1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
  2. Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/4/2005 các địa phương phía Bắc đã gieo cấy được 1134,7 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước. Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng cơ bản kết thúc gieo cấy, chuyển sang chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

Các địa phương phía Nam thu hoạch được 1617,6 nghìn ha, chiếm 90% diện tích gieo cấy và bằng 96,3% cùng kỳ năm 2004. Riêng các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch xong, đạt 1468,4 nghìn ha, bằng 100,4%; theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân toàn vùng đạt 60,5 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước, sản lượng đạt 8,9 triệu tấn, tăng 340 nghìn tấn. Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã khẩn trương gieo sạ được 759,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 108,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 734,8 nghìn ha. Tuy nhiên, nắng hạn tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên vẫn tiếp tục gay gắt, ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy; các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Đồng Nai mới gieo cấy được 50% diện tích cùng kỳ năm trước.

Cũng đến trung tuần tháng 4, cả nước đã gieo trồng được 466,4 nghìn ha ngô, bằng 107,3% cùng kỳ năm 2004; 118,7 nghìn ha khoai lang, bằng 85,9%; 173,5 nghìn ha lạc, bằng 97,7%; 93 nghìn ha đậu tương, bằng 115,4%; 14,6 nghìn ha thuốc lá, bằng 90,7% và 28,6 nghìn ha mía, bằng 132,4%.

Về dịch cúm gia cầm, trong tháng 4 trên phạm vi cả nước đã không phát sinh thêm ổ dịch cúm gia cầm mới. Tuy vậy, chưa thể khẳng định dịch cúm gia cầm có trở lại hay không, do đó việc tiếp tục theo dõi để xử lý kịp thời vẫn là cần thiết. Quan sát chung trong cả 4 tháng, dịch cúm gia cầm năm nay không lớn, phạm vi xuất hiện hẹp hơn và đã được xử lý kịp thời, hạn chế được ảnh hưởng đến phát triển tổng đàn cũng như chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

  1. Lâm nghiệp

Trong tháng 4, các địa phương tiếp tục chăm sóc rừng trồng mới và tập trung cho công tác phòng chống cháy rừng. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, diện tích rừng trồng tập trung cả nước bằng 99% cùng kỳ năm trước, diện tích khoanh nuôi tái sinh bằng 99,3%, trồng cây phân tán bằng 99,6%. Trong tháng xảy ra 324 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 1504 ha, trong đó có 200 ha rừng tràm 2 tuổi ở Kiên Giang và 200 ha rừng phòng hộ ở Nghệ An.

  1. Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 4 năm 2005 ước tính đạt 283,9 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 96,5 nghìn tấn, tăng 13,5%. Nuôi trồng thuỷ sản gặp khó khăn về nguồn nước, số lồng bè giảm 12%; một số diện tích thả tôm sú ven biển bị ảnh hưởng nước mặn. Tuy nhiên, nhiều địa phương đã phát triển nuôi các loại thuỷ sản nội địa như tôm càng xanh, cá rô, ếch…và các loại thuỷ sản nước mặn, lợ như rau câu, hầu… đồng thời mở rộng quy mô nuôi cá hầm cao sản. Thời tiết tương đối thuận lợi cho khai thác các loại thuỷ sản biển như cá ngừ đại dương, cá nục suông, mực ống nhỏ… tại các tỉnh miền Trung. Sản lượng thuỷ sản khai thác ước tính đạt 187,4 nghìn tấn, tăng 3% so với tháng 4 năm trước, trong đó khai thác biển đạt 166,4 nghìn tấn, tăng 3,4%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2005, sản lượng thuỷ sản đạt 1062,4 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó nuôi trồng đạt 348,5 nghìn tấn, tăng 12,1%; khai thác đạt 713,9 nghìn tấn, tăng 2,9% (khai thác biển đạt 644,6 nghìn tấn, tăng 3,5%) .

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2005 ước tính đạt 37,35 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,5% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 16,6% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 3,8%); khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn duy trì mức tăng cao (+23,3%); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,7% (do tăng mạnh ở các nhóm ngành ngoài dầu mỏ và khí đốt (+24,2%) nên đã bù được sự giảm sút của dầu, khí so với tháng 4 năm trước). Công nghiệp khai thác dầu mỏ và khí đốt tháng 4 tiếp tục giảm so với tháng 4 năm trước: Dầu thô khai thác giảm 10,1%, khí đốt thiên nhiên giảm 16,3% và ga hoá lỏng giảm 3,3%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 3 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ đã tăng cao trở lại trong tháng 4 và tăng cao hơn mức tăng chung 16,4% của toàn ngành công nghiệp như: Than sạch khai thác tăng 35%, quần áo dệt kim tăng 19,1%, quần áo may sẵn tăng 15,2%, phân hoá học tăng 55,3%, gạch lát tăng 19,5%, thép cán tăng  20,8%, máy công cụ tăng 31,8%, động cơ điện tăng 41,3%, ô tô các loại tăng 34,9%… Sản xuất điện tăng 13,9% so với tháng 4 năm trước, cao hơn 1,6 điểm % so với tốc độ tăng quí I.

Công nghiệp địa phương tăng cao, chủ yếu tăng ở khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh, trong khi công nghiệp quốc doanh địa phương tháng 4 nhìn chung tiếp tục tăng ở mức thấp so với cùng kỳ (+ 3,8%), do tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang các hình thức khác, đặc biệt công nghiệp quốc doanh địa phương của một số tỉnh giảm mạnh so với tháng 4 năm trước như Vĩnh Phúc chỉ còn bằng 23,4% cùng kỳ, Hải Dương bằng 70,1%, Quảng Ninh bằng 96,6%, Đà Nẵng bằng 85,9%…

Do nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 4 có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của quí I, nên tính chung 4 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức 138,5 nghìn tỷ đồng (theo giá 1994), trong đó doanh nghiệp Nhà nước đạt 45,66 nghìn tỷ, tăng 9,9% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý đạt 31,75 nghìn tỷ, tăng 11,8% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 5,8%); công nghiệp ngoài Nhà nước tăng 24,2% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,1% (dầu mỏ, khí đốt giảm 9,2%; các ngành khác tăng 21,1%).

Trong các sản phẩm chủ yếu, than sạch khai thác tăng 27,1%, thuỷ sản tăng 19,4%, giấy bìa tăng 17,3%, phân hoá học tăng 43,3%, thép cán tăng 17,1%, máy công cụ tăng 18,3%, động cơ điện tăng 21,8%, quạt điện tăng 62,5%, ô tô lắp ráp tăng 26% và xe máy lắp ráp tăng 24,4%. Quần áo may sẵn 4 tháng đã tăng được 12,6% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của quí I, do xuất khẩu hàng may mặc tháng 4 tăng khá hơn; xi măng tăng ở mức 12,3% và điện sản xuất  tăng  12,7%.

Bên cạnh các sản phẩm tăng cao và ổn định, trong 4 tháng đầu năm, nhóm sản phẩm giảm mạnh hoặc tăng thấp so với 4 tháng đầu năm trước và ảnh hưởng đến tốc độ tăng của công nghiệp là dầu mỏ, khí đốt: dầu thô khai thác giảm; khí đốt thiên nhiên, ga hoá lỏng đều tăng thấp; đường, xe đạp đều giảm tới 23%, động cơ diesel giảm 19,5%; vải lụa giảm 2%…

  1. Đầu tư và xây dựng.

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 4 tháng đầu năm 2005 thực hiện 15365,9 tỷ đồng, đạt 29,6% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 6400,3 tỷ đồng, đạt 32,2% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 2101,8 tỷ đồng, đạt 36,5% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 611,4 tỷ đồng, đạt 33,5%; Bộ Y tế 165,5 tỷ đồng, đạt 19,5%; Bộ Giáo dục Đào tạo 138 tỷ đồng, đạt 23%; Bộ Văn hoá Thông tin 72,1 tỷ đồng, đạt 19,8%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung do địa phương quản lý thực hiện 8965,6 tỷ đồng, đạt 28% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 22,3%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 23,3%, Hải Phòng đạt 28,7%, Đà Nẵng đạt 25,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 30,2%, Đồng Tháp đạt 28%, Kiên Giang đạt 26,8%…

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến 22 tháng 4 năm 2005 có 177 dự án mới được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1449,8 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 25,5% về số dự án và tăng 205,8% về vốn đăng ký (4 tháng đầu năm 2004 có 141 dự án với vốn đăng ký 474,1 triệu USD). Qui mô bình quân một dự án được cấp phép đạt 8,2 triệu USD, cao hơn gấp đôi mức bình quân 3,4 triệu USD của một dự án cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 73,5% về dự án và 37,3% về vốn; tương tự ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9% và 2,1%; ngành dịch vụ 17,5% và 60,6%.

Hà Nội đứng đầu cả nước về số vốn đăng ký có 20 dự án với 841,5 triệu USD, tiếp đến là Đồng Nai 21 dự án với 261,6 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh 57 dự án với 104,7 triệu USD, Bình Dương 32 dự án với 66,8 triệu USD, Đà Nẵng 4 dự án với 46,1 triệu USD, Tuyên Quang 1 dự án với 25 triệu USD, Hải Phòng 6 dự án với 17,8 triệu USD, Quảng Ninh 3 dự án với 13,9 triệu USD, Vĩnh Phúc 3 dự án với 11,4 triệu USD, Tây Ninh 5 dự án với 10,9 triệu USD…

Các đối tác có vốn đăng ký lớn là: Lúc-xăm-bua có 2 dự án với 770,5 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 6 dự án với 248,9 triệu USD; Nhật Bản 20 dự án với 119,4 triệu USD; Đài Loan 32 dự án với số vốn 78,6 triệu USD; Hàn Quốc 43 dự án với 74,8 triệu USD; CHND Trung Hoa 11 dự án với 35,1 triệu USD; Đảo Virgin thuộc Anh 8 dự án với 28,8 triệu USD;  Xin-ga-po 8 dự án với 27,4 triệu USD; Hà Lan 2 dự án với 16 triệu USD; Hoa Kỳ 13 dự án với 10,3 triệu USD…

  1. Vận tải

Vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 317,3 triệu lượt hành khách và 14,7 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,6% về lượt hành khách và tăng 11% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hàng hoá đạt trên 86,1 triệu tấn và 18,1 tỷ tấn.km, tăng 5,8% về tấn và tăng 7,2% về tấn.km. Trong vận chuyển hàng hoá, vận chuyển bằng đường sắt tăng 2,5% về tấn và giảm 6,1% về tấn.km (do việc ngừng xuất khẩu quặng thô qua cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn) và Hà Khẩu (Lào Cai) ; bằng đường biển tăng 7,7% về tấn và tăng 8,8% về tấn.km; bằng đường bộ tăng 5,9% về tấn và tăng 6,2% về tấn.km, bằng đường sông tăng 5,3% về tấn và tăng 6% về tấn.km.

  1. Thương mại, giá cả và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 139,8 nghìn tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tăng trên 9%), trong đó kinh tế Nhà nước đạt 19 nghìn tỷ đồng, giảm 0,8%; kinh tế tập thể đạt 1,6 nghìn tỷ đồng, tăng 45,6%; kinh tế cá thể đạt 87,8 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9 %, khu vực kinh tế tư nhân đạt 27,8 nghìn tỷ đồng, tăng 35,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3,6 nghìn tỷ đồng tăng 44,4%. Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm 80,1% và tăng 16,7%; khách sạn nhà hàng, chiếm 13,2%, tăng 28,5%; dịch vụ chiếm 6%, tăng 28,3%; du lịch chiếm 0,8%, tăng 16%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội 4 tháng đầu năm 2005 của Hà Nội ước đạt 13,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,7% tổng mức, tăng 19,6%; thành phố Hồ Chí Minh ước đạt 33,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,7%, tăng 19,1%; một số tỉnh và thành phố có tốc độ tăng cao (trên 30%), do tổ chức lễ hội và công bố năm du lịch như Phú Thọ, Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hoà và Lâm Đồng.

Giá tiêu dùng tháng 4 năm 2005 so với tháng trước tăng 0,6%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm lần đầu tiên, sau nhiều tháng liên tục tăng cao hơn mức tăng giá chung, đã tăng 0,5%, thấp hơn mức tăng giá chung 0,1 điểm phần trăm (cả lương thực, thực phẩm đều tăng ở mức này); dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 0,6%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,1%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 1,5%;văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,1%… Giá tiêu dùng tháng 4/2005 đã bắt đầu thể hiện ảnh hưởng của tăng giá sản xuất, kinh doanh trong nước và giá nhập khẩu các mặt hàng liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tiêu dùng như giá sắt thép, xăng dầu, tân dược… Do vậy, không chỉ nhóm lương thực, thực phẩm mà cả các nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và phương tiện đi lại, bưu điện đều tăng cao đã góp phần chủ yếu vào tăng giá tháng 4 so với tháng trước.

So với tháng 12 năm 2004, giá tiêu dùng tháng 4 năm 2005 tăng 4,3%  trong đó giá tiêu dùng của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng, nhưng giá lương thực thực phẩm có tốc độ tăng cao (+6,6%) vẫn là nhóm chính đóng góp vào tăng giá: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 6,6% (Lương thực tăng 5,4%; thực phẩm tăng 6,8%); nhóm dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 1,7%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 2,2%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,5%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 2,3%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,3%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 2,2%…

Giá vàng tháng 4 năm 2005 giảm 0,8% so với tháng trước và giảm 2,7% so với tháng 12 năm 2004. Giá đô la Mỹ tháng 4 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 0,2% so với tháng 12 năm 2004.

Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 9,65 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 7,36 tỷ USD, tăng 17,6% (cao hơn mức tăng 8,2% của cùng kỳ năm trước là 9,4 điểm phần trăm), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,19 tỷ USD, tăng 13,4% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,17 tỷ USD, tăng 23,8%.

Kim ngạch xuất khẩu của 19 trong tổng số 23 mặt hàng/nhóm hàng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu dầu thô ước đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 45,3% về kim ngạch, chủ yếu do giá tăng trong khi lượng xuất khẩu chỉ bằng 93,9% lượng xuất khẩu của 4 tháng 2004, riêng dầu thô đã đóng góp 9,1 điểm % vào tăng trưởng xuất khẩu. Xuất khẩu hàng dệt may tăng thấp, do có khó khăn về thị trường EU, vì các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt hơn với các nước xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Pakistan, Băng-la-đét… Xuất khẩu thuỷ sản gặp khó khăn ở thị trường Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may; giày dép, thuỷ sản chỉ tăng khoảng 6-7% so với 4 tháng năm 2004. Do tăng không cao so với cùng kỳ năm trước nên tính chung cả ba mặt hàng chủ lực này chỉ đóng góp 2,3 điểm % cho tăng kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, máy tính tăng 55,4%; gạo tăng 10,6% (lượng giảm gần 10%); cà phê tăng 2,6% (lượng giảm 5,4%); cao su tăng 20,2%; sản phẩm gỗ tăng 57,1%… Kim ngạch xuất khẩu của 4/23 mặt hàng, nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước: Xe đạp và phụ tùng xe đạp giảm 29,3%, dầu mỡ động thực vật giảm 49%, hạt tiêu giảm 6,9%, đồ chơi trẻ em giảm 7,3%.

Kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 11,43 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 7,38 tỷ USD, tăng 21,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4,05 tỷ USD, tăng 23,3%. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và hầu hết các vật tư, nguyên, nhiên liệu cho sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu tăng 36,3%; sắt thép tăng 22,6%; chất dẻo tăng 33,4%; hoá chất tăng 25,9%; thuốc trừ sâu tăng 28,5%; vải tăng 3,5%; bông tăng 4,1%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ tăng 52,9%; máy móc thiết bị tăng 17,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 55,8%… Lượng nhập khẩu của nhiều mặt hàng đã tăng khá hơn, nhưng một số mặt hàng có lượng nhập khẩu thấp xa so với 4 tháng năm 2004 như: phôi thép chỉ bằng 79,1% mức nhập cùng kỳ; phân bón bằng 54,3% (urê bằng 38,5%), phân bón nhập khẩu giảm mạnh do nguồn cung trong nước tăng; nguyên phụ liệu dệt, may giảm 3,8%; dầu, mỡ động thực vật giảm 10,4%, nhập khẩu nguyên liệu cho đồ gỗ xuất khẩu cũng đang gặp khó khăn. Riêng số lượng xe máy nguyên chiếc nhập khẩu tăng 6,2 lần; ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng 7,6%… Nhập siêu 4 tháng đầu năm 2005 là 1,78 tỷ USD, bằng 18,4% kim ngạch xuất khẩu, giảm 0,8 điểm % so với tỷ lệ 19,2% tương ứng của 4 tháng đầu năm 2004.

Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 1128,8 nghìn lượt người, tăng 20,1% so với 4 tháng đầu  năm 2004 (cùng kỳ năm trước chỉ tăng 7,6%), trong đó khách đến với mục đích du lịch 675,5 nghìn lượt người tăng 35,5%; vì công việc 132,2 nghìn lượt người, giảm 18,6%; thăm thân nhân 185,2 nghìn lượt người, tăng 11,9%; đến với mục đích khác 135,9 nghìn lượt người, tăng 19,5 %.

Khách đến Việt Nam từ CHND Trung Hoa: 246,1 nghìn lượt người, giảm 3,1%; từ Mỹ 115,2 nghìn lượt người, tăng 18,6%; từ Hàn Quốc 101,4 nghìn lượt người, tăng 60,1%; từ Nhật Bản 93,6 nghìn lượt người, tăng 22%; từ Đài Loan 89,7 nghìn lượt người, tăng 14,1%; từ Cam-pu-chia 62,8 nghìn lượt người, tăng 144,4%; từ Ôx-trây-li-a 51 nghìn lượt người, tăng 19,5%; từ Pháp 45,6 nghìn lượt người, tăng 33,5%, từ Ca-na-đa 25,7 nghìn lượt người, tăng 29,9%….

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2005 ước tính đạt 35% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 34,8%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 35,4% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 35,8%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 39,7%; các khoản thu về nhà đất đạt 42,2%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 32,1%. Thu từ dầu thô đạt 39,4% dự toán cả năm, nhờ giá dầu thô tăng cao. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 31,5% dự toán cả năm, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 35,5%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế GTGT) mới đạt 26,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 4 tháng ước tính đạt 31,3% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 33,8%; chi cho đầu tư phát triển mới đạt 28,4% (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 28,5%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 33,5% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 33,9%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 36,1%; chi quản lý hành chính 33,8%, chi cho y tế đạt 33,3%; riêng chi cải cách tiền lương mới đạt 22,4%. Bội chi ngân sách 4 tháng ước tính bằng 18,9% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 83,4% và vay nước ngoài  16,6%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 4 (tính đến 20/4) có 176,4 nghìn lượt hộ với số 823 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 1,5% tổng số hộ và nhân khẩu nông nghiệp. Do đang là tháng giáp hạt, đồng thời một số địa phương bị ảnh hưởng của hạn hán kéo dài nên số hộ và số nhân khẩu thiếu đói trong tháng đều tăng so với tháng trước: Số hộ thiếu đói tăng 52% và số nhân khẩu thiếu đói tăng 66,4%. Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành và các địa phương đã trợ giúp khoảng 8,6 nghìn tấn lương thực và 9,1 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 4/2005 là 2,9 nghìn tấn lương thực và 7,2 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Trong tháng 4/2005 có 6,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 15% so với tháng trước; 1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 18% và khoảng 100 trường hợp mắc bệnh thương hàn, giảm 64%. Không có trường hợp nào bị tử vong do các bệnh trên. Có 10 trường hợp viêm phổi cấp do virus cúm tuýp A-H5N1, trong đó 3 người đã tử vong.

Tính từ đầu năm đến nay có khoảng 6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 3 người đã tử vong; 17,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét và 500 trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không có trường hợp nào tử vong. Tổng số người mắc virus cúm tuýp A-H5N1 từ tháng 2/2004 đến nay lên 68 người, trong đó 36 người đã tử vong.

Về tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 4 đã phát hiện thêm gần 1,4 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/4/2005 lên 93,9 nghìn người, trong đó có 15 nghìn bệnh nhân AIDS và 8,8 nghìn người đã chết do AIDS.

Về ngộ độc thực phẩm: Trong tháng cũng đã xảy ra 10 vụ làm trên 200 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 15 người đã tử vong. Như vậy trong trong 4 tháng đầu năm đã có 1,3 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 22 trường hợp đã tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 3/2005 trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1069 vụ tai nạn giao thông, làm chết 826 người và làm bị thương 986 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tháng 3/2005 giảm 33,5%; số người chết giảm 30,6%; số người bị thương giảm 30,1%. So với tháng 3/2004, số vụ tai nạn giảm 25,6%; số người chết giảm 14,8% và số người bị thương giảm 21,8%. Tính chung 3 tháng đầu năm nay trên phạm vi cả nước đã xảy ra 4 nghìn vụ tai nạn giao thông làm chết 3 nghìn người và làm bị thương 3,6 nghìn người, giảm 19,7% số vụ; giảm 7,1% số người chết và giảm  24,3% số người bị thương so với cùng kỳ năm 2004. Sơ bộ 4 tháng đầu năm trên phạm vi cả nước xảy ra 5,4 nghìn vụ tai nạn, làm chết gần 4 nghìn người và làm bị thương 4,8 nghìn người, giảm 15% số vụ, giảm 5% số người chết và giảm 18% số người bị thương. Tai nạn giao thông 4 tháng đầu năm nay đã có chuyển biến đáng kể, giảm cả số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, số người bị chết vẫn ở mức cao, đặc biệt là đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng như vụ đổ tàu E1 tại Thừa Thiên-Huế ngày 12/3/2005, làm 11 người chết, gần 80 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 21/4/2005 tại Kon Tum làm chết 31 người.

Thiệt hại do thiên tai

Trong những tháng đầu năm đã xảy ra lốc, mưa đá, lũ quét, sạt lở đất ở một số địa phương gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, mưa to, lốc và sạt lở đất tại Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn, Lai Châu, Thừa Thiên-Huế đã làm 11 người chết, 36 người bị thương, hàng trăm lớp học và nhà cửa bị tốc mái, hư hại, tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 11 tỷ đồng.