1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
  2. Nông nghiệp:

Lúa mùa: Tính đến ngày 15/7/2005, cả nước gieo cấy được 1012,4 nghìn ha, bằng 99% cùng kỳ. Các địa phương phía Bắc gieo cấy 881,7 nghìn ha, đạt xấp xỉ cùng kỳ, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã gieo cấy 407,9 nghìn ha, bằng 99%; các tỉnh Bắc Trung bộ gieo cấy 164,7 nghìn ha, bằng 99%, trong đó Thanh Hoá bằng 102,3%, Nghệ An 99,8%, Hà Tĩnh và Quảng Bình mới đạt khoảng 50% cùng kỳ do thiếu nước tưới trên diện rộng; các tỉnh miền núi chuẩn bị đủ mạ theo kế hoạch và đã gieo cấy được 309 nghìn ha, đạt 60% kế hoạch. Các địa phương phía Nam gieo cấy được 130,7 nghìn ha, bằng 88,8% cùng kỳ.

Lúa hè thu:

Đến ngày 15/7/2005, các địa phương phía Nam gieo cấy 2040 nghìn ha lúa hè thu, bằng 98% cùng kỳ, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 1777,9 nghìn ha, bằng 99,2% (Long An 98,7%, Tiền Giang 98%, Kiên Giang 98%, Cần Thơ 102,6%, Trà Vinh 97%, An Giang 101%, Đồng Tháp 104,5%; các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ không đạt kế hoạch và tiến độ chậm hơn cùng kỳ do hạn hán xảy ra trên diện rộng (Ninh Thuận bằng 52%, Tây Ninh 88%, Quảng Nam 94%, Phú Yên 94%, Khánh Hoà 52% cùng kỳ).

Đến nay, có khoảng 736 nghìn ha lúa hè thu chính vụ đã được thu hoạch, chiếm 40% diện tích (An Giang 125 nghìn ha, Đồng Tháp 164 nghìn ha, Cần Thơ 72,7 nghìn ha). Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, năng suất lúa trên diện tích đã thu hoạch ước tính tăng hơn so với cùng kỳ năm trước từ 1-3 tạ/ha, do hầu hết các tỉnh đều sử dụng giống chất lượng cao trên 80% diện tích gieo cấy.

Các loại cây trồng khác: Tính đến ngày 15/7/2005, cả nước gieo cấy được 817,1 nghìn ha ngô, bằng 106,4% cùng kỳ năm trước, khoai lang 141,4 nghìn ha, bằng 90,5%, sắn 312,6 nghìn ha, bằng 110,1%, lạc 271,1 nghìn ha, bằng 134,2%, đậu tương 149,4 nghìn ha, bằng 112,8%, mía trồng mới 43,6 nghìn ha, 0bằng 107,4%, thuốc lá bằng 99,4%, rau đậu các loại 554,1 nghìn ha, bằng 101,5% cùng kỳ. Diện tích gieo trồng một số cây màu ở các tỉnh Tây Nguyên bị ảnh hưởng nặng nề do hạn hán (Gia Lai 14 nghìn ha ngô và đậu xanh, Đắk Lắk 15,7 nghìn ha, trong đó có 8,8 nghìn ha ngô).

Chăn nuôi:

Đàn gia cầm trong tháng có xu hướng phát triển chậm lại, do hậu quả và diễn biến phức tạp của dịch cúm gia cầm ảnh hưởng đến tâm lý nông dân nên nhiều hộ chăn nuôi không tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất. Hiện nay, ngành thú y đang tiến hành hướng dẫn cho thú y cấp xã tiêm phòng và kiểm soát đàn gia cầm có quy mô vừa và lớn trên địa bàn. Đàn gia súc nhìn chung ổn định và phát triển tốt. Riêng đàn lợn mặc dù giá bán cao, nhưng do giá thức ăn tăng cao đã ảnh hưởng đến giá thành sản xuất, nên tốc độ tăng chậm so với 6 tháng đầu năm.

  1. Lâm nghiệp

Thời tiết có mưa nhiều trong tháng 7 đã góp phần đẩy nhanh tiến độ trồng rừng ở các tỉnh phía Bắc. Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước tính đạt 20 nghìn ha, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác tăng 0,6%, trong đó gỗ rừng trồng tăng khoảng 0,7%, chủ yếu do tăng sản lượng khai thác gỗ ở các tỉnh phía Nam (riêng khai thác gỗ ở Gia Lai tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu tiêu thụ của nhà máy MDF và của các tỉnh khác).

Trong tháng có 1022 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị cháy 861 ha (Bình Phước 121 ha, Hoà Bình 140 ha, Sơn La 135 ha, Hà Giang 93 ha); các tỉnh có diện tích rừng bị phá nhiều là Lâm Đồng 50ha, Hà Giang 30ha, Gia Lai 21ha.

  1. Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 7 ước tính đạt 299,2 nghìn tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng 117,5 nghìn tấn, tăng 16,9% (cá tăng 22,7%, tôm tăng 12,5%); sản lượng khai thác 181,7 nghìn tấn, tăng 2,7% (khai thác biển tăng 3,1%). Sản lượng cá nuôi tăng nhiều trong tháng 6 và tháng 7, nhưng người nuôi cá đang gặp nhiều khó khăn do giá thấp. Hiện đang là thời điểm sản xuất tôm giống vụ tới và thu hoạch tôm vụ I. Do thời tiết trong 6 tháng đầu năm không thuận lợi nên tiến độ thả tôm nuôi chậm lại, vì vậy đến nay một số địa phương có diện tích nuôi tôm lớn chưa thu hoạch xong (Bạc Liêu mới thu hoạch 65% diện tích thả nuôi). Khai thác thuỷ sản, thời tiết thuận, nhưng giá xăng dầu tăng, nên số tàu ra khơi đánh bắt xa bờ trong tháng 7 giảm nhẹ so với tháng trước. Tính chung 7 tháng, sản lượng thuỷ sản ước đạt 1841,3 nghìn tấn tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó nuôi trồng 654,3 nghìn tấn tăng 17,5%, khai thác 1187 nghìn tấn tăng 3%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 7 tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 7 ước tính tăng 17,4%, trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 9% (doanh nghiệp nhà nước trung ương quản lý tăng 13,5%; doanh nghiệp nhà nước địa phương quản lý giảm 0,9%); khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 21,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,8% (trong đó dầu mỏ và khí đốt giảm 15,5%, các ngành khác tăng 34%).

Trong các sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ, than sạch khai thác tăng 39,5%, trong khi khai thác dầu thô giảm, thậm chí giảm hơn mức giảm trong 6 tháng; khí đốt thiên nhiên giảm 21,4%. Một số sản phẩm công nghiệp chế biến chủ yếu tháng 7 sản xuất tăng cao so với mức tăng chung, do tiêu thụ thuận lợi hơn ở thị trường trong nước và xuất khẩu như: phân hoá học tăng 51%; thuốc trừ sâu tăng 31,2%; máy công cụ tăng 47,5%; động cơ điện tăng 28,7%; quạt điện dân dụng tăng 33,3%; ô tô lắp ráp tăng 72,8%; xe máy lắp ráp tăng 18,7%… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu khác có tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung như: quần áo may sẵn, giấy bìa, xi măng, thép cán… Một số sản phẩm của công nghiệp cơ khí, chế tạo chưa bằng mức sản xuất của tháng 7 năm trước như: động cơ diesel chỉ bằng 91,6%, máy biến thế bằng 70,4%, ti vi lắp ráp bằng 81,2%, xe đạp bằng 74,5%… Sản xuất điện tháng 7 tiếp tục được cải thiện, tuy tốc độ tăng không cao (+14,7%), nhưng là mức tăng cao so với cùng kỳ của các năm gần đây. Tháng 7/2005 các nhà máy điện vận hành tương đối ổn định, cung cấp đủ điện cho nền kinh tế. Mực nước cho sản xuất thủy điện ở Hoà Bình, miền Nam và miền Trung đã khá hơn so với các tháng trước, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn nhiều so với cùng kỳ các năm trước. Sản lượng điện phát tháng 7 ước tính đạt 4743 triệu kwh, bình quân đạt 153 triệu kwh/ngày.

Tính chung 7 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 14,3%; doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý tăng 0,9%); khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 23,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,9% (trong đó dầu mỏ và khí đốt giảm 10,3%, các ngành khác tăng 25,2%).

Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng cho nền kinh tế và xuất khẩu duy trì tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung, đã góp phần chính trong tăng công nghiệp 7 tháng như: than sạch khai thác tăng 24%; thuỷ sản chế biến tăng 17,5%; phân hoá học tăng 51,9%; thuốc trừ sâu, thép cán đều tăng 16,6%; máy công cụ tăng 39,8%; động cơ điện tăng 19%; ô tô lắp ráp tăng 45,5%; xe máy lắp ráp tăng 16,5%… Bên cạnh đó, do giá nhập khẩu một số vật tư, nguyên liệu đầu vào như sắt thép, xăng dầu, nhựa, giấy…tăng cao và biến động phức tạp, cũng như khó khăn về thị trường tiêu thụ, nhất là thị trường xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ… nên một số sản phẩm công nghiệp tăng thấp hoặc chưa đạt mức sản xuất của cùng kỳ năm trước như: khí đốt thiên nhiên tăng 9,6%; quần áo may sẵn tăng 9,4%, giấy bìa tăng 7,5%, xi măng tăng 14,4%; quạt điện dân dụng tăng 12,5%; vải lụa thành phẩm bằng 92,6% mức sản xuất của 7 tháng năm trước; động cơ diesel bằng 78,7%, máy biến thế bằng 90%, ti vi lắp ráp bằng 93,2%…

Một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn trong cả nước có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 7 tháng cao hơn mức tăng chung như: Hà Nội tăng 18,3%; Hải phòng tăng 17,1%; Vĩnh Phúc tăng 41,2%; Hà Tây tăng 19,7%; Đà Nẵng tăng 17,5%; Bình Dương tăng 33,7%; Đồng Nai tăng 21,5%… Riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất toàn quốc (chiếm tới trên 23%) chỉ tăng 13,1%; Bà Rịa Vũng Tàu chỉ tăng 12,9%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 7 tháng đầu năm 2005 ước thực hiện 31686,8 tỷ đồng, đạt 61% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 12859,1 tỷ đồng, đạt 64,6% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 3928,3 tỷ đồng, đạt 68,2% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1246,2 tỷ đồng, đạt 68,2%; Bộ Y tế 348 tỷ đồng, đạt 41%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 277,9 tỷ đồng, đạt 46,3%; Bộ Văn hoá Thông tin 211,2 tỷ đồng, đạt 58%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung do địa phương quản lý thực hiện 18827,8 tỷ đồng, đạt 58,8% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 1726,1 tỷ đồng, đạt 39,9%; thành phố Hồ Chí Minh 3618,1 tỷ đồng, đạt 48,5%; Hải Phòng 690,2 tỷ đồng, đạt 53,3%; Thanh Hoá 441 tỷ đồng, đạt 57%; Khánh Hoà 437,8 tỷ đồng, đạt 66,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu 946,4 tỷ đồng, đạt 58,9%; Đồng Nai 621,8 tỷ đồng, đạt 51,9%; Đồng Tháp 309,6 tỷ đồng, đạt 52,5%; Bạc Liêu 184,6 tỷ đồng, đạt 58,2%.

Trong giao thông vận tải, đã khởi công một số dự án lớn như: Tuyến tránh thị xã Tuyên Quang, Quốc lộ 1 (Đoạn Trung Lương – Mỹ Thuận), Quốc lộ 2 (Nội Bài-Vĩnh Yên), Dự án mở rộng và hoàn thiện đường Láng-Hoà Lạc, Dự án đầu tư xây dựng Quốc lộ 2 đoạn Nội Bài -Vĩnh Yên… Một số dự án, công trình lớn đã hoàn thành trong 6 tháng đầu năm 2005 như: Cửa khẩu Mộc Bài thuộc dự án đường Xuyên Á, Quốc lộ 6 đoạn Hoà Bình-Sơn La, Quốc lộ 2 đoạn Đoan Hùng-Thanh Thuỷ, hầm đường bộ đèo Hải Vân…

Trong nông nghiệp, về cơ bản các địa ph­ương đã hoàn thành khối lượng đắp và tu bổ đê điều, các hạng mục kè và cống trọng điểm. Các cơ quan chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tăng cư­ờng kiểm tra công tác xử lý các sự cố và việc chuẩn bị vật tư­ cần thiết, đề ra các phương án ứng phó với mùa m­ưa bão của các địa phương, chú trọng đến những nơi có đê xung yếu và khu vực cắt lũ bảo vệ, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do ảnh hư­ởng của thiên tai.

Trong công nghiệp, ngành Điện đã mở rộng nhà máy điện Uông Bí: Toàn bộ công tác mua sắm và chế tạo thiết bị đạt được 93,7%, đã hoàn thành thi công đạt trên 60% khối lượng thiết kế. Đến cuối tháng 6/2005 đã hoàn thành đóng điện đường dây 500KV Đà Nẵng- Hà Tĩnh và trạm 500KV Hà Tĩnh mở rộng, dài 392 km. Hoàn thành đóng điện và đưa vào vận hành 230Km + 1000MVA, đồng bộ với đường dây 220KV Cà Mau- Ô Môn, đường dây 220KV Vinh- Hà Tĩnh mạch 2, đường dây 220KV Bình Hoà- Tân Định- Trảng Bàng, trạm 220KV Trảng Bàng, mở rộng 220KV phố Nối, mở rộng trạm 220KV Nam Định, mở rộng trạm 220KV Thái Nguyên, mở rộng 220KV Mai Động… Ngành Than: Đã tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng như nâng cấp một số tuyến đường chính phục vụ cho liên lạc, vận chuyển vật tư và thiết bị. Hoàn thành đưa vào sử dụng Dự án Cải tạo, mở rộng cảng Cẩm Phả với tổng mức đầu tư khoảng 160 tỉ đồng, trong đó có nối dài thêm 250 m cầu cảng để tiếp nhận cùng một lúc 2 tầu có trọng tải lớn trên 3 vạn DWT vào nhận than. Đã hoàn thành và đưa vào vận hành sản xuất nhà máy xi măng Tam Điệp (công suất 1,4 triệu tấn/năm) trong quý 1 năm 2005, cân đối nhu cầu xi măng thêm khoảng 200 nghìn tấn.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 20/7/2005 có 419 dự án mới được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 2099,9 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,7% về số dự án và tăng 118,2 % về vốn đăng ký (7 tháng đầu năm 2004 có 359 dự án với vốn đăng ký 962,5 triệu USD). Qui mô bình quân một dự án được cấp phép đạt 5 triệu USD, tăng 185,2% so với mức bình quân của một dự án cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 71,6% về dự án và 49,1% về vốn; tương tự ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9,1% và 3%; các ngành dịch vụ 19,3% và 47,9%.

Hà Nội tiếp tục đứng đầu cả nước về số vốn đăng ký có 39 dự án với 876,3 triệu USD, tiếp đến là Đồng Nai 50 dự án với 319,6 triệu USD, Bình Dương 77 dự án với 190,4 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh 131 dự án với 187,7 triệu USD, Hải Phòng 9 dự án với 103,7 triệu USD,  Phú Yên 4 dự án với 81,5 triệu USD, Đà Nẵng 6 dự án với 56,5 triệu USD, Vĩnh Phúc 12 dự án với 40,4 triệu USD,Tuyên Quang 1 dự án với 25 triệu USD…

Tính từ đầu năm đến 20/5/2005 có 33 nước và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư mới vào Việt Nam. Các nước, vùng lãnh thổ có số vốn đăng ký lớn, theo thứ tự từ cao xuống thấp là Lúc-xăm-bua có 2 dự án với 770,5 triệu USD, Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 17 dự án với 362,4 triệu USD, Đài Loan 86 dự án với số vốn 208,9 triệu USD, Nhật Bản 45 dự án với 176 triệu USD, Hàn Quốc 99 dự án với số vốn 138 triệu USD, Hoa Kỳ 28 dự án với 83,8 triệu USD, Ma- lay- xi- a 7 dự án với 78 triệu USD, Xin-ga-po 27 dự án với 60,5 triệu USD, Trung Quốc 24 dự án với 51,4 triệu USD, đảo Vir-gin thuộc Anh 17 dự án với 47,3 triệu USD.

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội theo giá thực tế 7 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 265,59 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 35,17 nghìn tỷ đồng, giảm 0,4%; kinh tế tập thể đạt 2,66 nghìn tỷ đồng, tăng 23%; kinh tế cá thể đạt 161,6 nghìn tỷ đồng, tăng 17,8%; khu vực kinh tế tư nhân đạt 54,4 nghìn tỷ đồng, tăng 35,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 11,76 nghìn tỷ đồng tăng 38,2%. Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm 76,6% và tăng 16,3%; khách sạn nhà hàng, chiếm 12,8%, tăng 29,2%; dịch vụ chiếm 9,9%, tăng 30%; du lịch chiếm 0,7%, tăng 12,3%.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 7 tháng đầu năm 2005 của Hà Nội ước tính đạt 23,83 nghìn tỷ đồng, chiếm 9% tổng mức, tăng 18,9%; thành phố Hồ Chí Minh đạt 70,56 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,6%, tăng 21,6%.

Giá tiêu dùng tháng 7/2005 so với tháng trước tăng 0,4%. Trong 10 phân nhóm hàng hoá và dịch vụ, giá nhóm lương thực thực phẩm và nhóm văn hoá, thể thao giải trí không tăng so với tháng trước, 8 nhóm còn lại đều tăng giá với mức độ khác nhau, trong đó giá nhóm phương tiện đi lại, bưu điện có mức tăng cao nhất (+2%) (tuy trong nhóm này giá bưu chính viễn thông giảm 0,3%) và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 1,7%. Giá nhóm lương thực, thực phẩm không tăng so với tháng trước, do giá lương thực giảm trong khi giá thực phẩm tăng; giá nhóm giáo dục tăng 0,6%; dược phẩm y tế tăng 0,4%; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình và nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép đều tăng 0,3%.

So với tháng 12/2004, giá tiêu dùng tháng 7 năm 2005 tăng 5,6%, trong đó giá của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng: một số nhóm giá tăng cao, đóng góp chính vào tăng giá tiêu dùng so với tháng 12/2004 như nhóm lương thực, thực phẩm tăng 7,7%, nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 4,9%, nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 4,8%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,7%, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,3%… Giá tiêu dùng tháng 7 năm 2005 tăng 7,5% so với tháng 7 năm trước.

Giá vàng tháng 7/2005 tăng 1,2% so với tháng trước, giảm 3,3% so với tháng 12/2004 và tăng 8,7% so với tháng 7/2004, trong khi giá đô la Mỹ tương đối ổn định, giá tháng 7 tăng nhẹ cả ở 3 loại chỉ số tương ứng là tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 0,5% so với tháng 12/2004 và tăng 0,8% so với tháng 7/2004.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 7 tháng năm nay ước tính đạt 38,49 tỷ USD, tăng 19,4% so với 7 tháng năm 2004, trong đó xuất khẩu tăng 18,1% và nhập khẩu tăng 20,5%. Khoảng cách giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu được thu hẹp, nên nhập siêu giảm. Nhập siêu 7 tháng năm 2005 là 3,74 tỷ USD, bằng 21,5% kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm trước là 18,9%).

Kim ngạch xuất khẩu tháng 7/2005 tăng khá so với các tháng trước, ước tính đạt 2,75 tỷ USD. Tính chung 7 tháng đầu năm 2005 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 17,38 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu bình quân mỗi tháng trong 7 tháng năm nay mới đạt khoảng 2,48 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô 7 tháng ước tính đạt 4,02 tỷ USD, tăng 34,4%, đóng góp 38,6% vào tăng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 13,36 tỷ USD, tăng 13,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,44 tỷ USD, tăng 9% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5,92 tỷ USD, tăng 20,9%.

Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng chủ yếu tăng khá so với 7 tháng năm 2004 (20 trong tổng số 26 mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu tăng). Kim ngạch xuất khẩu than tăng 82,9%; điện tử máy tính tăng 39,7%; dây điện và cáp điện tăng 33,9%; gạo tăng 35,9%; rau quả tăng 40,6%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 47,8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, trong 7 tháng đầu năm nay, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may; giày, dép; thuỷ sản chỉ tăng ở mức thấp và không đạt mức tăng như mong đợi. Xuất khẩu hàng dệt may vẫn tiếp tục gặp khó khăn về thị trường, nên 7 tháng đầu năm kim ngạch mới đạt 2,54 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ. Xuất khẩu thuỷ sản cũng có trở ngại lớn do qui định về tiền đặt cọc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu tôm vào Mỹ và yêu cầu cao, nghiêm ngặt của thị trường EU về đảm bảo an toàn vệ sinh trong nuôi trồng thuỷ sản. Vì vậy, kim ngạch thuỷ sản 7 tháng đầu năm ước tính mới đạt 1,32 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu dầu thô 7 tháng ước đạt 10,33 triệu tấn, giảm 9%. Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng giảm so với 7 tháng năm 2004 như: xe đạp và phụ tùng xe đạp giảm 29,5%, dầu mỡ động thực vật giảm 59,9%, hạt tiêu giảm 12,3%, đồ chơi trẻ em giảm 21%, cà phê giảm 9,8%, chè giảm 21,2%.

Trong 6 tháng đầu năm, một số thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam tăng khá: Thị trường Hoa Kỳ tăng 15% so với 6 tháng đầu năm 2004, với kim ngạch trên 2,5 tỷ USD, chủ yếu do giầy dép tăng 43,6%, sản phẩm gỗ tăng 125,6% đã bù lại hàng dệt may giảm 4,5% và hải sản giảm 16%. Thị trường Nhật Bản tăng 35,6% với kim ngạch khoảng 2 tỷ USD, hầu hết các mặt hàng đều tăng: thuỷ sản tăng 18,3%, dệt may tăng 15,2%, dầu thô tăng 150%… Thị trường Ôx-trây-lia tăng 56,2%, trong đó dầu thô tăng 60,6% và hải sản tăng 39,5%.

Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 21,11 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 13,57 tỷ USD, tăng 19,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 7,54 tỷ USD, tăng 23,2%. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và hầu hết các vật tư, nguyên, nhiên liệu cho sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu tăng 45,9%; sắt thép tăng 39%; chất dẻo tăng 31,8%; hoá chất tăng 32%; thuốc trừ sâu tăng 25,9%; vải tăng 15,7%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ tăng 33,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 39,8%; riêng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chỉ tăng 1,8%… Lượng nhập khẩu của nhiều mặt hàng đã tăng khá hơn, nhưng còn một số mặt hàng có lượng nhập khẩu đạt thấp so với mức nhập của 7 tháng năm 2004 như: phân urê nhập khẩu chỉ bằng 57,1% cùng kỳ năm trước (giảm mạnh do nguồn cung trong nước tăng), sợi dệt bằng 96,5%. Riêng số lượng xe máy nguyên chiếc nhập khẩu tăng gần 3,7 lần.

Nhập khẩu của Việt Nam từ các châu lục trong 6 tháng đầu năm đều tăng, trong đó nhập khẩu từ châu Á tăng 2,5 tỷ USD, từ châu Âu tăng 377 triệu USD, từ châu Mỹ tăng 240 triệu USD. Trong các nước cung cấp châu Á, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 39%, tương ứng với tăng 760 triệu USD, trong đó chủ yếu là sắt thép, xăng dầu, nguyên phụ liệu dệt may và vải; nhập khẩu từ Xing-ga-po tăng 406 triệu USD, từ Nhật Bản tăng 336 triệu USD, từ Đài Loan tăng 353 triệu USD, từ Hàn Quốc tăng 260 triệu USD…

Vận chuyển hành khách 7 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 637,3 triệu lượt hành khách và 27,8 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,7% về lượt hành khách và tăng 10,8% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hàng hoá 7 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 159,5 triệu tấn và 44,5 tỷ tấn.km, tăng 5,9% về tấn và tăng 9,1% về tấn.km. Trong vận chuyển hàng hoá, vận chuyển bằng đường sắt tăng 4% về tấn và tăng 3,5% về tấn.km; vận chuyển bằng đường bộ tăng 5,9% về tấn và tăng 3,2% về tấn.km; bằng đường sông tăng 4,9% về tấn và tăng 2,5% về tấn.km; bằng đường biển tăng 8% về tấn và tăng 11,1% về tấn.km.

Khách quốc tế đến Việt Nam 7 tháng năm 2005 ước tính đạt 2048,2 nghìn lượt người, tăng 23,8% so với 7 tháng năm 2004, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1213,8 nghìn lượt người tăng 38,4%; vì công việc 264 nghìn lượt người, giảm 9,3%; thăm thân nhân 324,8 nghìn lượt người, tăng 13,7%; đến với mục đích khác 245,6 nghìn lượt người, tăng 21,3%.

Khách đến Việt Nam từ CHND Trung Hoa: 478,2 nghìn lượt người, tăng 4,3%; từ Mỹ 204,1 nghìn lượt người, tăng 21,3%; từ Hàn Quốc 179,1 nghìn lượt người, tăng 57,2%; từ Đài Loan 163,4 nghìn lượt người, tăng 13,5%, từ Nhật Bản 162,9 nghìn lượt người, tăng 19%; từ Cam-pu-chia 104 nghìn lượt người, tăng 120,3%; từ Ôx-trây-li-a 83,2 nghìn lượt người, tăng 15,2%; từ Pháp 73,4 nghìn lượt người, tăng 27%; từ Thái lan 45,3 nghìn người, tăng 59,8%; từ Xin-ga -po 42,2 nghìn người, tăng 78,8%…

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước 7 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 63,6% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 61,8%, thu dầu thô đạt 75,6%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đều đạt cao hơn 60% kế hoạch năm như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 62,1% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 60,8%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 62,9%; các khoản thu về nhà đất đạt 75,5%; Riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 58,4% kế hoạch năm. Thu từ dầu thô 7 tháng tăng khá, nhờ giá dầu thô vẫn ổn định ở mức cao so với giá khi lập dự toán. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 56,5% dự toán cả năm, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 63,8%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế GTGT) mới đạt 47,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 7 tháng ước tính đạt 58,4% dự toán cả năm, (thấp hơn 5,2 điểm phần trăm so với mức hoàn thành kế hoạch thu), đảm bảo được kế hoạch các khoản chi thường xuyên đạt 58,7% kế hoạch năm, chi cho đầu tư phát triển đạt 56,2% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 55,7%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ từ 58% trở lên so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 58% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 59,6%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 61,6%; chi quản lý hành chính 59,5%. Bội chi ngân sách Nhà nước 7 tháng ước tính bằng 43,7% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó bù đắp bằng nguồn vay trong nước chiếm 68% và vay nước ngoài chiếm 32%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 7 (tính đến 22/7), có 53,4 nghìn hộ với 252,6 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói (chiếm 0,4% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp). So với tháng trước, số hộ thiếu đói tháng 7 giảm 55%, số nhân khẩu thiếu đói giảm 55,3%. So với tháng 7 năm 2004, số hộ thiếu đói tăng 51,3%; số nhân khẩu thiếu đói tăng 35,6%, chủ yếu do ảnh hưởng của hạn hán kéo dài ở một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Để trợ giúp các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 19,5 nghìn tấn lương thực và 11 tỷ đồng.

Hoạt động văn hoá – thông tin

Hoạt động văn hoá – thông tin trong tháng tập trung vào các nhiệm vụ chính trị, xã hội và công tác quản lý Nhà nước của ngành như tuyên truyền kỷ niệm 58 năm ngày Thương binh Liệt sĩ; Đại hội Đảng các cấp; 10 năm bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ; Ngày Dân số thế giới…

Trong công tác quản lý Nhà nước, tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Chỉ thị 17/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh các hoạt động tiêu cực trong quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường bằng các biện pháp tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm, đồng thời cũng tuyên truyền hướng dẫn các hộ kinh doanh tích cực khai thác các sản phẩm văn hoá lành mạnh, chất lượng cao phục vụ nhân dân.

Hoạt động đối ngoại trên lĩnh vực văn hoá – thông tin diễn ra sôi nổi, trong đó tiêu biểu là Những ngày văn hoá Việt Nam tại Mỹ, Những ngày văn hoá Việt Nam tại Đức với nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật, triển lãm ảnh, giới thiệu hàng hoá Việt Nam… Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được đẩy mạnh: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 639/QĐ-TTg về Danh sách thành viên Ban chỉ đạo vận động phong trào; các cấp, các ngành ngày càng quan tâm chỉ đạo thực hiện phong trào, đã góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, đồng thời giảm dần sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá giữa các vùng, miền.

Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại trong hoạt động dịch vụ văn hoá, nhất là trong các hoạt động karaoke, vũ trường và kinh doanh băng, đĩa. Ngoài ra, trong hoạt động báo chí, xuất bản cũng vẫn còn những sai phạm như đưa thông tin sai sự thật, kinh doanh sách không có giấy phép xuất bản hay xuất bản vượt số lượng ghi trong giấy phép …

Tình hình dịch bệnh

Trong tháng (tính đến 19/7) có trên 5,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 4,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và trên 750 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Tính từ đầu năm đến nay, có 40,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, trong đó 1 người tử vong; 15,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 17 người đã tử vong và 2 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số người mắc bệnh sốt rét giảm 31,3%; số người mắc bệnh sốt xuất huyết giảm 45,1%; riêng số người mắc bệnh thương hàn tăng 5%. Ngoài ra, 7 tháng qua cũng đã có trên 2,7 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, trong đó 4 người đã tử vong.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng đã xảy ra 6 vụ với 109 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 3 người tử vong. Tổng số người bị ngộ độc thực phẩm từ đầu năm đến nay là khoảng 2 nghìn trường hợp, trong đó 43 người đã tử vong.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 7 phát hiện thêm 1,1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV trên cả nước đến 19/7/2005 lên 97,3 nghìn người, trong đó có 15,9 nghìn bệnh nhân AIDS và 9,1 nghìn người đã chết do AIDS.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 6/2005 đã xảy ra 1,2 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết gần 1 nghìn người và bị thương khoảng 1 nghìn người. So với tháng trước, cả ba chỉ số: vụ tai nạn, số người chết và bị thương đều giảm: số vụ tai nạn giảm 4%; số người chết giảm 2,6%; số người bị thương giảm 9,8%. So với tháng 6/2004, tai nạn giao thông giảm 19,9% về số vụ; giảm 7,4% số người chết và giảm 29,3% số người bị thương.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2005, trên địa bàn cả nước đã xảy ra gần 7,7 nghìn vụ tai nạn, làm chết 5,9 nghìn người và làm bị thương 6,6 nghìn người. So với 6 tháng đầu năm 2004, số vụ tai nạn giảm 19,2% (giảm 1,8 nghìn vụ); số người chết giảm 6,5% (giảm 0,4 nghìn người) và số người bị thương giảm 24,8% (giảm 2,2 nghìn người). Bình quân mỗi ngày trong 6 tháng đầu năm nay đã giảm khoảng 10 vụ, giảm 2 người chết và giảm 12 người bị thương so với cùng kỳ năm 2004. Nhìn chung, tai nạn giao thông 6 tháng đầu năm nay đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên tình hình còn diễn biến phức tạp và tai nạn giao thông vẫn còn ở mức cao, gây thiệt hại về người và tài sản, đặc biệt đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng. Hầu hết các vụ tai nạn giao thông xảy ra chủ yếu do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các qui định về an toàn giao thông như: vi phạm về tốc độ; tránh, vượt sai qui định; chở quá số người qui định; lái xe xử lý kém…

Thiệt hại do bão, lũ, lụt

Từ cuối tháng 6 đến nay đã xảy ra mưa to, lũ, lốc, sạt lở đất, sét đánh tại một số địa phương như: Vĩnh Phúc, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Điện Biên, Khánh Hoà, Tây Ninh, Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Tháp, An Giang, Bạc Liêu và Cà Mau gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 11 người chết, 16 người bị thương, trong đó Yên Bái có 5 người bị chết, Vĩnh Phúc 2 người, Hà Giang 2 người. Thiên tai cũng đã làm hàng trăm mét đê bị vỡ, cuốn trôi; trên 1 nghìn ha lúa bị ngập, hư hại; gần 70 ngôi nhà bị sập đổ và nhiều công trình kinh tế – xã hội khác bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 9 tỷ đồng.