I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Đến trung tuần tháng 4, gieo cấy lúa đông xuân ở các địa phương phía bắc đã cơ bản kết thúc với 1148 nghìn ha, xấp xỉ diện tích lúa đông xuân gieo cấy của vụ trước. Nhờ đẩy mạnh thâm canh và thời tiết tương đối thuận, sâu bệnh ít nên lúa đông xuân phía bắc đang sinh trưởng và phát triển khá, nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Cũng đến thời điểm trên, các địa phương phía nam đã thu hoạch 1582,1 nghìn ha lúa đông xuân; chiếm 84,5% diện tích gieo cấy và bằng 110,4% cùng kỳ năm trước, trong đó ba chỉ tiêu tương ứng của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long lần lượt là 1372,5 nghìn ha; 89,4% và 108,6%. Theo ước tính ban đầu, năng suất lúa đông xuân vụ này ở đồng bằng sông Cửu Long có thể đạt 53 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với vụ đông xuân trước.
Cùng với việc chăm sóc lúa đông xuân ở phía bắc và thu hoạch lúa đông xuân ở phía nam, các địa phương còn tranh thủ thời tiết thuận lợi xuống giống một số cây trồng khác. Đến ngày 15/4 cả nước đã gieo trồng được 361 nghìn ha ngô, bằng 95,5% cùng kỳ năm trước; 183,9 nghìn ha khoai lang, bằng 93,3%; 112,8 nghìn ha sắn, bằng 100%; 161,1 nghìn ha lạc, bằng 98,5%; 47,7 nghìn ha đậu tương, bằng 113,9%; 19,9 nghìn ha thuốc lá, bằng 105,7%; trồng mới 16,3 nghìn ha mía, bằng 140,6%; 275,7 nghìn ha rau đậu, bằng 102,5%. Ngoài ra, các địa phương phía nam còn gieo cấy được 547,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 120,6% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 518,3 nghìn ha, bằng 122,1%.
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm ước tính tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,9% (Trung ương quản lý tăng 11,3%; địa phương quản lý tăng 10%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 16,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,8% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 24,3%; các doanh nghiệp khác tăng 13,8%).
Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy mô sản xuất công nghiệp tương đối lớn trong 4 tháng đầu năm nay đã đạt tốc độ tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước: Phú Thọ tăng 16,6%; Vĩnh Phúc tăng 21,1%; Quảng Ninh tăng 11,5%; Hải Phòng tăng 20,6%; Thanh Hoá tăng 13,9%; Đà Nẵng tăng 17,1%; Khánh Hoà tăng 21,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 16,4%; Bình Dương tăng 32,7%; Đồng Nai tăng 12,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 22,1%; Cần Thơ tăng 15%. Tuy nhiên, vẫn có những địa phương tăng trưởng thấp, thậm chí còn giảm sút so với cùng kỳ năm trước (Sản xuất công nghiệp của Hà Nội 4 tháng đầu năm nay chỉ tăng 5% so với 4 tháng đầu năm 2000; của Hải Dương giảm 4,7%).
Trong tổng số 34 loại sản phẩm công nghiệp quan trọng thống kê được thì 24 loại sản phẩm có mức sản xuất trong 4 tháng này tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Điện tăng 11,4%; than tăng 13,8%; dầu thô tăng 24,3%; thép cán tăng 16,3%; xi măng tăng 19,2%,; giấy bìa tăng 13,1%; lắp ráp ô tô tăng 62,4%; lắp ráp xe máy tăng 18,9%; lắp ráp ti vi tăng 29,8%; chế biến thuỷ sản tăng 15,3%. Bên cạnh đó, vẫn còn một số sản phẩm khác sản xuất bị giảm sút so với 4 tháng đầu năm 2000 như: Máy công cụ giảm 20%; động cơ đi-e-den giảm 23,1%; phân hoá học giảm 6,5%; đường mật giảm 15,3%.
III. ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 4 tháng đầu năm ước tính thực hiện được 5445 tỷ đồng, đạt 26,6% kế hoạch năm và tăng 48,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn trung ương quản lý 3842,5 tỷ đồng, đạt 28,5% kế hoạch năm; vốn địa phương quản lý 1602,5 tỷ đồng, đạt 22,8%.
Một số công trình trọng điểm đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong 4 tháng đầu năm vừa qua là: Thông xe kỹ thuật toàn bộ tuyến Hà Nội-Lạng Sơn và đoạn đường Thường Tín-Cầu Rẽ; khánh thành các cầu Sông Phan, Phú Qưới, Lộc Hà, Ngân Sơn và Sa Đéc; hoàn thành nút giao thông phía nam cầu Chương Dương; khánh thành và hạ thuỷ tầu khí hoá lỏng 2500 m3; hoàn thành và chạy thử tổ máy số 3 thuỷ điện Yaly và hai tổ máy số 1, số 2 thuỷ điện Hàm Thuận-Đa Nhim. Ngoài ra, còn đắp được 1,4 triệu m3 đê, trồng 8,5 vạn ha rừng và trồng trên 92 triệu cây phân tán.
IV. VẬN TẢI
Hoạt động vận tải 4 tháng đầu năm nhìn chung đảm bảo được nhu cầu vận chuyển hàng hoá của sản xuất và đi lại của dân cư. Trong 4 tháng, vận chuyển hành khách đạt 285,5 triệu lượt người, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước và 9717,5 triệu lượt người.km, tăng 6,8%; vận chuyển hàng hoá đạt 45,8 triệu tấn, tăng 4,8% và 10,7 tỷ tấn.km, tăng 8,1%.
V. THƯƠNG MẠI VÀ GIÁ CẢ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 4 tháng ước tính đạt trên 75,7 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước 13,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,5%; khu vực kinh tế cá thể 49,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,5%; còn lại là thành phần kinh tế tập thể, tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài và hỗn hợp sở hữu thực hiện.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng này tiếp tục giảm 0,5% so với tháng trước. Trong 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ chỉ có nhóm hàng may mặc, giầy dép, mũ nón và nhóm dược phẩm, y tế tăng 0,2%; đồ dùng, dịch vụ giáo dục tăng 0,1%; nhà ở và vật liệu xây dựng không biến động; còn lại đều giảm so với tháng trước, trong đó giá lương thực giảm 2,0%; giá thực phẩm giảm 0,3%; giá đồ uống và thuốc lá giảm 0,5%; giá thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1%; giá dịch vụ vận tải và bưu điện giảm 0,4%; văn hoá phẩm và dịch vụ thể thao, giải trí giảm 0,3%. Nếu so với tháng 12 năm 2000 thì chỉ số giá tháng này giảm 0,5% và so với tháng 4 năm 2000 giảm 1,2%. Hai chỉ tiêu tương ứng của giá vàng là giảm 1,6% và giảm 3,8%; của đô la Mỹ là tăng 0,2% và tăng 3,5%.
Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm ước tính đạt 4888 triệu USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 2614 triệu USD tăng 19,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 2274 triệu USD, tăng 16% (Nếu trừ dầu thô thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ thực hiện được 1171 triệu USD, tăng 10,4%). Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 4 tháng năm nay chậm hơn tốc độ tăng 33,9% của 4 tháng đầu năm 2000 chủ yếu do giá một số loại nông sản hàng hoá và giá dầu thô những tháng đầu năm nay thấp hơn cùng kỳ năm trước. Do vậy, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng trong 4 tháng vừa qua không tương xứng với tốc độ tăng về khối lượng hàng hoá xuất khẩu: Dầu thô tăng 26,1% về lượng hàng xuất khẩu nhưng kim ngạch thu được chỉ tăng 22,6%; hai chỉ tiêu tương ứng của gạo là tăng 55,4% và tăng 21,8%; than tăng 33,2% và tăng 18%; cà phê tăng 45,6% và giảm 20,2%; cao su tăng 1,6% và giảm 8,2%; hạt tiêu tăng 29,3% và giảm 47,4%; hạt điều tăng 2,5% và giảm 15,6%.
Kim ngạch nhập khẩu 4 tháng ước tính đạt 5022 triệu USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 3616 triệu USD, tăng 8,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1406 triệu USD, tăng 14,6%. Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu 4 tháng này thấp hơn tốc độ tăng 33,4% của 4 tháng đầu năm 2000 một phần cũng do giá trên thị trường thế giới của một số mặt hàng nhập khẩu giảm. Do vậy, nhiều mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong 4 tháng vẫn tăng tương đối khá về lượng so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu 3128 nghìn tấn, tăng 12,7%; sắt thép 1100 tấn, tăng 25,6%; chất dẻo 220 nghìn tấn, tăng 8,1%; sợi dệt 73 nghìn tấn, tăng 30,4%; bông 31 nghìn tấn, tăng 15,9%. Nhập siêu 4 tháng 134 triệu USD, bằng 2,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1002 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 868 triệu USD.
VI. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm ước tính đạt 36% dự toán cả năm và tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu thuế và phí nội địa đạt 31,7% và tăng 2,4%; thu từ dầu thô đạt 46,7% và tăng 18,9%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 36,8% và tăng 17,4%. Thu ngân sách Nhà nước 4 tháng tăng tương đối khá, trước hết là do cơ quan thuế đã tập trung đôn đốc các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cũng như các hộ kinh doanh nộp tờ khai thuế và tiền thuế theo đúng chế độ; đồng thời tăng cường kiểm tra công tác hạch toán kế toán, hoá đơn chứng từ, quản lý các loại chi phí và xác định đúng doanh thu làm cơ sở cho việc tính thuế. Ngoài ra, cơ quan thuế còn phối hợp với các cơ quan quản lý thị trường, công an, hải quan tích cực đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại. Riêng thu từ dầu thô tăng cao còn do giá dầu thô trong kỳ cao hơn giá tính trong dự toán (Giá dầu thô 3 tháng đầu năm bình quân 194 USD/tấn, cao hơn giá tính trong dự toán 31 USD/tấn) và tỷ giá cũng tăng từ 14000 đồng/USD lên 14540 đồng/USD.
Tổng chi ngân sách 4 tháng ước tính đạt 29% dự toán cả năm và tăng 26,1% so với 4 tháng đầu năm 2000, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 28,6% và gấp 2,16 lần; chi thường xuyên đạt 32% và tăng 6,8% (Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 32,1% và tăng 8,1%; chi cho y tế đạt 31,6% và tăng 4,4%; chi cho sự nghiệp kinh tế đạt 32,7% và tăng 6,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 32,2% và tăng 5,6%). Trong chi đầu tư phát triển thì chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 28,7% dự toán cả năm và gấp 2,3 lần cùng kỳ năm trước (Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50% tổng số chi được dùng thanh toán khối lượng hoàn thành của 4 tháng đầu năm 2001, còn lại dùng thanh toán khối lượng của năm 2000 chuyển sang). Ngoài chi đầu tư xây dựng cơ bản, trong 4 tháng ngân sách Nhà nước còn tăng cường chi cho các dự án đầu tư phát triển khác như: Cấp vốn cho quỹ hỗ trợ đầu tư 100 tỷ đồng và cho chương trình trồng rừng 100 tỷ đồng; chi bù lãi suất tín dụng ưu đãi và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp công ích 120 tỷ đồng; chi dự trữ Nhà nước 45 tỷ đồng.
Bội chi ngân sách 4 tháng bằng 8,3% tổng số thu, bằng 7,7% tổng số chi và bằng 8,7% tổng mức dự toán bội chi cả năm. Số bội chi này được bù đắp bằng nguồn vay, trong đó vay trong nước bù đắp 95,5%; còn lại 4,5% bù đắp bằng nguồn vay ngoài nước.
VII. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Thiếu đói giáp hạt
Do kinh tế và thu nhập của dân cư tăng trưởng khá, giá lương thực thấp nên thiếu đói giáp hạt chỉ xảy ra trên diện hẹp, chủ yếu là ở một số vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh miền núi, dẻo cao. Tại thời điểm trung tuần tháng 4/2001, Hà Tây có 10 nghìn hộ với 46 nghìn nhân khẩu thiếu đói giáp hạt; Thanh Hoá có 28 nghìn hộ với gần 129 nghìn nhân khẩu; Quảng Bình có 8 nghìn hộ với 39 nghìn nhân khẩu; Kon Tum có gần 3,7 nghìn hộ với 16,9 nghìn nhân khẩu. Tất cả các địa phương có người bị thiếu đói giáp hạt đều đã tiến hành cứu trợ kịp thời. Hà Tây đã trợ giúp các hộ trong diện thiếu đói giáp hạt 241,2 triệu đồng; Thanh Hoá trợ giúp 75,2 triệu đồng và 28,5 tấn gạo; Quảng Bình trợ giúp 26 tấn gạo và 754 triệu đồng; Kon Tum trợ giúp 28,8 tấn gạo, 6,3 triệu đồng và trên 6 nghìn gói mì tôm.
2. Tình hình dịch bệnh
Trong 4 tháng đầu năm không có dịch bệnh lớn. Tuy nhiên, bệnh thương hàn, sởi, sốt rét, sốt xuất huyết và tiêu chảy vẫn xảy ra ở một số địa phương. Từ đầu năm đến 16/4/2001, cả nước đã có 1423 lượt người bị thương hàn, trong đó có một người bị chết; 5183 lượt người bị bệnh sởi, trong đó 4 người bị chết; 78872 lượt người bị bệnh sốt rét, trong đó 19 người bị chết; 225 nghìn lượt người bị tiêu chảy, trong đó 7 người bị chết.
Để kịp thời dập tắt các ổ dịch và chữa trị người mắc các dịch bệnh nêu trên, Bộ Y tế đã cử các đoàn cán bộ chống dịch bệnh đến hỗ trợ các địa phương, trong đó có các đoàn kiểm tra công tác phòng chống sốt rét tại Tây Nguyên, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Định, Quảng Ngãi; các đội chống sốt xuất huyết tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và tiêm phòng sởi tại Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La…
3. Thiên tai
Trong tháng 4/2001 thiên tai đã gây thiệt hại về người và tài sản ở một số địa phương như: Thái Nguyên bị xói lở bờ sông làm 2 trẻ em bị chết; Hà Giang mưa lớn và sét đánh 3 người chết; Lai Châu bị động đất ngày 3/4/2001 với cường độ 4,6 độ rích-te làm thiệt hại 5 tỷ đồng giá trị tài sản, trong đó có 295 ngôi nhà bị hư hỏng, rạn nứt.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ