1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Lúa đông xuân: Trong tháng 5, các địa phương phía Nam tập trung thu hoạch lúa đông xuân, năng suất ước tính đạt 59 tạ/ha, tăng 2,3 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng ước tính đạt 10,6 triệu tấn, tăng 26,7 vạn tấn. Trong đó, các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch xong với năng suất ước tính đạt 61,4 tạ/ha, tăng 2,7 tạ/ha và sản lượng đạt 9 triệu tấn, tăng 47 vạn tấn. Các tỉnh có năng suất tăng khá so với năm 2004 là: An Giang tăng 4,1 tạ/ha; Kiên Giang tăng 4,2 tạ/ha; Đồng Tháp tăng 3,2 tạ/ha. Hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất lúa đông xuân của các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Tính chung ba vùng trên, diện tích lúa giảm 37,4 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; năng suất giảm 0,76 tạ/ha; sản lượng giảm 203,9 nghìn tấn, trong đó các tỉnh có sản lượng giảm nhiều là Đắk Lắk giảm 60,1 nghìn tấn, Ninh Thuận giảm 38 nghìn tấn, Tây Ninh giảm 27,2 nghìn tấn, Bình Thuận giảm 27 nghìn tấn.

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc ước tính đạt 1150 nghìn ha, giảm 12,9 nghìn ha, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng giảm 12,5 nghìn ha do gặp khó khăn về nước tưới nên một phần diện tích phải chuyển sang trồng màu. Tuy nhiên, một số tỉnh vùng Đông Bắc đã chủ động được nguồn nước nên diện tích lúa đông xuân tăng so với cùng kỳ (Yên Bái tăng 400 ha, Thái Nguyên tăng 257 ha, Phú Thọ tăng 833 ha).

Lúa hè thu: Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 1077,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 92,2% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 980,6 nghìn ha, bằng 94%. Các tỉnh có tiến độ xuống giống bằng hoặc nhanh hơn cùng kỳ năm trước như An Giang bằng 100%, Đồng Tháp bằng 103%, Tiền Giang bằng 104%; Kiên Giang bằng 127%… Tuy nhiên còn một số tỉnh xuống giống chậm như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ và Bạc Liêu, do nước mặn xâm nhập sâu.

Một số cây trồng khác: Cũng đến trung tuần tháng 5/2005, cả nước đã gieo trồng được 560,5 nghìn ha ngô, bằng 105,1% cùng kỳ năm 2004; 120,1 nghìn ha khoai lang, bằng 86,7%; 183,6 nghìn ha lạc, bằng 99,1%; 110,1 nghìn ha đậu tương, bằng 126,1%; 14,8 nghìn ha thuốc lá, bằng 91,9%; mía trồng mới 32 nghìn ha, bằng 111,5%; rau đậu đạt 389 nghìn ha, bằng 95,6%.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2005, cả nước có 26 triệu con lợn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 99,5% đàn lợn tại thời điểm 1/8/2004, trong đó lợn thịt tăng 6,5%; lợn nái tăng 5,9%. Đàn bò có xu hướng tăng mạnh nhờ chủ trương khuyến khích phát triển chăn nuôi bò, nông dân được vay tiền để mua bò giống. Đàn gia cầm đã bắt đầu được khôi phục, song còn chậm, ước tính tăng so với cùng kỳ, nhưng chủ yếu phát triển ở những hộ có quy mô nhỏ.

Lâm nghiệp

Hoạt động lâm sinh tháng 5 đạt xấp xỉ mức cùng kỳ năm trước: Chăm sóc rừng trồng cả nước bằng 99%; khoanh nuôi tái sinh và trồng dặm bằng 98,7%; trồng cây phân tán bằng 97,4%. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng bằng 101,4%. Tính chung 5 tháng, chăm sóc rừng trồng bằng 99,8% cùng kỳ năm 2004; khoanh nuôi tái sinh và trồng dặm bằng 99,7%; trồng cây phân tán bằng 99,8%; diện tích rừng trồng tập trung bằng 99,8%; sản lượng gỗ khai thác bằng 100,1%.

Mặc dù công tác bảo vệ rừng luôn được quan tâm nhưng từ đầu năm đến nay, tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng vẫn xảy ra ở một số tỉnh, trong đó Sơn La cháy 120 ha, Yên Bái 143 ha, Tây Ninh 263 ha; Bình Phước thiệt hại 519 ha do chặt phá và lấn chiếm đất rừng.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 5 ước tính đạt 257,9 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 78,5 nghìn tấn, tăng 13,8%; sản lượng khai thác đạt 179,4 nghìn tấn tăng 3,1%, riêng khai thác biển 167,5 nghìn tấn, tăng 3,4%. Nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long gặp khó khăn do nắng nóng kéo dài, khiến nguồn nước nhiễm mặn làm thiệt hại một bộ phận nuôi thả tôm sú; mặt khác do khó khăn về thị trường xuất khẩu thuỷ sản và lượng xuất khẩu thuỷ sản tăng chậm.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2005, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 1320,3 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 427 nghìn tấn, tăng 12,4%; khai thác 893,3 nghìn tấn, tăng 3,0%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 5/2005 ước tính đạt 38,41 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,2% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 16,2% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 2,5%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì mức tăng cao (+25%); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,6% (do tăng mạnh ở các nhóm ngành ngoài dầu mỏ và khí đốt (+26,6%) nên đã bù được sự giảm sút tới 11,4% của dầu, khí so với tháng 5/2004).

Công nghiệp khai thác dầu mỏ và khí đốt tháng 5 tiếp tục giảm so với cùng kỳ do cả ba sản phẩm là dầu thô khai thác, khí đốt thiên nhiên và ga hoá lỏng đều giảm, đặc biệt là dầu thô khai thác và ga hoá lỏng giảm mạnh hơn mức giảm của tháng 4: Dầu thô khai thác giảm 15,2% (tháng 4/2005 giảm 10,1% so với cùng kỳ), khí đốt thiên nhiên giảm 11,1% và ga hoá lỏng giảm 5,1% (tháng 4 giảm 3,3%). Sản xuất điện tháng 5 có nhiều khó khăn, đặc biệt là thuỷ điện do hạn hán kéo dài và lũ tiểu mãn chưa về nên thiếu nguồn nước, điện của Tổng công ty điện lực sản xuất tháng 5, chiếm trên 3/4 sản lượng điện sản xuất của cả nước, chỉ đạt ngang mức của cùng kỳ năm trước. Nhờ các giải pháp tích cực của Chính phủ và ngành điện như tăng sản xuất nhiệt điện sử dụng khí, tải điện từ Nam ra Bắc, khuyến khích sản xuất điện ở một số ngành khác thuộc khu vực ngoài Nhà nước nên đã khắc phục được khó khăn về điện dùng nội bộ trong các ngành này và để bán cho Tổng công ty Điện lực… đã bù đắp được một phần thiếu hụt về điện do thời tiết khắc nghiệt và hạn chế bớt được thiệt hại trong sản xuất do mất điện gây ra. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của công nghiệp chế biến tăng cao so với mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp trong tháng 5 như: Than sạch khai thác tăng 28,7%, xi măng tăng 21,9%, thép cán tăng 29,7%, máy công cụ tăng 136,8%, động cơ điện tăng 38,7%, quạt điện dân dụng tăng 35,4%, ô tô lắp ráp tăng 30,7%… Bên cạnh đó còn một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm do ảnh hưởng của mức cầu, sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu như: Các sản phẩm dệt may, giày dép, sữa, đường, động cơ diesel, máy biến thế, ti vi lắp ráp…

Tính chung 5 tháng đầu năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức 177 nghìn tỷ đồng (theo giá 1994), trong đó doanh nghiệp Nhà nước đạt 58,36 nghìn tỷ, tăng 10,4% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý đạt 40,85 nghìn tỷ, tăng 13,5% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 3,9%); công nghiệp ngoài Nhà nước tăng 24,4% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,1% (dầu mỏ, khí đốt giảm 9,4%; các ngành khác tăng 21,2%).

Công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh thành phố có qui mô lớn nhìn chung tăng cao so với mức tăng 15,4%. Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 5 tháng, chiếm khoảng 1/4 giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, dự kiến chỉ tăng 12,5% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý chỉ tăng 2,7%; doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý tăng 7,7%; kinh tế ngoài Nhà nước tăng 15% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,2%). Nhìn chung trên phạm vi cả nước, khối công nghiệp địa phương quản lý tăng cao, chủ yếu tăng ở khu vực công nghiệp ngoài Nhà nước, trong khi doanh nghiệp Nhà nước 5 tháng tiếp tục tăng ở mức thấp so với cùng kỳ (+ 3,9%), do tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang các hình thức khác, đặc biệt doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý của một số tỉnh giảm mạnh so với 5 tháng đầu năm trước như Vĩnh Phúc chỉ bằng 26,4% cùng kỳ, Hải Phòng bằng 85,5%, Hải Dương bằng 69,9%, Phú Thọ bằng 87,1%, Quảng Ninh bằng 83,1%, Đà Nẵng bằng 93,2%…

Trong các sản phẩm chủ yếu, than sạch khai thác tăng 27,4%, thuỷ sản chế biến tăng 18,4%, phân hoá học tăng 40,4%, xi măng tăng 17,8%, thép cán tăng 20,1%, máy công cụ tăng 24,8%, động cơ điện tăng 27,7%, quạt điện dân dụng tăng 32,3%, ô tô lắp ráp tăng 23,2% và xe máy lắp ráp tăng 17,2%. Quần áo may sẵn 5 tháng chỉ tăng 10,2% so với cùng kỳ, do xuất khẩu hàng may mặc tiếp tục gặp khó khăn về thị trường và khả năng cạnh tranh với các nước xuất khẩu lớn như Trung Quốc, ấn Độ… Bên cạnh các sản phẩm tăng cao và ổn định, trong 5 tháng đầu năm, nhóm sản phẩm giảm mạnh hoặc tăng thấp so với 5 tháng đầu năm trước và ảnh hưởng đến tốc độ tăng của công nghiệp là dầu mỏ, khí đốt (dầu thô khai thác giảm 12,5%; khí đốt thiên nhiên tăng 6,9%; ga hoá lỏng tăng 0,4%); đường mật giảm 24,9%; vải lụa giảm 2,2%; xe đạp giảm 11,3%; động cơ diesel giảm 7,9%…

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 5 tháng đầu năm 2005 ước thực hiện 20602,9 tỷ đồng, đạt 39,7% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 8755,5 tỷ đồng, đạt 44% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 2907 tỷ đồng, đạt 50,5% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 841 tỷ đồng, đạt 46%; Bộ Y tế 235,9 tỷ đồng, đạt 27,8%; Bộ Giáo dục Đào tạo 210 tỷ đồng, đạt 35%; Bộ Văn hoá Thông tin 97,6 tỷ đồng, đạt 26,8%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung do địa phương quản lý thực hiện 11847,4 tỷ đồng, đạt 37% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 1255 tỷ đồng, đạt 29%; thành phố Hồ Chí Minh 2296,7 tỷ đồng, đạt 30,8%; Hải Phòng 482,1 tỷ đồng, đạt 37,2%; Thanh Hoá 243,5 tỷ đồng, đạt 31,5%; Đắk Lắk 170,7 tỷ đồng, đạt 35,6%; Bà Rịa-Vũng Tàu 634 tỷ đồng, đạt 39,4%; Đồng Nai 511,9 tỷ đồng, đạt 42,7%…

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 20/5/2005 có 259 dự án mới được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1685,9 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 37,8% về số dự án và tăng 171,3% về vốn đăng ký (5 tháng đầu năm 2004 có 188 dự án với vốn đăng ký 621,5 triệu USD). Qui mô bình quân một dự án được cấp phép đạt 6,5 triệu USD, cao gần gấp đôi mức bình quân 3,3 triệu USD của một dự án cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 71% về dự án và 44,9% về vốn; tương tự ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 7,7% và 2,2%; các ngành dịch vụ 21,3% và 52,9%.

Hà Nội tiếp tục đứng đầu cả nước về số vốn đăng ký có 27 dự án với 844,1 triệu USD, tiếp đến là Đồng Nai 26 dự án với 277 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh 91 dự án với 161,6 triệu USD, Bình Dương 43 dự án với 101,5 triệu USD, Phú Yên 1 dự án với 70 triệu USD, Đà Nẵng 4 dự án với 46,1 triệu USD, Tuyên Quang 1 dự án với 25 triệu USD, Vĩnh Phúc 6 dự án với 18,4 triệu USD, Hải Phòng 7 dự án với 18,3 triệu USD…

Tính từ đầu năm đến 20/5/2005 có 31 nước và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư mới vào Việt Nam. Các nước, vùng lãnh thổ có tổng số vốn đăng ký lớn, theo thứ tự từ cao xuống thấp, vẫn là Lúc-xăm-bua có 2 dự án với 770,5 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 8 dự án với 250,2 triệu USD; Nhật Bản 32 dự án với 141,4 triệu USD; Đài Loan 51 dự án với số vốn 112  triệu USD; Hàn Quốc 55 dự án với số vốn 86,2 triệu USD…

  1. Vận tải

Vận chuyển hành khách 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 452,1 triệu lượt hành khách và 19,4 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,4% về lượt hành khách và tăng 10,7% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hàng hoá 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 112,1 triệu tấn và 28,6 tỷ tấn.km, tăng 5,3% về tấn và tăng 7,2% về tấn.km. Trong vận chuyển hàng hoá, vận chuyển bằng đường sắt tăng 4% về tấn và giảm 3% về tấn.km (do việc ngừng xuất khẩu quặng thô qua cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn) và Hà Khẩu (Lào Cai); vận chuyển bằng đường bộ tăng 5,8% về tấn và tăng 3,2% về tấn.km; bằng đường sông tăng 4,8% về tấn và tăng 4,6% về tấn.km; bằng đường hàng không tăng 6,1% về tấn và 6,3% về tấn km. Vận tải hàng hoá bằng đường biển chiếm tỷ trọng 9,6% về tấn nhưng chiếm tới 74% về tấn.km, do lợi thế vận tải trên các tuyến đường dài, tăng 3% về tấn và tăng 8,9% về tấn.km so với 5 tháng đầu năm 2004.

Nhìn chung, hoạt động vận tải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân, song đáng lo ngại lại là những tháng gần đây đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.

  1. Thương mại, giá cả và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội theo giá thực tế 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 179,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tăng trên 9%), trong đó kinh tế Nhà nước đạt 24,2 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3%; kinh tế tập thể đạt gần 2 nghìn tỷ đồng, tăng 41,6%; kinh tế cá thể đạt 113,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,1%; khu vực kinh tế tư nhân đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, tăng 32,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 4,4 nghìn tỷ đồng tăng 36,5%. Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm 80% và tăng 16,7%; khách sạn nhà hàng, chiếm 13,3%, tăng 28,9%; dịch vụ chiếm 6%, tăng 28,1%; du lịch chiếm 0,7%, tăng 10% (Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 5 tháng đầu năm 2005 của Hà Nội ước đạt 16,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,4% tổng mức, tăng 19,9%; thành phố Hồ Chí Minh ước đạt 41,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,1%, tăng 19,4%).

Giá tiêu dùng tháng 5/2005 so với tháng trước tăng 0,5 %, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,6% (Lương thực tăng 0,2%, thực phẩm tăng 0,8%); nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và nhóm đồ uống, thuốc lá đều tăng 0,8%; nhóm dược phẩm, dịch vụ y tế và nhóm phương tiện đi lại, bưu điện đều tăng ở mức 0,4%; nhóm văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,2%… Do vậy, giá tiêu dùng tăng so với tháng trước không chỉ do tăng giá của nhóm lương thực, thực phẩm (đóng góp +0,29 điểm phần trăm), mà các nhóm như nhà ở, vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại, bưu điện và đồ uống, thuốc lá cũng đóng góp đáng kể vào tăng giá so với tháng trước (+0,15 điểm phần trăm). So với tháng 12/2004, giá tiêu dùng tháng 5 năm 2005 tăng 4,8%, trong đó giá tiêu dùng của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng: giá lương thực thực phẩm tăng 7,2%, vẫn là nhóm chính đóng góp vào tăng giá; thêm vào đó các nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 3%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 2,7% cũng là những nhóm có đóng góp đáng chú ý vào tăng giá; nhóm dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 2,1%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,7%.

Giá vàng tháng 5/2005 giảm 0,2% so với tháng trước, giảm 2,9% so với tháng 12/2004 và tăng 8% so với tháng 5/2004, trong khi giá đô la Mỹ có xu hướng ổn định, giá tháng 5 tăng nhẹ cả ở 3 loại chỉ số tương ứng là tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 0,3% so với tháng 12/2004 và tăng 0,5% so với tháng 5/2004.

Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 11,97 tỷ USD, đạt 39% kế hoạch năm và tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu bình quân mỗi tháng trong 5 tháng đầu năm nay mới đạt khoảng 2,39 tỷ USD (Để năm 2005 đạt mục tiêu 30 tỷ USD, mỗi tháng tới cần đạt khoảng 2,6 tỷ USD). Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 9,15 tỷ USD, tăng 15,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,17 tỷ USD, tăng 11,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,98 tỷ USD, tăng 22%.

Kim ngạch xuất khẩu của 20 trong tổng số 26 mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm nay, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may; giày, dép; thuỷ sản chỉ tăng ở mức thấp và không đạt mức tăng như mong đợi. Xuất khẩu hàng dệt may vẫn tiếp tục gặp khó khăn về thị trường và phải cạnh tranh với các nước xuất khẩu lớn và quá mạnh như Trung Quốc, nên 5 tháng đầu năm kim ngạch mới đạt gần 1,61 tỷ USD (bình quân mỗi tháng đạt 321 triệu USD), tăng 0,3% so với cùng kỳ. Để hoàn thành kế hoạch năm 2005, các tháng còn lại phải đạt bình quân 500 triệu USD/tháng, đây là mức cao so với mức bình quân của 5 tháng đầu năm. Xuất khẩu thuỷ sản cũng có trở ngại lớn do qui định về tiền đặt cọc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu tôm vào Mỹ và yêu cầu cao nghiêm ngặt của thị trường EU về đảm bảo an toàn vệ sinh trong nuôi trồng thuỷ sản. Vì  vậy, kim ngạch thuỷ sản  5 tháng  đầu năm ước tính mới đạt 862 triệu USD, bằng 31,9% kế hoạch năm và chỉ tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu dầu thô 5 tháng ước đạt 7,32 triệu tấn với kim ngạch 2,81 tỷ USD, tăng 37,9% so với cùng kỳ về kim ngạch,  chủ yếu do giá tăng, trong khi lượng xuất khẩu giảm 9,1%. Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng giảm so với 5 tháng năm 2004 như: xe đạp và phụ tùng xe đạp giảm 20,6%, dầu mỡ động thực vật giảm 64,1%, hạt tiêu giảm 14,6%, đồ chơi trẻ em giảm 16,8%, cà phê giảm 4,5%, chè giảm 11,8%.

Kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 14,56 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 9,45 tỷ USD, tăng 21,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 5,11 tỷ USD, tăng 20,5%. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và hầu hết các vật tư, nguyên, nhiên liệu cho sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu tăng 36,2%; sắt thép tăng 36,2%; chất dẻo tăng 33,1%; hoá chất tăng 37,9%; thuốc trừ sâu tăng 32%; vải tăng 6,6%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ tăng 40,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 9,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 45%… Lượng nhập khẩu của nhiều mặt hàng đã tăng khá hơn, nhưng một số mặt hàng có lượng nhập khẩu thấp so với 5 tháng năm 2004 như: phôi thép chỉ bằng 95,8%; phân bón bằng 59,2% (urê bằng 34,9%), phân bón nhập khẩu giảm mạnh do nguồn cung trong nước tăng; nguyên phụ liệu dệt, may giảm 4,1%; dầu, mỡ động thực vật giảm 16%. Riêng số lượng xe máy nguyên chiếc nhập khẩu tăng gần 5,7 lần; ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng 6,4%.

Nhập siêu 5 tháng đầu năm 2005 là 2,59 tỷ USD, bằng 21,6% kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm trước là 20,5%).

Khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 1379,7 nghìn lượt người, tăng 19,4% so với 5 tháng đầu  năm 2004, trong đó khách đến với mục đích du lịch 826,5 nghìn lượt người tăng 35,8%; vì công việc 171,9 nghìn lượt người, giảm 16,6%; thăm thân nhân 213 nghìn lượt người, tăng 7%; đến với mục đích khác 168,3 nghìn lượt người, tăng 18,9%.

Khách đến Việt Nam từ CHND Trung Hoa: 302,4 nghìn lượt người, giảm 5%; từ Mỹ 134,2 nghìn lượt người, tăng 14,2%; từ Hàn Quốc 126,3 nghìn lượt người, tăng 59,4%; từ Nhật Bản 110,8 nghìn lượt người, tăng 17,8%; từ Đài Loan 111,1 nghìn lượt người, tăng 9,6%; từ Cam-pu-chia 69 nghìn lượt người, tăng 105,3%; từ Ôx-trây-li-a 61,6 nghìn lượt người, tăng 21,5%; từ Pháp 57,1 nghìn lượt người, tăng 39,4%, từ Ca-na-đa 29,2 nghìn lượt người, tăng 25,7%….

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 44,6% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 43,1%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 43,7% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 43,4%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 47,6%; các khoản thu về nhà đất đạt 51,7%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 40,6%. Thu từ dầu thô 5 tháng tăng khá, ước đạt 52,6% dự toán cả năm, nhờ giá dầu thô vẫn ổn định ở mức cao so với giá khi lập dự toán. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 41% dự toán cả năm, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 45,1%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế GTGT) mới đạt 35,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 5 tháng ước tính đạt 39,3% dự toán cả năm; trong đó chi cho đầu tư phát triển mới đạt 35,4% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 35,1%); chi thường xuyên đạt 42,3%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 41,8% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 42,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 45,5%; chi quản lý hành chính 42,6%, chi cho y tế đạt 41,6%. Bội chi ngân sách 5 tháng ước tính bằng 21,1% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 80,6% và vay nước ngoài  19,4%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 5 (tính đến 23/5) có 197,5 nghìn lượt hộ với 939,1 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 1,7% số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp. So với tháng trước, số hộ thiếu đói tăng 11,9%; số nhân khẩu thiếu đói tăng 14%. So với thời điểm cuối tháng 5/2004, số hộ thiếu đói tăng 25,5% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 33,2%. Nguyên nhân chủ yếu làm cho số hộ và nhân khẩu thiếu đói tăng là do hạn hán kéo dài đã xảy ra ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Hiện tượng thiếu đói trong tháng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành và các địa phương đã trợ giúp khoảng 13,4 nghìn tấn lương thực và 10,3 tỷ đồng, trong đó trợ giúp trong tháng 5 là 4,8 nghìn tấn lương thực và 1,3 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Trong tháng 5/2005 (tính đến 19/5) có khoảng 900 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp đã tử vong); trên 700 trường hợp mắc bệnh sốt rét; gần 200 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Trên phạm vi cả nước không phát hiện thêm trường hợp nào nhiễm virus cúm tuýp A-H5N1. Tính từ đầu năm đến 19/5/2005, có trên 8,1 nghìn trường hợp bị mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 4 trường hợp tử vong; 18,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét và trên 0,9 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không trường hợp nào tử vong.

Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng đã phát hiện thêm trên 1,1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/5/2005 lên 95,1 nghìn người, trong đó 15,3 nghìn bệnh nhân AIDS và 8,9 nghìn người đã chết do AIDS.

Cũng trong tháng 5, đã xảy ra 14 vụ ngộ độ thực phẩm làm khoảng 170 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 2 trường hợp đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay đã có 1,5 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 24 trường hợp đã tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 4/2005 trên phạm vi cả nước đã xảy ra gần 1,2 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 900 người và bị thương 963 người. So với tháng 3/2005, số vụ tai nạn tăng 9,8%; số người chết tăng 9%; số người bị thương giảm 2,3%. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông trong tháng 4/2005 giảm cả về số vụ, số người chết và số người bị thương: số vụ giảm 14,7%; số người chết giảm 0,6% và số người bị thương giảm 19,3%. Tính chung 4 tháng đầu năm nay trên phạm vi cả nước đã xảy ra 5,2 nghìn vụ tai nạn, làm chết 3,9 nghìn người và làm bị thương 4,6 nghìn người. So với cùng kỳ năm 2004, số vụ tai nạn 4 tháng đầu năm nay giảm 18,6%; số người chết giảm 5,3%; số người bị thương giảm 23,3%. Bình quân 1 ngày trong 4 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn, làm chết 33 người và làm bị thương 38 người. So với bình quân cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông mỗi ngày giảm khoảng 9 vụ, số người chết giảm 2 người và số người bị thương giảm 11 người.

Tai nạn giao thông 4 tháng đầu năm đã có những chuyển biến đáng kể, tuy nhiên số người bị chết vẫn ở mức cao, đặc biệt thời gian qua đã liên tiếp xảy ra nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng như vụ đổ tàu E1 tại Thừa Thiên-Huế ngày 12/3/2005, làm 11 người chết, gần 80 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 21/4/2005 tại Kon Tum làm chết 31 người; tai nạn tại Chư Prông, Gia Lai ngày 9/5/2005 làm chết 9 người và tai nạn tại Lai Châu ngày 15/5/2005 làm chết 19 người…

Thiệt hại do bão lũ lụt

Từ cuối tháng 4 đến nay đã xảy ra lốc, mưa to, mưa đá, sét đánh tại các tỉnh như: Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hoà Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Quảng Bình, Đắk Lắk và Lâm Đồng gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 9 người chết và trên 100 người bị thương; khoảng 5 nghìn ha lúa bị ngập, hư hỏng; trên 150 phòng học và 450 nhà bị sập đổ; hàng nghìn nhà bị tốc mái, hư hại; tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 70 tỷ đồng.