Bên cạnh những thuận lợi, trong 6 tháng đầu năm 2005 vừa qua, nền kinh tế nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức: Hạn hán kéo dài ở nhiều địa phương trên cả nước gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản và sản xuất điện; giá tiêu dùng trong nước tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước; giá một số vật tư, nguyên liệu cho sản xuất trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng dầu, phân bón, sắt thép tăng cao và biến động phức tạp; khó khăn về thị trường xuất khẩu (nhất là với các mặt hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản…). Tuy nhiên, do có sự chỉ đạo điều hành sát sao ngay từ đầu năm của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, tình hình kinh tế – xã hội tiếp tục phát triển và ổn định.

      TÌNH HÌNH KINH TẾ

  1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 180,04 nghìn tỷ đồng (tính theo giá so sánh 1994), tăng 7,63% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quí I tăng 7,31% (cao hơn mức tăng 7,23% ước tính vào cuối tháng 3/2005) và quí II ước tính tăng 7,87%. Tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay cao hơn hẳn mức tăng trưởng 6 tháng đầu các năm trước (2001 tăng 7,1%; 2002 tăng 6,5%; 2003 tăng 7,0%; 2004 tăng 7,1%).

Khu vực công nghiệp, xây dựng có tốc độ tăng 9,5%, đóng góp tới 3,68 điểm phần trăm cho tăng trưởng 6 tháng; khu vực dịch vụ tăng 7,6%, đóng góp 3,07 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,2%, đóng góp 0,88 điểm phần trăm.

Bảng 1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước so với cùng kỳ

%

6 tháng đầu năm 20046 tháng đầu năm 2005Chia ra:Đóng góp vào tăng trưởng 6 tháng đầu 2005
Quí IQuí II
Tổng số7,067,637,317,877,63
Khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản2,684,234,134,270,88
Khu vực công nghiệp xây dựng9,709,508,4810,393,68
Dịch vụ6,967,607,217,933,07

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng có mức tăng trưởng 4,23%, (quí I tăng 4,13% và quí II tăng 4,27%), cao hơn tốc độ tăng 2,68% của khu vực này năm trước, chủ yếu do giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp tăng, từ mức 2% trong 6 tháng đầu năm 2004 lên 3,9% trong 6 tháng đầu năm nay. Sản lượng lương thực vụ đông xuân (cả lúa và ngô đông xuân) tăng ở cả hai miền Bắc và Nam, chủ yếu do tăng năng suất. Chăn nuôi phát triển, đặc biệt là đàn gia súc tăng nhanh, đàn gia cầm được khôi phục và tăng so với cùng kỳ năm trước. Thuỷ sản tăng 7,5%, tăng cả ở nuôi trồng và đánh bắt.

Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 9,5%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm so với tăng trưởng của khu vực này 6 tháng đầu năm 2004, chủ yếu do công nghiệp đã giảm từ mức tăng 10,24% trong 6 tháng năm trước xuống 9,8% trong 6 tháng đầu năm nay. Mặc dù giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm nay tăng 15,6% cao hơn mức tăng 15,4% của công nghiệp năm trước, nhưng chủ yếu do tăng nhiều ngành có chi phí trung gian cao như công nghiệp chế biến, nhiệt điện nên GDP công nghiệp tăng chậm hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2005 là 7,6%, cao hơn hẳn mức tăng 6,96% của dịch vụ 6 tháng đầu năm trước và 6,44% của 6 tháng đầu năm 2003. Phần lớn các ngành kinh tế trong khu vực dịch vụ duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định. Một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; khách sạn nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều có mức tăng trưởng xấp xỉ hoặc cao hơn mức tăng chung của khu vực dịch vụ, đặc biệt là ngành khách sạn, nhà hàng có mức tăng trưởng 15% cao hơn hẳn mức tăng 5,9% trong 6 tháng đầu năm 2004. Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp là 7,6%; ngành vận tải, bưu điện, du lịch tăng 7,7% (cùng kỳ năm trước tăng 7,3%); ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,5% (cùng kỳ năm trước tăng 7,5%).

Một số yếu tố chính trong sử dụng tổng sản phẩm trong nước có tiến bộ so với cùng kỳ: Xuất khẩu hàng hoá tăng cao (+17,4%) so với 6 tháng đầu năm 2004, tuy thấp hơn tốc độ tăng của 6 tháng năm trước, do khó khăn về thị trường, nhưng cao hơn tốc độ tăng 16% của kế hoạch năm. Mặc dù giá vật tư nguyên liệu ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và giá tiêu dùng vẫn tăng ở mức cao so với cùng kỳ, song Chính phủ đã có các biện pháp điều hành kinh tế vĩ mô và doanh nghiệp có các điều chỉnh sản xuất kinh doanh phù hợp, nên hạn chế được phần nào ảnh hưởng tiêu cực của tăng giá. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội theo giá thực tế tăng 18,9%, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng khoảng trên 9% so với cùng kỳ năm trước. Thực hiện vốn đầu tư theo giá thực tế 6 tháng tăng 19,2%.

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước:

Kinh tế 6 tháng tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng của 6 tháng năm trước và giá dầu thô tiếp tục tăng mạnh trên thị trường quốc tế đã góp phần tích cực vào tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 53,8% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 52,1%, thu dầu thô đạt 64%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đều đạt cao hơn mức chung như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 52,7% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 52,2%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 54,9%; các khoản thu về nhà đất đạt 61,7%. Riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt xấp xỉ một nửa kế hoạch năm. Thu từ dầu thô 6 tháng tăng khá, nhờ giá dầu thô vẫn ổn định ở mức cao so với giá khi lập dự toán, ước tính đạt 64% dự toán cả năm. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 48,5% dự toán cả năm, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 54,3%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế GTGT) mới đạt 41,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng ước tính đạt 48,8% dự toán cả năm, (thấp hơn 5 điểm phần trăm so với mức hoàn thành kế hoạch thu), tuy đã đảm bảo được kế hoạch các khoản chi thường xuyên (đạt 50,7% kế hoạch năm),  nhưng chi cho đầu tư phát triển mới đạt 45% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 44,5%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ trên 50% so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 50,1% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 51,2%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 53,8%; chi quản lý hành chính 50,9%. Bội chi ngân sách 6 tháng ước tính bằng 33,2% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 70,5% và vay nước ngoài  29,5%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2005 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 82,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó nông nghiệp 63,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% (do lương thực, rau đậu và cây công nghiệp tăng); lâm nghiệp 3,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% (chủ yếu do khai thác gỗ tăng); thuỷ sản 15,9 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2%, do sản lượng cả nuôi trồng và đánh bắt đều tăng. Tình hình cụ thể như sau:

  1. Nông nghiệp

Sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm nay ước tính đạt 19,1 triệu tấn, tăng 29,5 vạn tấn (+1,6%) so với vụ đông xuân trước, trong đó lúa tăng 1,3% và ngô tăng 4,5%.

Sản lượnglúa đông xuân năm 2005 ước tính đạt 17,3 triệu tấn, tăng 218,6 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước, do năng suất tăng khá (theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, năng suất lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 58,8 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha (+2,5%) so với vụ đông xuân năm 2004), mặc dù diện tích gieo cấy giảm 36,7 nghìn ha so với vụ đông xuân 2004, do sản xuất lúa đông xuân năm nay diễn ra trong điều kiện thời tiết nắng, nóng và khô hạn kéo dài ở một số vùng trong cả nước.

Sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc đạt  6,7 triệu tấn, giảm 92,6 nghìn tấn so với vụ lúa đông xuân năm trước, chủ yếu do diện tích giảm 11 nghìn ha (-0,9%) (trong đó Bắc Trung Bộ -2,2% diện tích, đồng bằng sông Hồng – 2,1%), trong khi năng suất ước tính đạt 58,1 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha.

Sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Nam đạt 10,59 triệu tấn, tăng 311,2 nghìn tấn, trong đó năng suất ước tính đạt 59,2 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha (+4,5%), trong khi diện tích giảm 25,6 nghìn ha. Những vùng có diện tích giảm nhiều là: Đông Nam Bộ (-22,5%), Tây Nguyên (-11%), Duyên hải Nam Trung Bộ (-2.9%). Riêng đồng bằng sông Cửu Long diện tích lúa đông xuân năm nay tăng 12 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước, do giá lúa cao và đầu vụ lũ ở mức thấp nên một số địa phương chuyển lúa vụ 3 sang làm lúa đông xuân sớm.

Sản lượng ngô vụ đông xuân cả nước đạt 1,79 triệu tấn, tăng 76,7 nghìn tấn (+ 4,5%) so với vụ ngô đông xuân năm trước, chủ yếu do diện tích tăng 26,2 nghìn ha (+ 5,4%), trong đó diện tích ngô miền Bắc tăng 6,1%.

Lúa hè thu: Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương đang khẩn trương gieo cấy lúa hè thu. Đến nay, cả nước đã gieo cấy được gần 2 triệu ha lúa hè thu, bằng 97,4% cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, diện tích gieo cấy đạt 1,5 triệu ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước. Có 264 ngàn ha lúa hè thu sớm đã cho thu hoạch.

Sản lượng một số cây công nghiệp hàng nămvà rau, đậutăng khá: sản lượng đậu tương ước tính đạt 132,3 nghìn tấn, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng lạc đạt 378,4 nghìn tấn, tăng 2,9%; sản lượng rau, đậu đạt 5762,3 nghìn tấn, tăng 6,3%.

Chăn nuôi gia súc có xu hướng phát triển nhanh, do nhu cầu thực phẩm tăng cao sau dịch cúm gia cầm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 1/4/2005, cả nước có 26 triệu con lợn, tăng 4,9% so với cùng thời điểm năm 2004; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 7%; đàn bò ở một số tỉnh tăng mạnh: Hưng Yên (+19%), Hải Phòng (+18%), Bắc Ninh (+11%), Thanh Hoá (+19%). Đàn gia cầm đã bắt đầu được khôi phục, song còn chậm, ước tính tăng 8% so với cùng kỳ, chủ yếu phát triển ở hộ có qui mô chăn nuôi nhỏ.

  1. Lâm nghiệp

Tiến độ trồng rừng 6 tháng đầu năm nay chậm so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiều địa phương phải lùi kế hoạch trồng rừng vào những tháng cuối năm, ước tính cả nước trồng được 103,1 nghìn ha, bằng 99,6% cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác (kể cả gỗ nguyên liệu giấy) đạt 1328 nghìn m3, tăng 0,9% so với 6 tháng đầu năm 2004. Gỗ khai thác chủ yếu từ rừng trồng, chiếm 69%.

Mặc dù công tác quản lý bảo vệ rừng luôn được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao, do hạn hán kéo dài và lực lượng kiểm lâm còn mỏng. Trong 6 tháng đầu năm 2005, cả nước có 4546 ha rừng bị thiệt hại, trong đó 4005 ha bị cháy, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh xảy ra cháy lớn làm thiệt hại nhiều diện tích là Kon Tum: 1048 ha, Điện Biên: 766 ha, Yên Bái: 370 ha.

  1. Thuỷ sản

Khai thác và nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm nay tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thuỷ sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1542 nghìn tấn, tăng 7,7% so với 6 tháng đầu năm 2004, trong đó nuôi trồng đạt 536,7 nghìn tấn, tăng 17,6%, khai thác đạt 1005,3 nghìn tấn, tăng 3,1%, chủ yếu là  khai thác biển đạt 920 nghìn tấn, tăng 3,9%.

Nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm nay tăng khá, do giá thuỷ sản đầu năm ở mức cao đã khuyến khích nông dân mở rộng diện tích nuôi trồng. Diện tích nuôi trồng 6 tháng ước tính đạt 874,6 nghìn ha, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi tôm 586,6 nghìn ha, tăng 2,6%; diện tích nuôi cá 244,4 nghìn ha, tăng 1,6%. Đã phát triển nuôi thuỷ sản chuyên canh cao như nuôi tôm sú trái vụ, nuôi cá ao hầm ở đồng bằng sông Cửu Long, nuôi lồng bè đa dạng nhiều sản phẩm ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ… Khai thác thuỷ sản tăng, do thời tiết thuận lợi cho khai thác biển, số phương tiện tham gia đánh bắt xa bờ tăng cao hơn cùng kỳ năm trước. Vụ cá Nam được mùa, chủng loại phong phú, nhiều loại có giá trị cao như cá thu, cá chim, cá ngừ đại dương…

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6/2005 ước tính đạt 39,11 nghìn tỷ đồng theo giá so sánh 1994, tăng 17,8 % so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực Nhà nước tăng 9,6% (công nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 16,2% và công nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 4,3%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì mức tăng cao (+24,9%); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,4% (do tăng mạnh ở các nhóm ngành ngoài dầu mỏ và khí đốt (+30,8%) nên đã bù được sự giảm sút tới 15,4% của dầu, khí so với tháng 6/2004).

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 6 sản xuất tăng và tiêu thụ thuận lợi ở thị trường trong nước và xuất khẩu góp phần vào tốc độ tăng chung của 6 tháng đầu năm: Than khai thác tăng 16,7% so với cùng kỳ; thủy sản chế biến tăng 18,6%; bột ngọt tăng 38,2%; xà phòng các loại tăng 17%; sứ vệ sinh tăng 29,6%; xi măng tăng 21,9%; thép cán tăng 25,3%; máy công cụ tăng 131,9%; động cơ điện tăng 19,9%; ô tô các loại tăng 85,4%; điện sản xuất tăng 18,9%;…

Sản xuất điện tháng 6 có tiến bộ hơn do nguồn nước cho thuỷ điện Hoà Bình được cải thiện từ giữa tháng 6, đã tăng sản lượng thuỷ điện và tiếp tục tăng sản xuất nhiệt điện sử dụng khí, mở rộng và huy động tối đa công suất của các nhà máy nhiệt điện, đẩy mạnh việc xây dựng và đưa vào vận hành các nhà máy nhiệt điện mới, mua điện của các nhà máy điện độc lập, đẩy mạnh việc xây dựng và nâng cấp đường dây truyền tải điện…

Tính chung 6 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính đạt 205,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ 2004; trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,7% (Trung ương quản lý tăng 13,6%; địa phương quản lý tăng 1,5%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,9% (trong đó dầu mỏ và khí đốt giảm 10,4%, các ngành khác tăng 22,8%). Khu vực doanh nghiệp Nhà nước có tốc độ tăng trưởng thấp, đặc biệt là công nghiệp Nhà nước địa phương quản lý chỉ tăng 1,5%, do sắp xếp lại và đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, giảm số doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý có qui mô nhỏ và làm ăn không hiệu quả, chuyển sang các hình thức sở hữu và kinh doanh phù hợp và hiệu quả hơn (các địa phương có công nghiệp Nhà nước địa phương quản lý giảm mạnh trong 6 tháng là Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hải Dương, Phú Thọ và Quảng Ninh).

Trong ba ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp chế biến, chiếm khoảng 84% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, tăng 16,9% so với 6 tháng đầu năm 2004; công nghiệp khai thác mỏ, chiếm tỷ trọng 10%, chỉ tăng 6,6% (trong đó, khai thác dầu mỏ và khí đốt giảm 10,4%, khai thác than tăng 23,1%), sản xuất và phân phối điện, ga, nước (chiếm 6% so với toàn ngành) tăng 14%.

Sản lượng than sạch khai thác 6 tháng ước tính đạt 15,7 triệu tấn tăng 23,1% (sản xuất than tăng  nhanh một phần quyết định do xuất khẩu than tăng mạnh cả lượng và giá ngay từ các tháng đầu năm và tăng nhu cầu than cho sản xuất điện). Sản lượng dầu thô khai thác 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 8,93 triệu tấn, giảm 12,2% so với 6 tháng đầu năm trước, khí đốt thiên nhiên 3,37 tỷ m3, tăng 10,8%.

Sản lượng điện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 25,24 tỷ kwh, tăng 14,8% so với 6 tháng đầu 2004; trong đó điện cho công nghiệp và xây dựng tăng 16%; phục vụ sinh hoạt tăng 13,7%. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và phụ tải điện tăng mạnh, đặc biệt là phụ tải của hệ thống điện miền Bắc (từ giữa tháng 5 đã đạt 60 triệu kwh/ngày, tăng 28% so với lượng trung bình ngày trong tháng 5 năm 2004), nhưng ngành điện đã huy động mọi nguồn lực để cung cấp điện cho sản xuất và sinh hoạt.

Trong công nghiệp chế biến, nhiều sản phẩm quan trọng có tốc độ tăng cao như: thuỷ sản chế biến ước tính đạt 250,3 nghìn tấn, tăng 18,8%; phân hoá học ước tính đạt 1,13 triệu tấn, tăng 55,3% (tuy tăng cao, nhưng sản lượng này chưa đáp ứng được một nửa nhu cầu tiêu thụ trong nước, trong khi giá cả nhập khẩu của phân hoá học hiện tăng cao gấp gần 3 lần giá nhập khẩu 2002); sản xuất thép các tháng bị ảnh hưởng ở mức độ khác nhau, bởi giá thép thành phẩm và giá phôi thép trên thị trường thế giới biến động phức tạp, tính chung cả 6 tháng sản lượng thép cán ước tính đạt 1,68 triệu tấn, tăng 19,5%; xi măng ước tính đạt 13,75 triệu tấn, tăng 15,3%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm có tốc độ tăng cao so với 6 tháng năm 2004 như  sứ vệ sinh tăng 27,7%; máy công cụ tăng 39,3%; động cơ điện tăng 21%; ô tô lắp ráp tăng 41,7% (sản lượng 6 tháng đạt 27,8 nghìn chiếc)…

Đáng chú ý là trong công nghiệp chế biến, một số sản phẩm xuất khẩu như quần áo may sẵn, giày dép, thuỷ sản chế biến… tăng thấp so với cùng kỳ, do khó khăn về thị trường (từ 1/1/2005 bỏ hạn ngạch xuất khẩu dệt may cho các nước WTO, trong đó có Trung Quốc, một trong những nước xuất khẩu hàng đầu về dệt may và có khả năng cạnh tranh rất cao, trong khi Việt Nam vẫn bị áp đặt hạn ngạch ở thị trường Mỹ (khó khăn trong xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ, vì phải nộp tiền ký quĩ chống bán phá giá…).

Trong 6 tháng, một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn trong cả nước có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên mức tăng 15,6% của công nghiệp cả nước như: Hà Nội +19,1%; Hải Phòng +16,1%; Vĩnh Phúc +44,6%; Hà Tây +20,5%; Hải Dương +21,9%; Quảng Ninh +17,5%; Đà Nẵng +19,4%; Khánh Hoà +16,2%; Bình Dương +34,4%; Đồng Nai +20,8%; Cần Thơ +31,6%… Riêng thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 1/4 giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, nhưng chỉ tăng 12,7% so với 6 tháng đầu năm trước, thấp hơn mức tăng chung của cả nước 2,9 điểm phần trăm, công nghiệp trên địa bàn Bà Rịa- Vũng Tàu cũng chỉ tăng 10,9%.

  1. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2005 theo giá thực tế ước tính đạt 139,4 nghìn tỷ đồng, bằng 46,5% kế hoạch năm và tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số vốn đầu tư, vốn Nhà nước chiếm 52,8%, đạt 43% kế hoạch năm và tăng 19,1 %; vốn ngoài Nhà nước chiếm 28,9%, đạt 48,3% kế hoạch và tăng 27,3 %; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,4%, đạt 56,5% và tăng 7,9%. Cụ thể như sau:

 

Bảng 2. Thực hiện vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2005

 

 

 Kế hoach 2005    (Nghìn tỷ đồng)Ước tính thực hiện 6 tháng  2005     (Nghìn tỷ đồng)Ước thực hiện 6 tháng năm  2005 so với  ( %)
Kế hoạch      2005Thực hiện 6 tháng năm   2004
TỔNG SỐ300,0139,446,5119,2
Vốn Nhà nước171,073,643,0119,1
Vốn ngoài Nhà nước86,041,548,3127,3
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài43,024,356,5107,9

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 6 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt gần 25,3 nghìn tỷ đồng, đạt 48,7% kế hoạch năm, trong đó vốn thuộc trung ương quản lý ước tính thực hiện 10,3 nghìn tỷ đồng, đạt 51,6% kế hoạch năm, trong đó các Bộ có vốn đầu tư lớn là Bộ Giao thông Vận tải đạt 4428 tỷ đồng, chiếm 43,1% vốn trung ương quản lý, đạt 76,9% kế hoạch; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được 1067 tỷ đồng, đạt 58,4%; Bộ Y tế 286,9 tỷ đồng, đạt 33,8%, Bộ Giáo dục- Đào tạo 238,8 tỷ đồng đạt 39,8%. Vốn thuộc địa phương quản lý ước tính thực hiện 15 nghìn tỷ đồng, chiếm 59,4% tổng số, đạt 46,9% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 35,9%, Hải Phòng đạt 45,7%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 38,2%, Lai Châu đạt 47,9%, Nghệ An đạt 46,4%, Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 49,1%, Long An đạt 60,7%, Sóc Trăng đạt 56,1%,  Kiên giang đạt 44,2% Bạc Liêu đạt 52%…

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến hết 20/6/2005 có 323 dự án mới đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1867,6 triệu USD. Bình quân 1 dự án đạt gần 5,8 triệu USD (cùng kỳ năm trước đạt 2,9 triệu USD/dự án).

Ngành công nghiệp, xây dựng có 229 dự án với vốn đăng ký 909,7 triệu USD, chiếm 70,9% về số dự án và 48,7% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản có 26 dự án với 45,5 triệu USD, chiếm 8% về số dự án và 2,4% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 68 dự án với 912,4 triệu USD, chiếm 21,1% về số dự án và 48,9% về  vốn đăng ký.

Hà Nội đứng đầu cả nước về số vốn đăng ký có 33 dự án với 865,4 triệu USD, tiếp đến là Đồng Nai 26 dự án với 277 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh 108 dự án với 179,1 triệu USD, Bình Dương 66 dự án với 165,2 triệu USD, Phú Yên 1 dự án với 70 triệu USD, Đà Nẵng 5 dự án với 56,1 triệu USD, Vĩnh Phúc 11 dự án với 35,4 triệu USD, Tuyên Quang 1 dự án với 25 triệu USD, Bình Thuận 3 dự án với 20,7 triệu USD, Long An 2 dự án với 19,1 triệu USD…

Từ đầu năm đến 20/6/2005 có 33 nước và vùng lãnh thổ có dự án mới đầu tư được cấp phép. Các đối tác có vốn đăng ký lớn là: Lúc-xăm-bua có 2 dự án với 770,5 triệu USD, Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 14 dự án với 276,2 triệu USD, Đài Loan 68 dự án với số vốn 165,7 triệu USD, Nhật Bản 36 dự án với 161,8 triệu USD, Hàn Quốc 72 dự án với 106,7 triệu USD, Ma- lai-xi-a 6 dự án với 77 triệu USD, Hoa Kỳ 22 dự án với 76,1 triệu USD;  Xin-ga-po 20 dự án với 48,8 triệu USD, CHND Trung Hoa 17 dự án với 42,6 triệu USD; Đảo Virgin thuộc Anh 11 dự án với 35,3 triệu USD…

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Trong 6 tháng đầu năm thị trường trong nước diễn biến khá sôi động, nhất là đối với thị trường ở các địa phương có các lễ hội lớn (Kỷ niệm 30 năm giải phóng Miền Nam, các lễ hội lớn ở Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam, Đà Lạt…). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội 6 tháng đầu năm nay (theo giá thực tế) ước tính đạt 216,7 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng trên 9%. Các khu vực kinh tế (trừ kinh tế Nhà nước) đều có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khu vực kinh tế tập thể đạt 2,3 nghìn tỷ đồng (chiếm 1,1%), tăng 37,3%; khu vực kinh tế cá thể đạt 136,8 nghìn tỷ đồng (chiếm 63,1%), tăng 18,7%; khu vực kinh tế tư nhân đạt 43 nghìn tỷ đồng (chiếm 19,9%) tăng 33,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 5,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,5%) tăng 40,2%. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ xã hội của Hà Nội đạt 20,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,4% tổng số, tăng 18,5%, thành phố Hồ Chí Minh  đạt 50,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% tổng số và tăng 19,5%.

Phân tích theo các ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm gần 79,9% tổng mức, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, khách sạn nhà hàng chiếm 13,4% nhưng có tốc độ tăng tới gần 30%. Số liệu cụ thể của các ngành như sau:

Bảng 3.  Tổng mức bán lẻ hàng hoá

và dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2005

Thực hiện 6 tháng                           đầu năm 2005Tốc độ tăng 6 tháng đầu năm 2005 so với cùng   kỳ năm 2004 (%)
Tổng mức (Nghìn tỷ đồng)Cơ cấu                 (%)
TỔNG SỐ216,7100,018,9
Thương nghiệp173,179,916,7
Khách sạn, nhà hàng29,013,429,8
Dịch vụ13,06,028,3
Du lịch1,60,712,6

Giá tiêu dùng so với tháng trước của tất cả các tháng từ đầu năm đến nay đều tăng, tuy mức độ tăng thấp hơn một chút so với mức tăng giá so với tháng trước của các tháng tương ứng trong 6 tháng đầu năm 2004 và mức độ tăng khác nhau giữa các tháng (tháng 2 tăng cao nhất + 2,5%, tháng 3 tăng với mức thấp nhất + 0,1%, các tháng còn lại tăng từ 0,4-1,1%).

Giá tiêu dùng tháng 6/2005 tăng 0,4% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,5% (đáng chú ý là giá lương thực giảm 0,5%, sau khi đã tăng liên tục trong 7 tháng trước đó, trong khi giá thực phẩm liên tục tăng từ tháng 12/2004 và tháng này tiếp tục nhích lên 0,9% so với mức tăng 0,8% của tháng 5). Giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng khác có xu hướng tăng, giảm khác nhau so với mức tăng giá tháng 5: Nhà ở, vật liệu xây dựng không tăng (tháng 5 tăng 0,8%); nhóm đồ uống, thuốc lá giảm 0,2% (tháng 5 tăng 0,8%); phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,1% (tháng 5 tăng 0,4%).

Giá tiêu dùng so với tháng 12/2004 đều nhích dần lên qua các tháng từ đầu năm đến nay, do giá tiêu dùng của tất cả các tháng (từ tháng Một đến tháng Sáu) đều tăng so với tháng trước, tuy ở mức độ khác nhau; Giá tháng 6 tăng 5,2% so với tháng 12 năm trước; trong đó lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống tăng tới 7,7% (lương thực tăng 5,1% và thực phẩm tăng 8,7%), là nhóm tăng cao nhất và có tỷ trọng lớn trong tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ của dân cư, nên nhóm lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống là nhóm đóng góp nhiều nhất vào tăng giá trong 6 tháng. Giá của tất cả các nhóm còn lại cũng đã tăng từ 1,2% đến 3,1% so với tháng 12 năm trước.

Giá tiêu dùng tháng 6 tăng 7,6% so với tháng 6 năm 2004. Bình quân 6 tháng đầu năm nay giá tiêu dùng đã tăng 8,6% so với 6 tháng đầu năm trước.

 

Bảng 4. Chỉ số giá tiêu dùng

%

 20012002200320042005
Tháng trước = 100
Tháng 1100,3101,1100,9101,1101,1
Tháng 2100,4102,2102,2103,0102,5
Tháng 399,399,299,4100,8100,1
Tháng 499,5100,0100,0100,5100,6
Tháng  599,8100,399,9100,9100,5
Tháng  6100,0100,199,7100,8100,4
Tháng 12 năm trước=100
Tháng 1100,3101,1100,9101,1101,1
Tháng 2100,7103,3103,1104,1103,6
Tháng 3100,0102,5102,5104,9103,7
Tháng 499,5102,5102,5105,4104,3
Tháng  599,3102,8102,4106,3104,8
Tháng  699,3102,9102,1107,2105,2
Cùng tháng năm trước = 100
Tháng 199,4101,9103,9103,2109,7
Tháng 298,2103,6103,7104109,1
Tháng 398,6103,4103,9105,5108,4
Tháng 498,8103,7103,8106108,5
Tháng  599,2104,1103,5107,1108,1
Tháng  699,7104,2103,2108,3107,6

Giá vàng trong 6 tháng có xu hướng giảm. Giá vàng các tháng đều giảm nhẹ so với tháng trước (Trừ giá vàng tháng 3 tăng 2%), do vậy giá vàng tháng  6 chỉ bằng 95,6% giá vàng tháng 12 năm trước (giá tháng 1 = 98% giá tháng 12). Tuy nhiên, giá vàng trong các tháng đầu năm so với cùng kỳ vẫn ở mức cao, bình quân 6 tháng tăng 6,4%.

Giá đô la Mỹ tương đối ổn định trong 6 tháng đầu năm, giá các tháng so với tháng trước không thay đổi hoặc chỉ tăng ở mức 0,1%. Giá đô la Mỹ các tháng so với tháng 12 năm trước chỉ tăng nhẹ, giao động trong khoảng từ 0 đến 0,3%.  Mức tăng giá bình quân 6 tháng so với cùng kỳ là  0,4%.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 32,44 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu ước tính đạt 14,44 tỷ USD, tăng 17,4%, kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 18 tỷ USD, tăng 22%. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chậm dần qua các tháng trong khi tốc độ tăng nhập khẩu hàng hoá lại có xu hướng ngược lại, do vậy nhập siêu tăng dần lên. Nhập siêu 6 tháng ước tính đạt 3,5 tỷ USD, bằng 24,7% kim ngạch xuất khẩu, cao hơn tỷ lệ 20% của 6 tháng đầu năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2005 tuy mới  đạt 47% kế hoạch năm, nhưng tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 1 tháng đạt gần 2,4 tỷ USD, cao hơn mức bình quân 2,05 tỷ USD trong 6 tháng năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 11,07 tỷ USD, tăng 13,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,26 tỷ USD tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,8 tỷ USD, tăng 17,8%.

Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, 4 mặt hàng chủ lực dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản có kim ngạch 7,86 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và đóng góp tới 8,1 điểm phần trăm trong tốc độ tăng chung, trong đó riêng dầu thô đóng góp 7 điểm phần trăm. Xuất khẩu dầu thô ước tính đạt 3,37 tỷ USD, tăng 34,1% so với 6 tháng đầu năm trước, chủ yếu do giá tăng mạnh trong khi lượng xuất khẩu dầu thô giảm 9,7% so với cùng kỳ. Các mặt hàng dệt may, giày dép đều tăng thấp so với cùng kỳ năm trước do khó khăn về thị trường. Xuất khẩu thuỷ sản cũng chỉ tăng 9,3%. Kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu giảm như cà phê giảm 7,8%, hạt tiêu giảm 14,2%, chè giảm 19,6%, xe đạp và phụ tùng xe đạp giảm 18,7%, dầu mỡ động thực vật giảm 65%, đồ chơi trẻ em giảm 23,6%. Đáng lưu ý là bên cạnh lượng xuất khẩu dầu thô 6 tháng giảm so với cùng kỳ 2004, lượng xuất khẩu của phần lớn các nông sản xuất khẩu (trừ gạo tăng 10,6% và lạc tăng 30,2%) đều không đạt mức xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2004. Theo số liệu thống kê 5 tháng đầu năm, một số thị trường có tốc độ tăng trưởng khá như thị trường Mỹ, chiếm tỷ trọng 16,8% tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng, tăng 13,2% so cùng kỳ năm trước (thị trường Mỹ vẫn đứng đầu về hàng dệt may, giày dép, gỗ, sản phẩm gỗ và thuỷ sản); Thị trường Nhật Bản chiếm khoảng 14%, tăng 37,5%; Thị trường ASEAN, chiếm khoảng 13,7%, tăng 46,4%; Thị trường Ô-xtrây-li-a tăng tới 73,7%… Riêng thị trường EU, chiếm 13,8% thị phần, giảm 8%, chủ yếu giảm ở các mặt hàng lớn  như dệt may, giày dép do cạnh tranh mạnh mẽ của hàng Trung Quốc, Pakistan, Băng-la-đét, Ấn Độ…

Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 18 tỷ USD, tăng  22% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 11,7 tỷ USD, tăng 22,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 6,3 tỷ USD, tăng 21,2%. Hầu hết các mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước có kim ngạch nhập khẩu tăng khá so với cùng kỳ năm trước, song do giá nhập khẩu một số mặt hàng như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước đã làm tăng đáng kể kim ngạch nhập khẩu, trong khi lượng nhập của các mặt hàng tương ứng lại tăng thấp hoặc giảm: Nhập khẩu xăng dầu ước tính đạt 5,94 triệu tấn, tương ứng với 2,32 tỷ USD, chỉ tăng 2,3% về lượng nhưng tăng 36,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; Nhập khẩu sắt thép ước tính đạt 2,66 triệu tấn, tương ứng với 1,53 tỷ USD, lượng tăng 7,3%, nhưng kim ngạch tăng 30,6%; Kim ngạch nhập khẩu vải tăng 13,3%, hoá chất tăng 36,4%, chất dẻo tăng 30,6%, tân dược tăng 14,4%, sản phẩm hoá chất tăng 22,4%, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 14%. Năm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có kim ngạch giảm so với 6 tháng đầu năm 2004 là phôi thép giảm 1,3%;  phân bón giảm 13,5%, do nguồn cung trong nước tăng; nguyên phụ liệu dệt may giảm 4,1%, bông giảm 10,3%; dầu mỡ động, thực vật giảm 13,1% .

Bảng 4.  Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 6 tháng đầu năm 2005

 

Tổng

Số

Chia ra
Xuất khẩuNhập khẩu
Tổng trị giá (Triệu USD)32439    1443918000
 Khu vực kinh tế trong nước17964626311701
 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài1447581766299
6 tháng đầu năm 2005                                    so với cùng kỳ năm 2004 (%)                119,9 

117,4

 

122,0          

 Khu vực kinh tế trong nước117,7109,8122,5
 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài122,8124,0121,2

Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 544,7 triệu lượt hành khách và gần 23,7 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,7% về lượt khách và tăng 11,2% về lượt khách.km. Trong đó, vận tải hành khách ngoài nước tăng mạnh cả về số khách và khách luân chuyển (tăng 27,4% về lượt khách và 29,9% về lượt khách.km) nhờ tăng khách du lịch đến và ra nước ngoài. Vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 8% về số khách và tăng 11,6% về số khách.km, các con số tương ứng của vận tải hành khách bằng hàng không tăng 23,4% và tăng 26,4%, bằng đường bộ tăng 5,4% và tăng 7,4%.

Vận chuyển hàng hoá đạt 136,3 triệu tấn và 38,6 tỷ tấn.km, so với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 5,9% về tấn và tăng 7,9% về tấn.km, trong đó vận tải hàng hoá bằng đường sắt tăng 3,5% và tăng 2%, bằng đường biển tăng 9,5% và tăng 9,2%, bằng đường bộ tăng 5,8% và tăng 3,6%, bằng đường sông tăng 5% và tăng 4,7%. Nhìn chung, hoạt động vận tải đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế. Song đáng lo ngại là trong 6 tháng đầu năm nay còn xảy một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.

 Khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2005 đạt 1,72 triệu lượt người, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1,03 triệu lượt người, tăng 40,4%; vì công việc 220,2 nghìn lượt người, giảm 13%; thăm thân nhân 264 nghìn lượt người, tăng 12,1%; vì mục đích khác 210,8 nghìn lượt người, tăng 22,5%. Khách đến Việt Nam từ CHND Trung Hoa với 405,8 nghìn lượt người, tăng 5,7%, từ Mỹ 166,9 nghìn lượt người, tăng 19,4%, Hàn Quốc 153,5 nghìn lượt người, tăng 60,3%, từ Đài Loan 138,2 nghìn lượt người, tăng 11,9%, từ Nhật Bản 137,2 nghìn lượt người, tăng 21,6%, từ Ô- xtrây-li-a 70,4 nghìn lượt người, tăng 17%…

  1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
  2. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm nay nhìn chung ổn định. Các ngành và địa phương đã có nhiều biện pháp tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời trong các dịp lễ, tết đã góp phần cải thiện đời sống cho người lao động. Trong 6 tháng đầu năm, ước tính thu nhập bình quân một tháng của lao động trong khu vực Nhà nước đạt trên 1,5 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân của lao động Nhà nước trung ương quản lý đạt 2 triệu đồng và lao động Nhà nước địa phương quản lý đạt 1,2 triệu đồng. Tuy nhiên, mức thu nhập này không đồng đều giữa các ngành và các địa phương; một số đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, thiếu việc, nợ lương, chậm lương đã ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận người lao động. Ở nông thôn, thời gian qua tình hình thời tiết diễn biến bất thường, hạn hán kéo dài ở nhiều địa phương trong cả nước đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư một số vùng. Tình trạng thiếu đói trong 6 tháng qua tập trung chủ yếu ở một số tỉnh vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên tăng so với cùng kỳ năm 2004. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 18,8 nghìn tấn lương thực và 10,6 tỷ đồng.

  1. Văn hoá, thông tin và thể dục, thể thao

Hoạt động văn hoá thông tin 6 tháng đầu năm tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc như đón Xuân Ất Dậu, Giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng, 115 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 30 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc và nhiều hoạt động tiến tới kỷ niệm 60 năm nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ với nội dung phong phú được tổ chức rộng khắp cả nước.  Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh; công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá được tăng cường. Trong 6 tháng đầu năm đã tiến hành nhiều đợt thanh tra và kiểm tra văn hoá tại các địa phương, phát hiện và xử lý nhiều trường hợp vi phạm. Đặc biệt, trong thời gian qua Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành tổng kiểm tra hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá như vũ trường, quán bar, karaoke, đã phát hiện một số vụ vi phạm nghiêm trọng.

Hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng thu hút hàng vạn người tham dự với các giải bóng đá, bóng bàn, cầu lông, võ thuật, vật dân tộc, đua thuyền truyền thống… Tiếp tục triển khai cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và các chương tình phổ cập, phòng chống tai nạn cho trẻ em ở các tỉnh thường xuyên bị lũ lụt. Một số hoạt động thể dục thể thao dành cho đồng bào dân tộc ít người đã được tổ chức như Ngày hội Văn hoá Thể thao dân tộc Khmer Nam Bộ tại Trà Vinh; Hội thi Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi toàn quốc khu vực II tại Đắk Lắk. Trong 6 tháng đầu năm, Uỷ ban Thể dục Thể thao cũng đã chỉ đạo Sở Thể dục Thể thao các tỉnh, thành phố tiến hành Đại hội Thể dục Thể thao các cấp, tiến tới Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ V năm 2006. Đến nay hơn 2/3 số xã, phường và 1/3 số huyện trên cả nước đã hoàn thành Đại hội Thể dục Thể thao các cấp.

Trong thể thao thành tích cao, đã tập trung chủ yếu vào công tác chuẩn bị lực lượng tham dự SEA Games 23 được tổ chức cuối năm nay tại Phi-li-pin. Đến 15/6 đã triệu tập tập huấn 47 đội tuyển quốc gia, đội tuyển trẻ với 801 vận động viên; 131 huấn luyện viên và 40 chuyên gia nước ngoài tại 3 trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia và một số cơ sở đào tạo khác của ngành. Trong 6 tháng đầu năm đã tổ chức hơn 60 giải thi đấu thể thao thành tích cao ở trong nước; ngoài ra, đã tham gia thi đấu tại nhiều giải quốc tế và đã đạt được những kết quả cao với 31 huy chương vàng, 21 huy chương bạc và 28 huy chương đồng.

  1. Giáo dục, đào tạo

Thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2004-2005

Năm học 2004-2005 cả nước có 1,56 triệu học sinh dự thi tốt nghiệp trung học cơ sở, tăng 11,7% so với năm học trước và 820,1 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 10,1%. Nhìn chung, cả 2 kỳ thi đã diễn ra an toàn, tuy nhiên kết quả thi tốt nghiệp trung học cơ sở của Khánh Hoà đạt thấp (64,1%). Theo báo cáo nhanh của 52 tỉnh, thành phố, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở năm học 2004-2005 đạt 96,4%, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 99,3%; vùng Đông Bắc Bộ 97,9%; Tây Bắc Bộ 94,9%; Bắc Trung Bộ 96,3%; duyên hải Nam Trung Bộ 90,5%; Tây Nguyên 95,3%; Đông Nam Bộ 96,6% và đồng bằng sông Cửu Long đạt 96,7%.  Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông cả nước ước tính đạt 89,2%, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 96,6%; Đông Bắc Bộ 95,8%; Tây Bắc Bộ 83,5%; Bắc Trung Bộ 92,7%; duyên hải Nam Trung Bộ 85,6%; Tây Nguyên 83,7%; Đông Nam Bộ 86,2% và đồng bằng sông Cửu Long đạt 75,1%.

Phổ cập giáo dục

Đến nay, cả nước có 24/64 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng cả 11 tỉnh đều đạt. Các tỉnh đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là: Hà Nội, Hải Phòng Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ,  Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long.

Về phổ cập trung học cơ sở, đến nay có 26 tỉnh đã đạt chuẩn: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Hoà Bình, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Bình Định, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cần Thơ, Hậu Giang. Đến cuối năm nay sẽ có thêm Bắc Kạn, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hoà, Vĩnh Long và Cà Mau được công nhận là các tỉnh đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

 Tình hình đăng ký dự thi đại học, cao đẳng

Tổng số thí sinh đăng ký dự thi vào các trường đại học và cao đẳng trong cả nước năm học 2005-2006 tính đến ngày 11/5 là 1537,3 nghìn lượt người (chưa kể các trường thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và một số trường cao đẳng sư phạm địa phương), giảm 1,8% so với năm 2004, trong đó số đăng ký thi vào đại học là 1120 nghìn lượt người, tăng 2% và dự thi cao đẳng 417 nghìn lượt người, giảm 12%.

  1. Tình hình dịch bệnh

Trong 6 tháng đầu năm số trường hợp mắc bệnh sốt rét giảm 58,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số người chết giảm trên 80%; số người mắc bệnh sốt xuất huyết giảm 72,8%. Tuy nhiên, số người mắc bệnh thương hàn lại tăng lên. Mặc dù không có trường hợp nào bị tử vong, nhưng 6 tháng đầu năm nay đã có gần 1,3 nghìn trường hợp mắc bệnh, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2004. Cũng trong 6 tháng đầu năm đã có trên 1,8 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 24 người đã tử vong.

Tình hình bệnh viêm phối cấp do virus cúm A-H5N1 còn diễn biến phức tạp. Trong tháng 5 không phát hiện trường hợp nào nhiễm bệnh, nhưng sang tháng 6 đã có 7 trường hợp mắc bệnh, trong đó 1 người đã tử vong. Tính từ trường hợp đầu tiên được phát hiện đến nay, cả nước đã có 87 người mắc bệnh, trong đó 38 người đã tử vong.

Trong 6 tháng đầu năm 2005 đã phát hiện thêm 6,9 nghìn trường hợp nhiễm HIV, trong đó tháng 6 phát hiện trên 1,1 nghìn trường hợp, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/6/2005 lên 96,2 nghìn người, trong đó 15,7 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 9 nghìn người đã chết do AIDS.

  1. Tai nạn giao thông

Trong tháng 5/2005, đã xảy ra trên 1,2 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 1 nghìn người và làm bị thương 1,1 nghìn người. So với tháng 4/2005 tăng 70 vụ; số bị chết tăng 90 người và số bị thương tăng 98 người. So với tháng 5/2004, tai nạn giao thông giảm 18,3% số vụ, giảm 9,2% số người chết và giảm 24,7% số người bị thương. Tính chung 5 tháng đầu năm 2005, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 6,5 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 4,9 nghìn người và làm bị thương 5,6 nghìn người. Tai nạn xảy ra chủ yếu trên đường bộ, chiếm 96,4% tổng số vụ; 97,2% số người chết và 97,3% số người bị thương do tai nạn giao thông trong 5 tháng qua.

Mặc dù tai nạn giao thông 5 tháng đầu năm nay đã giảm 18,3% số vụ; số người chết giảm 6% và số người bị thương giảm 23,6% so với so với cùng kỳ năm 2004, nhưng tai nạn giao thông vẫn ở mức cao. Bình quân mỗi ngày trong 5 tháng qua xảy ra 43 vụ tai nạn, làm chết 33 người và làm bị thương 37 người. Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm 2005 đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng như vụ đổ tàu E1 tại Thừa Thiên-Huế ngày 12/3, làm 11 người chết, gần 80 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 21/4 tại Kon Tum làm chết 31 người; tai nạn tại Chư Prông, Gia Lai ngày 9/5 làm chết 9 người và tai nạn tại Lai Châu ngày 15/5 làm chết 19 người…

  1. Thiệt hại do lụt bão

Từ đầu năm đến nay đã xảy ra như mưa to, lũ, gió lốc, sét đánh, sạt lở đất… tại 26 tỉnh trong cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 35 người chết, 160 người bị thuơng; hàng vạn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hại; trên 600 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, hàng vạn nhà bị tốc mái, hư hại và nhiều công trình kinh tế-xã hội bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 83 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế- xã hội nước ta trong 6 tháng đầu năm 2005 tiếp tục phát triển và ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng trưởng của 6 tháng đầu các năm trước và tăng trưởng quí II cao hơn quí I. Các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tuy chưa đạt yêu cầu như kế hoạch đề ra, nhưng tốc độ tăng 7,6% là tương đối cao (Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) trong  tuần trước, năm 2005 tăng trưởng bình quân của các nền kinh tế châu Á, trừ Nhật Bản đạt 6,5%, tăng so với dự kiến 6,2% đã đưa ra từ tháng 9/2004). Xuất khẩu tăng cao so với kế hoạch, bình quân tháng đạt 2,4 tỷ USD. Thu ngân sách đạt trên 50% kế hoạch năm và tăng so với cùng kỳ năm trước nên cơ bản đảm bảo các khoản chi thường xuyên chi đầu tư phát triển. Giá cả vẫn tăng cao nhưng mức tăng thấp hơn cùng kỳ năm trước. Tình hình xã hội ổn định; văn hoá, y tế , giáo dục tiếp tục phát triển.

Phát triển kinh tế – xã hội những tháng cuối năm có những thuận lợi trong tình hình kinh tế thế giới phát triển. Nhưng nhiệm vụ tăng trưởng và phát triển kinh tế còn lại của 6 tháng cuối năm là khá nặng nề, cần có sự nỗ lực cao của các cấp, các ngành và sự tập trung chỉ đạo cao độ.

Để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng của năm là 8,5%, cần quan tâm giải quyết các khó khăn, tạo đà phát triển mạnh hơn nữa trong các ngành kinh tế quan trọng như công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu và cần có các giải pháp hữu hiệu để ổn định giá cả, kiềm chế xu hướng giá cả tăng cao trong những tháng cuối năm.