I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Tính đến ngày 15/2/2001 cả nước đã gieo cấy được 2601,6 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước, trong đó miền Bắc gieo cấy 747,6 nghìn ha, bằng 113,8%; miền Nam 1854,0 nghìn ha, bằng 99,1%. Mặc dù đầu vụ gặp rét đậm và một số nơi bị thiếu nước, nhưng sau đó thời tiết ấm dần và nước đổ ải cũng đã được giải quyết nên đến nay vùng đồng bằng sông Hồng đã gieo cấy được 241,3 nghìn ha, tăng 25 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước. Riêng Hải Phòng đã gieo cấy xong và một số tỉnh như Vĩnh Phúc, Phú Thọ cũng gieo cấy được trên 80% kế hoạch.

Tuy phải giải quyết hậu quả của lũ, lụt, nhưng các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long cơ bản đã gieo cấy xong vụ đông xuân với diện tích 1535,0 nghìn ha, tăng 15 nghìn ha so với vụ đông xuân 1999-2000, riêng Kiên Giang tăng 17 nghìn ha do chuyển đất lúa 1 vụ sang gieo cấy lúa đông xuân.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng 2/2001 các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 341,0 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 113,2% cùng kỳ năm trước, các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 337,7 nghìn ha, bằng 112,5% và chiếm 20% diện tích đã xuống giống, trong đó Sóc Trăng thu hoạch 108 nghìn ha với năng suất ước tính đạt trên 49 tạ/ha; Kiên Giang 80 nghìn ha và Long An 60 nghìn ha.

Gieo trồng ngô, cây chất bột có củ và một số cây công nghiệp ngắn ngày giảm so cùng kỳ năm trước. Ngô gieo trồng 180,4 nghìn ha, giảm 70 nghìn ha (-4%); khoai lang 156,2 nghìn ha, giảm khoảng 10 nghìn ha (-7%); lạc 98,6 nghìn ha, bằng 93,5%; thuốc lá 14,4 nghìn ha, bằng 93,5%; đậu tương 25,5 nghìn ha, bằng 102%.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Sản xuất công nghiệp tháng 2 năm 2001 bằng 105,6% so với tháng 1 và tăng 26,8% so cùng kỳ năm 2000, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 105,3% và tăng 22,3%; khu vực ngoài quốc doanh bằng 100% và tăng 29,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài bằng 109,6% và tăng 30,5%.

Nhiều sản phẩm công nghiệp tháng này có nhịp độ tăng trưởng cao so với tháng 2 năm 2000 như: Điện phát ra tăng 25,8%, than sạch tăng 30,4%; dầu thô khai thác tăng 38,5%; thuỷ sản chế biến tăng 42,1; thuốc lá bao tăng 48,0%; bột ngọt tăng 20,2%; sữa hộp tăng 61.3%; vải lụa tăng 21,6%; giấy bìa tăng 27,6%; quần áo dệt kim tăng 34,1%; thuốc trừ sâu tăng 55,1%; thuốc ống chữa bệnh tăng 46,8%; gạch lát tăng 78,9%; quạt điện dân dụng gấp 2,9 lần; lắp ráp ô tô tăng 92,6%; xe máy tăng 38,0%; xe đạp gấp 5,9 lần…

Sản xuất công nghiệp tháng 2 năm 2001 tăng trưởng cao do không bị ảnh hưởng của nghỉ Tết Nguyên đán như tháng 2 năm 2000. Sản xuất tiếp tục ổn đinh và tăng còn do hiệu quả đầu tư tập trung, thực hiện Luật doanh nghiệp và sự gia tăng của khu vực vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác, thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng đã tạo điều kiện tăng nhịp độ sản xuất của một số sản phẩm như: Sản phẩm ắc qui tháng 2 đã xuất sang Brunei, Irắc, tháng tới sẽ xuất sang một số nước Trung Đông và Hồng Kông. Sản phẩm đồ gỗ cao cấp, thuỷ sản, hàng dệt kim, len,… cũng tăng được mức xuất khẩu sang Mỹ và một số nước châu Âu. Ngoài ra, một số mặt hàng tiêu dùng sản xuất tăng nhờ tăng được thị phần trên thị trường trong nước như rượu, bia, bánh kẹo, chè, thuốc lá, hàng may mặc…

Tính chung 2 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,4%, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,2% (Trung ương quản lý tăng 8,9%; địa phương quản lý tăng 9,7%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 17,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,6% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 20,1%; các doanh nghiệp khác tăng 16,5%).

III. ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 2 tháng đầu năm ước tính thực hiện được 2559,8 tỉ đồng, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước và đạt 12,5% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương quản lý đạt 13,3% (Riêng Bộ Giao thông Vận tải đạt 14,6%, Bộ Nông nghiệp và PTNN đạt 12,3%); địa phương quản lý đạt 11%. Đến nay, tuy kế hoạch chưa được triển khai hết xuống cơ sở, nhưng nhiều đơn vị  vẫn có việc làm vì thi công các công trình chuyển tiếp, trong đó có các công trình lớn như: cảng Vũng Áng, các cầu trên quốc lộ 1A, đoạn đường Biểu Nghi- Bãi Cháy, đường Hồ Chí Minh và các công trình đê điều phòng chống lũ lụt…

IV. VẬN TẢI

Ước tính 2 tháng đầu năm, khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt trên 22,8 triệu tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt 5,6 tỷ tấn.km, tăng 7,8%. Hai chỉ tiêu tương ứng của vận tải trung ương là tăng 7,3% và 8,2%; vận tải địa phương tăng 4,4% và 6,5%. Ngành đường biển khai thác tốt nguồn hàng ở nước ngoài nên vận tải ngoài nước đạt mức tăng cao hơn:  9,4% và 8,7%. Khối lượng hành khách vận chuyển 2 tháng ước tính đạt 145,7 triệu lượt hành khách, tăng 4,9%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt trên 4,9 tỷ lượt h.k.km, tăng 4,8%. Hai chỉ tiêu tương ứng của vận tải trung ương là: giảm 1,1% và tăng 5,1%; địa phương quản lý tăng 5% và tăng 4,7%; đường bộ tăng 5,3% và 5,2%; hàng không tăng 7,7% và 9,7%.

V. THƯƠNG MẠI VÀ GIÁ CẢ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2001 tăng 0,4% so với tháng 1/2001, trong đó nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 0,6% (Lương thực giảm 1,1%; thực phẩm tăng 1,3%). Các nhóm hàng hoá, dịch vụ khác tăng giảm trên dưới 3%. Tính chung 2 tháng, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,7%, trong đó nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,7%; dược phẩm và y tế giảm 0,5%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại bằng hoặc chỉ tăng 0,3 – 0,7%.

Kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2001 ước tính đạt 2211 triệu USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 1128 triệu USD, tăng 9,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 1083 triệu USD, tăng 14,3%. Những mặt hàng xuất khẩu tăng cao so với 2 tháng đầu năm 2000 là: Dầu thô tăng 30% về lượng và tăng 25% về giá trị; Gạo tăng 118,3% và 53,9%; lạc tăng 36,8% và 42,2%; rau quả và hải sản tăng về trị giá là 85% và 47,5%. Tuy nhiên, vẫn còn một số mặt hàng quan trọng khác như dệt may; giày dép; cà phê có trị giá xuất khẩu kỳ này không bằng cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu 2 tháng ước tính đạt 2202 triệu USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 1550 triệu USD, tăng 1,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 652 triệu USD, tăng 10,5%. Các mặt hàng nhập khẩu có tốc độ tăng tương đối cao so với 2 tháng đầu năm 2000 là: Ô tô gấp 3,3 lần về lượng và gấp 2,4 lần về giá trị; sợi dệt tăng 11,1% và 24,9%; bông tăng 32,8% và 46%… Một số mặt hàng có giá trị nhập khẩu giảm là: Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 18,6%; vải giảm 36,8%; xe máy giảm 47,5%. Xuất siêu 2 tháng ước tính 9 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 422 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất siêu 431 triệu USD.

VI. TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm ước tính đạt 17,2% dự toán cả năm và tăng 10,8% so với hai tháng đầu năm 2000, trong đó thu từ kinh tế Nhà nước đạt 13,9% và tăng 14,8%; thuế công thương nghiệp đạt 15,7% và tăng 2,5%; thuế xuất, nhập khẩu đạt 14,4% và tăng 8,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 23,9% và tăng 10,5%, riêng thu từ bán dầu thô đạt 26% và tăng 10,6%.

Tổng chi ngân sách 2 tháng ước tính đạt 13,7% dự toán cả năm và tăng 29,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 12,8% và tăng 48,5%; chi thường xuyên đạt 15,6% và tăng 19,4%. Bội chi ngân sách 2 tháng bằng 6,4% tổng số chi và được bù đắp bằng nguồn vay trong nước.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng số tiền gửi tháng 2/2001 tăng 25,6% so với tháng 2/2000, trong đó nội tệ tăng 15,3%; ngoại tệ tăng 44,4%; tổng số dư cho vay tăng 26,8%, trong đó tín dụng ngắn hạn tăng 30,8%. Tổng số nợ quá hạn tháng này đã giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước; nợ chờ xử lý cũng giảm 6,2%, nhưng nhìn chung vẫn còn ở mức cao.

VII. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

  1. Đời sống dân cư

Theo báo cáo của 44 tỉnh, thành phố, trong dịp tết Tân Tỵ các cấp, các ngành, các đoàn thể, các doanh nghiệp, các tổ chức từ thiện đã tặng quà cho các đối tượng chính cách, các gia đình nghèo, cô đơn với tổng số tiền là 140 tỷ đồng; bình quân mỗi phần quà từ 30 nghìn đến 100 nghìn đồng. Một số tỉnh còn cứu tế lương thực cho các hộ đói với 3780 tấn gạo, trong đó Quảng Nam 717 tấn; Long An 350 tấn; Khánh Hoà 1000 tấn; Đà Nẵng 232 tấn; Quảng ngãi 204 tấn; Phú Yên 150 tấn và Hà Tĩnh 150 tấn; Hoà Bình 330 tấn.

Ngoài ra, các cấp, các ngành ở hầu hết các tỉnh, thành phố còn thành lập các đoàn đi thăm hỏi và chúc Tết các gia đình chính sách, bà mẹ Việt Nam Anh hùng và người có công với cách mạng. Tỉnh Thừa Thiên – Huế đã trích 350 triệu đồng để  tu sửa nhà ở cho các gia đình chính sách. Bệnh viện 115 thành phố Hồ Chí Minh đã khám bệnh, phát thuốc và tặng quà cho 100 hộ nghèo. Sở Lao động -Thương binh và Xã hội Khánh Hòa phối hợp với trường Sỹ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin, Bảo Việt Khánh Hoà và chi nhánh Công ty Lương thực miền Trung khám chữa bệnh và phát thuốc cho 500 lượt người… Cũng trong dịp tết Nguyên đán Tân Tỵ tỉnh Long An đã trao tặng 30 căn nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách.

  1. An toàn xã hội

Tổng hợp báo cáo sơ bộ của 52 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho thấy công tác bảo đảm trật tự và an toàn xã hội 2 tháng đầu năm như sau: Đã phát hiện 442 vụ với 744 người phạm tội buôn bán, tàng trữ và vận chuyển chất ma tuý; 451 vụ với 795 người sử dụng trái phép chất ma tuý. Vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ số vụ cũng như số người vi phạm tệ nạn ma tuý cao nhất với 35,3% số vụ và 42,9% số người vi phạm tội buôn bán, tàng trữ và vận chuyển chất ma tuý; 47,9% số vụ và 48,2% số người phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý. Vùng Đồng bằng sông Hồng 33% số vụ và 30,5% số người buôn bán, tàng trữ và vận chuyển chất ma tuý; 34,6% số vụ và 32,6% số người phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý. Vùng Đông Bắc 11,5% số vụ và 8,6% số người buôn bán, tàng trữ và vận chuyển chất ma tuý; 8,4% số vụ và 8,6% số người phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý. Vùng Bắc Trung Bộ 9,3% số vụ và 7,7% số người buôn bán, tàng trữ và vận chuyển chất ma tuý. Các vùng khác đều có xảy ra nhưng mức độ thấp hơn.

Trong số 52 tỉnh có báo cáo thì từ đầu năm đến nay đã phát hiện 94 vụ và 263 người vi phạm tệ nạn mại dâm, trong đó, vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ lệ cao nhất về số vụ và số người vi phạm tệ nạn mại dâm. Hai tỷ lệ này của ba vùng lần lượt là 31,9% và 27,8%; 23,4% và 30,0% và 21,3% và 20,2%.

Cũng tính từ đầu năm đến 20/2/2001 trên địa bàn 52 tỉnh nêu trên đã xảy ra 2388 vụ tai nạn giao thông, trong đó đường bộ 2335 vụ, chiếm 97%; đường sắt 28 vụ và đường thủy 25 vụ. Tai nạn giao thông 2 tháng vừa qua đã làm 727 người bị chết, trong đó 696 người chết do tai nạn giao thông đường bộ. Riêng trong các ngày Tết từ 17/1 đến 28/1/2001 đã xảy ra 942 vụ, trong đó đường bộ 921 vụ; đường sắt 5 vụ; đường thuỷ 5 vụ. Tai nạn giao thông trong những ngày Tết đã làm 302 người chết và 1663 người bị thương. Từ đầu năm đến nay có một số địa phương đã xảy ra trên 100 vụ tai nạn giao thông là: Hà Nội 224 vụ, làm 46 người chết và 217 người bị thương; thành phố Hồ Chí Minh 168 vụ, làm người chết và 176 người bị thương; Bình Dương 280 vụ, 32 người chết và 145 người bị thương; Vĩnh Long 105 vụ, 11 người chết và 61 người bị thương.

  1. Thiên tai

Đêm 19/2/2001 tại tỉnh Lai Châu đã xảy ra động đất có cường độ 5,3 độ rich-te. Theo báo cáo ban đầu ngoài một số người bị thương còn có 4590 ngôi nhà ở, 13 công sở, 20 trường học và 10 trạm y tế bị rạn nứt và hư hỏng. Trị giá thiệt hại ước tính 200 tỷ đồng. Ngoài ra, một số nơi như An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu còn xảy ra sạt lở đất, triều cường cũng gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ