hoà vào lưới điện quốc gia 6 tổ máy của các nhà máy thuỷ điện Yaly, HàmThuận, Đa Mi và nhiệt điện Phú Mỹ với tổng công suất 1375 MW; hoàn thành 544 km đường dây 220KV, 315 km đường dây110KV và nhiều trạm biến thế với tổng công suất 1306KVA. Ngành giao thông vận tải đã thông xe kỹ thuật toàn bộ tuyến Hà Nội -Lạng Sơn, đoạn Thường Tín-Cầu Giẽ; nút giao thông nam cầu Chương Dương; hoàn thành các cầu Sông Phan, Phú Qưới, Lộc Hà, Ngân Sơn, Sa Đéc… Khánh thành cầu cảng Cần Thơ và cảng Vũng Áng. Ngành nông nghiệp đã đắp trên 2,1 triệu m3 đê, đạt 90% kế hoạch năm, trồng 16,5 vạn ha rừng, đạt 84% kế hoạch năm và chăm sóc 13,8 vạn ha rừng.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đầu năm đến 20/8 đã cấp giấy phép cho 281 dự án với tổng số vốn đăng ký 1138 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 35,7% về số dự án và tăng 14,1% về số vốn đăng ký. Các dự án được cấp giấy phép tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp 221 dự án với 1031,5 triệu USD, chiếm 78,6% về số dự án và chiếm 90,6% về số vốn đăng ký. Các tỉnh, thành phố có nhiều dự án được cấp giấy phép là: Thành phố Hồ Chí Minh 101 dự án với số vốn đăng ký 238,9 triệu USD; Bình Dương 73 dự án với 108,7 triệu USD; Đồng Nai 21 dự án với 85,9 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu 3 dự án với 434,8 triệu USD. Hà Nội có 23 dự án với số tổng vốn đăng ký 105,6 triệu USD.

4. Vận tải
Vận chuyển hành khách 8 tháng đầu năm ước tính đạt 569,8 triệu lượt người và 19457 triệu lượt người.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,0% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển hàng hoá 8 tháng ước tính đạt 95,2 triệu tấn và 26981 triệu tấn.km, tăng 5,7% về tấn và tăng 9,3% về tấn.km. Nhìn chung, hoạt động vận tải vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng ổn định, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đi lại của dân cư. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm trật tự an toàn giao thông gây ùn tắc tại các thành phố lớn và tai nạn giao thông vẫn chậm được khắc phục.

5. Thương mại và giá cả
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 8 tháng ước tính đạt 153,9 nghìn tỷ đồng, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 26,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3%; khu vực kinh tế cá thể 101,5 nghìn tỷ đồng, tăng 7,1%; các khu vực kinh tế tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 25,7 nghìn tỷ đồng và tăng 12,8%.

So với tháng 12/2000, chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2001 giảm 0,9%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm giảm 1,5% (lương thực giảm 5,2%; thực phẩm tăng 0,1%); dược phẩm y tế giảm 2%; phương tiện đi lại, bưu điện giảm 1,1%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,3%; may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,1%; giáo dục tăng 2,4%; nhà ở và vật liệu xây dựng không tăng; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng từ 0,6-0,9%. Chỉ số giá vàng tháng 8/2001 tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 0,6% so với tháng 12/2000; chỉ số giá đô la Mỹ so với tháng trước tăng 0,2% và tăng 2,5% so với tháng 12/2000.

Khách quốc tế đến nước ta 8 tháng năm nay ước tính đạt 1563 nghìn người, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 874 nghìn người, tăng 11,1%; công việc 281 nghìn người, tăng 12,6%; thăm thân nhân 339 nghìn người, tăng 9,5% và mục đích khác 69 nghìn người, giảm 44,6%.
Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng ước tính đạt 10453 triệu USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 5622 triệu USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 4831 triệu USD, tăng 11,3%. Một số mặt hàng giá trị xuất khẩu kỳ này tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước: Hải sản tăng 42,8%; rau quả tăng 84,9%; than đá tăng 33%; dầu thô tăng 9,5%. Tuy nhiên, do giá mặt hàng nông sản vẫn ở mức thấp nên một số mặt hàng xuất khẩu về lượng tăng nhưng giá trị xuất khẩu lại giảm: Cà phê về lượng tăng 45,6% nhưng giá trị giảm 15,3%; tương tự, hạt tiêu tăng 51,6% và giảm 39,7%; hạt điều tăng 3,3% và giảm 23,1%…

Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đạt 10575 triệu USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 7453 triệu USD, tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 3122 triệu USD, tăng 15,3%. Trong các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có nhiều mặt hàng so với cùng kỳ tăng khá cao cả về lượng và giá trị: Bông cả về lượng và giá trị tăng 43,9%; sắt thép tăng 34,7% về lượng và tăng 18,1% về giá trị; ô tô gấp 2,2 lần về lượng và gấp 2 lần về giá trị. Tuy nhiên, còn một số mặt hàng giá trị nhập khẩu giảm so với 8 tháng năm 2000 là: Thuốc trừ sâu giảm 8,9%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 18,7%; vải giảm 18,3% và phân bón giảm 25,5%. Nhập siêu 8 tháng 122 triệu USD, bằng 1,2% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1831 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1709 triệu USD.

6. Tiền tệ, tín dụng
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng thu tiền tệ qua ngân hàng tháng 8 năm 2001 tăng 2,5% so với tháng trước và tổng chi tiền tệ qua ngân hàng tăng 1,6% so với tháng trước. Bội chi tiền tệ tháng 8 bằng 85,7% tháng trước.

Tổng tiền gửi tháng 8 tăng 1,4% so với tháng trước, trong đó tiền gửi bằng đồng Việt Nam tăng 1,7%, tiền gửi bằng ngoại tệ tăng 1,1%. Tổng số dư cho vay tháng 8 tăng 2,0% so với tháng trước, trong đó cho vay ngắn hạn tăng 2,4%, cho vay trung và dài hạn tăng 1,8%. Các khoản nợ xấu (nợ quá hạn, nợ chờ xử lý, các khoản nợ khoanh) bằng 9,5% so với tổng số dư cho vay, giảm nhẹ so với tháng trước là 9,7%. Tỷ lệ giữa số dư cho vay so với tổng tiền gửi trong tháng 8 đạt 92,0% trong đó tiền gửi bằng đồng Việt Nam là 134,9%, bằng ngoại tệ là 34,5%, chỉ tiêu này của tháng 7 lần lượt là: 91,5%; 134,2% và 34,6%. Để khắc phục tình trạng thiếu tiền đồng Việt Nam này, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp nhằm lấy lại sự cân bằng trong cung cầu nội tệ, trong đó có việc phát hành kỳ phiếu tiền đồng Việt Nam với lãi xuất ưu đãi.

7. Một số vấn đề xã hội
Trong tháng 8/2001, một số bệnh gây dịch vẫn xẩy ra ở một số địa phương, tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo của 11 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có 287 lượt người bị mắc bệnh thương hàn, giảm 1002 lượt người so với tháng trước. Sốt xuất huyết ở 24 địa phương có báo cáo với 3743 lượt người mắc, tăng 83 lượt người so với tháng trước và đã có 6 người chết. Bệnh sốt rét ở 43 địa phương có báo cáo với 18397 lượt người mắc, tăng 2697 lượt người. Tính từ đầu năm đến ngày 17/8/2001, cả nước có 5231 người bị bệnh thương hàn, trong đó có 3 người chết; 20611 người bị sốt xuất huyết, trong đó có 45 người chết; 170737 người bị bệnh sốt rét, trong đó có 40 người chết.

Từ ngày 15/7 đến 17/8/2001, cả nước phát hiện thêm 855 người nhiễm HIV, trong đó có 125 bệnh nhân AIDS, 99 người chết do AIDS. Tổng số người nhiễm HIV đã phát hiện của cả nước tính đến ngày 17/8/2001 là 38779 người, trong đó có 5845 bệnh nhân AIDS, 3184 người đã chết do AIDS.

Trong tháng 8/2001, theo báo cáo chưa đầy đủ của các trung tâm y tế dự phòng có 9 vụ ngộ độc thức ăn xẩy ra tại 8 tỉnh là: Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Phú Yên, An Giang và Sóc Trăng làm 322 người bị ngộ độc, tăng 251 người so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến ngày 17/8/2001, cả nước có 2387 người bị ngộ độc thức ăn, trong đó có 45 người chết.

Trong tháng 8/2001, bão, mưa to, gió lốc, lũ quét xảy ra ở các tỉnh Hà Tây, Bắc Giang, Phú Thọ, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Đồng Nai, Tiền Giang, Cà Mau, Bạc Liêu làm 6 người chết, 21 người bị thương và 10 người bị mất tích. Tổng giá trị thiệt hại là 57,4 tỷ đồng; riêng tỉnh Nghệ An thiệt hại 19,8 tỷ đồng, Hà Tĩnh thiệt hại 30 tỷ đồng.

Theo báo cáo của 29 tỉnh, thành phố, từ đầu tháng 8 đến ngày 19/8/2001, có 64948 hộ (chiếm 0,56% tổng số hộ nông nghiệp) với 340727 nhân khẩu (chiếm 0,63% tổng số nhân khẩu nông nghiệp) bị thiếu đói. Các tỉnh có số người thiếu đói nhiều trong tháng 8 là: Nghệ An 22943 hộ với 125555 nhân khẩu; Đắk Lắk 27799 hộ với 144382 nhân khẩu.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ