I . SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Đến trung tuần tháng 4, cả nước đã gieo cấy được 2991,0 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 103,5% diện tích gieo cấy của vụ  đông xuân năm 1999. Nhìn chung lúa đông xuân phát triển thuận lợi, đủ nước và phân bón, sâu bệnh ít. Riêng các địa phương phía nam đã thu hoạch 1433,7 nghìn ha, chiếm 77,8% diện tích gieo cấy, trong đó đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1264,3 nghìn ha, chiếm 83,0% diện tích gieo cấy của vùng. Sơ bộ ước tính, năng suất bình quân của 1843,0 nghìn ha lúa đông xuân của các địa phương phía nam có thể đạt 49,9 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha so với vụ đông xuân 1999 và sản lượng thóc đạt 9,2 triệu tấn, tăng 60 vạn tấn, trong đó 1523,4 nghìn ha của đồng bằng sông Cửu Long đạt năng suất 51,9 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha so với vụ đông xuân trước và sản lượng đạt trên 7,9 triệu tấn, tăng 65,4 vạn tấn. Cùng với việc đẩy mạnh tiến độ thu hoạch lúa đông xuân cuối vụ, các địa phương phía nam còn tranh thủ gieo cấy lúa hè thu và gieo trồng các loại cây khác. Tính đến trung tuần tháng 4, riêng đồng bằng sông Cửu Long đã gieo cấy được 424,4 nghìn ha lúa hè thu. Tuy nhiên nếu so với cùng kỳ năm trước thì chỉ bằng 58,9%.

Khó khăn lớn của sản xuất nông nghiệp hiện nay và thời gian tới là thiếu thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá, nhất là tiêu thụ gạo. Vụ đông xuân năm nay có thể tiếp tục được mùa lớn và sản lượng lúa hàng hoá sẽ tăng đáng kể nhưng thị trường xuất khẩu gạo của nước ta có nguy cơ bị thu hẹp do Trung Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu gạo với giá thấp, trong khi đó In-đô-nê-xi-a và Phi-lip-pin là 2 thị trường thường tiêu thụ 1/3 lượng gạo xuất khẩu của nước ta nhưng hiện nay họ đang hạn chế  nhập khẩu. Do vậy 4 tháng đầu năm chúng ta mới xuất khẩu được 717,0 nghìn tấn gạo, chỉ bằng 48,0% lượng gạo xuất khẩu 4 tháng đầu năm 1999.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Giá trị sản xuất công nghiệp 4 tháng tăng 14,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,5% (Trung ương quản lý tăng 12,0%; địa phương quản lý tăng 13,7%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,0% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 8,4%; các doanh nghiệp khác tăng 23,8%).

Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, một mặt do so với 4 tháng đầu năm 1999 là những tháng có mức sản xuất thấp, nhưng mặt khác còn do một số ngành công nghiệp đã tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm nên phục hồi được sản xuất. Một số sản phẩm xuất khẩu và gia công cho thị trường Đông Bắc Á và EU nhờ ký được hợp đồng sớm  nên có điều kiện đẩy mạnh sản xuất: Quần áo may sẵn 4 tháng tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự, da giầy tăng 22,0%; thuỷ sản chế biến tăng 23,5%. Một số sản phẩm khác tăng do đã dành lại được thị phần trong nước nhờ Nhà nước thực hiện dán tem hàng nhập khẩu và tích cực chống gian lận thương mại: Sứ vệ sinh tăng 19,7%; gạch ốp lát tăng 23,3%; sản xuất xe đạp tăng 17,8%; lắp ráp xe máy tăng 46,5%; lắp ráp ô tô tăng 64,4%; lắp ráp tivi tăng 26,5%.

Tuy nhiên tăng trưởng của sản xuất công nghiệp chưa thật vững chắc do sản phẩm hàng hoá của hầu hết các ngành công nghiệp thiếu sức cạnh tranh cả về giá bán, chất lượng hàng hoá ngay trên thị trường trong nước chứ chưa nói đến vươn ra xuất khẩu.

III. THƯƠNG MẠI GIÁ CẢ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng này tiếp tục giảm, chỉ bằng 99,3% tháng trước và bằng 97,9% mức giá tháng 4/1999. Đáng chú ý là trong tháng này giá tiêu dùng của hầu hết các loại hàng hoá và dịch vụ đều giảm so với tháng trước.

Trong 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ chỉ có giá của nhóm dịch vụ vận tải, bưu điện và nhóm văn hoá phẩm, thể thao giải trí tăng 0,2% và 0,6% so với tháng trước, còn lại đều giảm trên dưới 0,5%, riêng lương thực giảm 2,5%. Do những tháng gần đây giá liên tục giảm nên sau 4 tháng giá tiêu dùng chỉ tăng 0,1% so với tháng 12/1999, trong đó giá lương thực giảm 2,3%; giá thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,6%; giá đồ uống, thuốc lá giảm 0,4%;  giá hàng may mặc, giày dép và mũ nón ổn định; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng trên dưới 1%.

Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng ước tính đạt 4154,0 triệu USD, tăng 34,0% so với 4 tháng đầu năm 1999, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 2183,0 triệu USD, tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 1971,0 triệu USD, tăng 77,6%. Trị giá xuất khẩu tăng cao một phần do giá dầu thô trên thị trường thế giới luôn đứng ở mức cao, giá bình quân gấp trên 2 lần mức giá 4 tháng đầu năm 1999, nhưng mặt khác, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu cũng tăng cả về lượng và giá trị: Hạt tiêu gấp 2,1 lần về lượng và 2,2 lần về giá trị. Tương tự, chè gấp 2,4 lần và 2,3 lần; hạt điều gấp 1,8 lần và 1,7 lần; cao su gấp 1,2 lần cả về lượng và giá trị. Riêng gạo chỉ bằng 48,0% về lượng và 43,0% về giá trị; lạc bằng 82,3% về lượng và 78,5% về giá trị; cà phê gấp 1,8 lần về lượng nhưng do giá xuống thấp nên chỉ tăng 6,1% về giá trị.

Kim ngạch nhập khẩu 4 tháng ước tính đạt 4420,0 triệu USD, tăng 30,3% so với 4 tháng đầu năm 1999, trong đó khu vực trong nước nhập khẩu 3233,0 triệu USD, tăng 27,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1187,0 triệu USD, tăng 38,5%. Nhập siêu 4 tháng 266,0 triệu USD, bằng 91,1% mức nhập siêu 4 tháng đầu năm 1999, trong đó khu vực trong nước nhập siêu 1050,0 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 784,0 triệu USD.

IV. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Theo số liệu của Bộ Tài Chính, tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng ước tính đạt 31.4% dự toán cả năm và tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu từ kinh tế Nhà nước chiếm 20,4% tổng số thu, đạt 30,0% dự toán và giảm 14,0% so cùng kỳ năm trước; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 28,9%; đạt 35,9% và tăng 69,1%, chủ yếu do giá dầu thô xuất khẩu đứng ở mức cao; thuế xuất nhập khẩu chiếm 18,0%, đạt 28,1% và giảm 7,5%; thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 8,1%, đạt 33,1% và tăng 2,3%. Tỷ lệ thu 4 tháng năm nay đạt 31,4% dự toán cả năm là tỷ lệ cao vì những năm gần đây tỷ lệ này thường chỉ đạt 27-28% (4 tháng đầu năm 1997 đạt 27,7%; 4 tháng đầu năm 1998 đạt 27,5% và 4 tháng đầu năm 1999 đạt 27,8%).

Tổng chi ngân sách 4 tháng ước tính đạt 26,2% dự toán cả năm và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi thường xuyên đạt 34,1% và tăng 17,7%; chi đầu tư phát triển đạt 16,3% và chỉ bằng 77,8% cùng kỳ năm trước, chủ yếu do phân bổ, cấp phát và thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản chậm. Đến ngày 15/4/2000 vẫn còn 341 dự án đầu tư của các Bộ, ngành chưa có quyết định đầu tư, chưa có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán nên không cấp phát được vốn.

Bội chi ngân sách 4 tháng bằng 8,3% tổng số thu, bằng 7,6% tổng số chi và được bù đắp bằng nguồn vay, trong đó vay trong nước bù đắp 47,7% mức bội chi, vay nước ngoài bù đắp 52,3% còn lại.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ