1. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
  2. Nông nghiệp

Thu hoạch lúa mùa: Tính đến 15/11 cả nước thu hoạch được 1424 nghìn ha lúa mùa, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía  Bắc thu hoạch 1180,3 nghìn ha, chiếm trên 97% diện tích gieo cấy và bằng 103,5%; các địa phương phía Nam thu hoạch 243,7 nghìn ha, chiếm 30% diện tích gieo cấy và bằng 85,1%.

Sản xuất vụ mùa năm 2005 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, đầu vụ nắng hạn thiếu nước tưới ở các tỉnh phía Nam nên diện tích gieo cấy đạt tỷ lệ thấp so với cùng kỳ năm trước, cuối vụ chịu ảnh hưởng của các cơn bão số 2, 6,7, 8 dẫn đến năng suất và sản lượng giảm nhiều. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa mùa cả nước đạt 39,6 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha so với vụ mùa 2004; sản lượng đạt 8,06 triệu tấn, giảm 579 nghìn tấn (- 6,7%). Các địa phương phía Bắc năng suất đạt 41,8 tạ/ha, giảm 8% so với vụ mùa năm trước; sản lượng đạt 5,07 triệu tấn, giảm 523 nghìn tấn (-9,3%), trong đó đồng bằng sông Hồng năng suất giảm 6,8 tạ/ha (-13%); sản lượng giảm 447,4 nghìn tấn (-14,5%), Bắc Trung Bộ năng suất giảm trên 4,6 tạ/ha (-12%), sản lượng giảm 106,3 nghìn tấn (-13,8%). Một số tỉnh sản lượng giảm nhiều là: Nam Định giảm 191 nghìn tấn (- 44%), Thái Bình giảm 94 nghìn tấn (- 20%), Ninh Bình giảm 63 nghìn tấn (-31%), Thanh Hoá giảm 95 nghìn tấn (- 13,7%), Quảng Nam giảm 11 nghìn tấn (- 6%), Bình Định giảm 42 nghìn tấn (- 26%).

Cùng với việc thu hoạch lúa mùa sớm, các địa phương phía Nam đã tranh thủ gieo cấy được 318,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 95,1% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 316,5 nghìn ha, bằng 95%.

Cũng đến trung tuần tháng 11 năm 2005, cả nước đã gieo trồng được 456 nghìn ha cây vụ đông, trong đó, diện tích ngô đạt 178,6 nghìn ha, bằng 98,1% cùng kỳ năm trước; khoai lang 74,7 nghìn ha, bằng 97,5%; đậu tương 56 nghìn ha, bằng 121,2%; lạc 6,8 nghìn ha, bằng 70,8%; rau đậu 127,7 nghìn ha, bằng 101,2%.

Dịch cúm gia cầm: Tính đến ngày 18/11, cả nước có 17 tỉnh xảy ra dịch cúm gia cầm gồm: Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình, Hải Phòng, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đồng Tháp, Bạc Liêu với tổng số 62 quận, huyện và thị xã; 114 xã, phường. Số gia cầm bị tiêu huỷ khoảng 900 nghìn con. Các tỉnh có dịch đang tích cực thực hiện các biện pháp nhằm khống chế và không để dịch bệnh lây lan như: tiêu huỷ gia cầm mắc bệnh, phun thuốc tiêu độc, vệ sinh chuồng trại, cấm lưu thông gia cầm. Trong tháng, các địa phương tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng vaccin cúm gia cầm trên diện rộng, đồng thời tổ chức tập huấn, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, thực hiện chỉ thị tạm ngừng ấp trứng sản xuất giống, nuôi mới thuỷ cầm, chim cút đến hết ngày 28/2/2006. Một số địa phương đã có phương án cấm nuôi gia cầm trong phạm vi thành phố, thị trấn và  di dời những trang trại chăn nuôi gia cầm ra ngoài phạm vi khu dân cư.

Chăn nuôi gia súc phát triển mạnh, đặc biệt nuôi bò sinh sản và bò thịt. Mô hình nuôi lợn trong các trang trại tăng nhanh ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Thanh Hoá, Tuyên Quang.

  1. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tháng 11 ước tính đạt 15658 ha, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây phân tán đạt 8,3 triệu cây, tăng 3,8%; khai thác gỗ tăng 0,4%. Trong tháng, cả nước không xảy ra cháy rừng, tuy nhiên vẫn có hiện tượng phá rừng ở một số nơi, diện tích rừng bị phá khoảng 59 ha.

Tính chung 11 tháng năm 2005, tổng diện tích rừng trồng tập trung đạt 177,4 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; số cây trồng cây phân tán 195,4 triệu cây, tăng 3,9%; sản lượng gỗ khai thác tăng 0,1%.

  1. Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản cả nước tháng này ước tính đạt 304,7 nghìn tấn, tăng 9,2%, trong đó cá tăng 9,9%; tôm tăng 11,6%. Nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản được phổ biến và triển khai như nuôi cá-lúa, tôm-lúa/rừng kết hợp, nuôi lồng, nuôi ao, nuôi mặt nước lớn. Chủng loại thuỷ sản cũng phong phú hơn, có thêm nhiều loại như cá chẽm, cá kèo, cá trình, ếch lươn…. Đặc biệt, nhu cầu thủy sản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang châu Âu vừa qua có xu hướng tăng mạnh do dịch cúm gia cầm đang lan nhanh ra nhiều nước trên thế giới nên giá tôm, cá tăng so với tháng trước. Sản lượng nuôi trồng đạt 150,5 nghìn tấn, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 20,2%; tôm tăng 14,9%.      

Diễn biến thời tiết trong tháng khá thuận lợi cho hoạt động khai thác biển. Tuy  nhiên, giá bán sản phẩm tăng không nhiều trong khi giá nhiên liệu vẫn ở mức cao nên hiệu quả đánh bắt giảm. Nhiều tàu, thuyền vẫn đang nằm bờ, các địa phương tiếp tục phổ biến và hướng dẫn ngư dân một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, tiết kiệm chi phí như tập trung sản xuất với mô hình đội tàu phối hợp với tàu dịch vụ, tăng thời gian bám biển, giúp nhau tìm kiếm ngư trường… Sản lượng khai thác đạt 154,2 nghìn tấn, tăng 2,3%, trong đó cá tăng 2,1%; tôm tăng 0,1%.

Tính chung 11 tháng, sản lượng thuỷ sản đạt 3098 nghìn tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 8,6%; tôm tăng 10,8%; thuỷ sản khai thác tăng 3,3%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11 ước tính tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,3%, khu vực ngoài Nhà nước tăng 25% và khu vực có vốn đầu tư­ nước ngoài tăng 21,9% (dầu mỏ, khí đốt giảm 9%, các ngành khác tăng 30,7%). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng có tốc độ tăng cao hơn mức tăng trong 10 tháng như:  bia, thuốc lá, vải lụa, quần áo may sẵn, giấy bìa các loại, xà phòng, thép cán, gạch xây, gạch lát, máy công cụ…  Dầu thô khai thác trong tháng vẫn giữ ở mức 91% cùng kỳ năm trước.

Tính chung 11 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17% so với 11 tháng năm 2004, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nư­ớc tăng 8,9% (doanh nghiệp Nhà nước trung ư­ơng quản lý tăng 13,3%, doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý giảm 0,6%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 24,6% và khu vực có vốn đầu tư nư­ớc ngoài tăng 19,8% (dầu mỏ, khí đốt giảm 7,5%, các ngành khác tăng 28,2%).

Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng vẫn duy trì ở mức tăng cao so với 11 tháng năm 2004 như­: Than sạch khai thác tăng 21,9%; thủy sản chế biến tăng 15,2%; xút (NaOH) tăng 21,7%; phân hoá học tăng 31,5%; gạch lát tăng 19,3%; thép cán tăng 21,6%; máy công cụ tăng 37,5%; ô tô lắp ráp tăng 28,9%, mặc dù có chiều hướng tăng chậm hơn vào những tháng cuối năm do biến động giá cả tiêu thụ; điện sản xuất tăng 13,9%, căn bản đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng của dân cư. Bên cạnh các sản phẩm tăng cao, do khó khăn về sản xuất và thị trường tiêu thụ nên một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng phổ biến ở mức trên dưới 10% so với cùng kỳ năm trước như quần áo may sẵn tăng 13,4%, giấy tăng 13,9%, xi măng tăng 10,4%, quạt điện tăng 11%. Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng còn chưa đạt mức sản xuất của 11 tháng năm trước: dầu thô khai thác bằng 92,2%; ga hoá lỏng bằng 91,8%; đường, mật bằng 77,6%; động cơ diezel bằng 78,6%, máy biến thế bằng 91,6%; xe đạp hoàn chỉnh bằng 85%…

Các địa phư­ơng có qui mô sản xuất công nghiệp lớn có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của công nghiệp cả n­ước 11 tháng so với cùng kỳ 2004 là: Hải Phòng tăng 17,3%; Vĩnh Phúc tăng 33,4%; Hà Tây tăng 20,1%; Hải Dương tăng 23,8%; Quảng Ninh tăng 19,4%; Đà Nẵng tăng 17,2%; Khánh Hoà tăng 18%; Bình D­ương tăng 31,5%; Đồng Nai tăng 22%; Cần Thơ tăng 23,7%. Bên cạnh đó, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu là ba trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, giá trị sản xuất 11 tháng chiếm trên 40%, nhưng mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn mỗi địa phương trên đều thấp hơn mức tăng chung của cả nước: Hà Nội tăng 13,4%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,4% và Bà Rịa- Vũng Tàu tăng 14,2%.

  1. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nướctháng 11/2005 đạt khá hơn mức bình quân thực hiện trong 10 tháng, cả khối các đơn vị trung ương và địa phương quản lý. Thực hiện vốn tháng 11 ước tính 6585,1 tỷ đồng, bằng 12,7 % kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị trung ương quản lý 2294,4 tỷ đồng bằng 11,5% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương 4290,7 tỷ đồng bằng 13,4% kế hoạch năm. Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước thực hiện 52249,9 tỷ đồng, đã vượt trước kế hoạch vốn cả năm 2005 là 0,6%, trong đó các đơn vị trung ương quản lý 19397,3 tỷ đồng, đạt 97,5% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương quản lý 32852,6 tỷ đồng, vượt trước 2,6% kế hoạch năm. Trong tổng vốn đầu tư thực hiện 11 tháng của các đơn vị trung ương quản lý, Bộ Giao thông Vận tải đạt 100,1% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 112,9%; Bộ Xây dựng đạt 85,1%; Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Y tế đều mới đạt 84%; Bộ Thuỷ sản có tỷ trọng vốn nhỏ nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp so với kế hoạch, mới đạt 66%. Thực hiện vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước của các địa phương khá hơn các đơn vị trung ương quản lý. Theo thống kê thực hiện vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước địa phương quản lý của 20 tỉnh thành phố, 16 địa phương đã thực hiện vượt vốn kế hoạch; riêng Hà Nội đạt 76,5% và thành phố Hồ chí Minh đạt 89,9%.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Từ đầu năm đến ngày 16/11/2005, trên phạm vi cả nước đã có 702 dự án mới được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,61 tỷ USD, bình quân vốn 1 dự án mới được cấp phép là 5,14 triệu USD. Theo ngành kinh tế, các dự án mới được cấp phép trong 11 tháng năm nay vẫn chủ yếu tập trung vào công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp có nhiều dự án và qui mô lớn hơn nhiều so với các dự án đầu tư vào nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:

Số dự án mới đ­ược cấp phépSố vốn đăng ký (triệu USD)% của tổng sốVốn bình quân một dự án (Triệu USD)
Dự ánVốn đăng ký
Tổng số7023608,0100,0100,05,1
Công nghiệp và xây dựng4642098,366,158,24,5
Công nghiệp dầu khí120,00,10,620,0
Công nghiệp nặng1941405,227,638,97,2
Công nghiệp nhẹ226610,432,216,92,7
Công nghiệp thực phẩm2539,83,61,11,6
Xây dựng1822,92,60,61,3
Nông lâm nghiệp, thuỷ sản67117,89,53,31,8
Dịch vụ1711391,924,438,68,1

Cũng tính từ đầu năm đến ngày 16/11/2005 đã có 40 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp phép dự án đầu tư mới tại Việt Nam. Có 439 lượt dự án được tăng vốn trong 11 tháng với tổng số vốn tăng thêm là 1689,3 triệu USD, trong đó các ngành công nghiệp 335 dự án với 1215,6 triệu USD; xây dựng 9 dự án với 90,7 triệu USD; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 50 dự án với 185,2 triệu USD và dịch vụ 45 dự án với 197,8 triệu USD. Tính chung 11 tháng năm nay, cả vốn cấp mới và vốn tăng thêm đạt 5297,3 triệu USD, là mức khá cao so với cùng thời gian tại một số năm gần đây.

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 11 tháng ước tính đạt 426,9 nghìn tỷ đồng (tính theo giá thực tế), tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước chiếm 13% tổng mức, tăng 2,7%; kinh tế tập thể chiếm 1% tổng mức, tăng 18,3%; kinh tế cá thể chiếm 62,2%, tăng 25,9%; kinh tế tư nhân chiếm 20,1%, tăng 18%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,2%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm 78,2% tổng mức, tăng 19%; khách sạn, nhà hàng chiếm 13%, tăng 30,3%; dịch vụ chiếm 8,1%,  tăng 17,9%.

Giá tiêu dùng tháng 11 tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 7,6% so với tháng 12 năm trước, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, giá tiêu dùng tháng 11 tiếp tục tăng ở tất cả 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, tăng từ 0,1 đến 1,1%. Giá lương thực, thực phẩm tháng 11 đã tăng cao trở lại, và tăng hơn mức tăng giá tiêu dùng chung, đặc biệt là giá lương thực tăng 1,1%, cao hơn mức tăng 0,6% của giá lương thực tháng  Mười là 0,5 điểm phần trăm, giá tăng cao chủ yếu do sản lượng lúa mùa ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đạt thấp, dẫn đến nguồn cung giảm. Giá nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 0,7%. Các nhóm khác tăng phổ biến ở mức 0,3-0,4%, riêng giá phương tiện đi lại, bưu điện chỉ tăng 0,2%, trong đó giá bưu chính, viễn thông không thay đổi so với giá tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng 12 năm 2004

 

T6/2005T7/2005T8/2005T9/2005T10/2005T11/2005
Chung105,2105,6106,0106,8107,2107,6
Lư­ơng thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống107,7107,7108,0108,4108,8109,3
L­ương thực105,1104,5104,5104,7105,3106,5
Thực phẩm108,7108,9109,3109,7110,0110,1
Giá nhà ở và vật liệu xây dựng103,0104,8105,4107,2108,4109,2

So với tháng 12 năm trước, giá tiêu dùng tháng 11 tăng 7,6%, trong đó tăng mạnh là các nhóm: lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống tăng 9,3% (lương thực tăng 6,5% và thực phẩm tăng 10,1%); giá phương tiện đi lại, bưu điện tăng 10,3% (trong đó tăng nhanh là giá phương tiện đi lại, trong khi giá bưu điện chỉ bằng 90,8% giá tháng 12); giá nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 9,2%; các nhóm còn lại tăng phổ biến ở mức trên, dưới 4%; riêng nhóm văn hoá thể thao giải trí tăng 2,5%.

So với tháng 11/2004 giá tiêu dùng tháng 11/2005 tăng 8,5%. Tính chung 11 tháng, giá tiêu dùng tăng bình quân 8,25% so với 11 tháng năm trước.

Giá vàng tháng 11 tăng 0,9% so với tháng trước, tăng 3,5% so với tháng 12 năm trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Giá đô la Mỹ ổn định và có xu hướng tăng nhẹ cả ở 3 chỉ số: So với tháng trước tăng 0,1%, so với tháng 12 năm trước tăng 0,8% và tăng 0,9% so với tháng 11 năm trước.

Tổng giá trị xuất khẩu tháng 11 ước tính đạt 2,75 tỷ USD, tăng 20,8% so với tháng 11 năm trước, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng lên 29,12 tỷ USD, bình quân mỗi tháng đạt 2,65 tỷ USD. So với 11 tháng năm trước, kim ngạch xuất khẩu tăng 21,5%, tương đương với tăng thêm 5,15 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 12,35 tỷ USD, tăng 13,9%, tương đương với tăng thêm 1,51 tỷ USD, đóng góp 6,3 điểm phần trăm vào tăng kim ngạch 11 tháng; xuất khẩu dầu thô đạt 6,77 tỷ USD, tăng 30,3%, tương đương với tăng thêm 1,57 tỷ USD, đóng góp 6,6 điểm phần trăm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô 9,99 tỷ USD, tăng 26,1%, tương đương với 2,07 tỷ USD, đóng góp  8,6 điểm phần trăm.

Trong tổng số, xuất khẩu của 7 mặt hàng có kim ngạch lớn là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, điện tử máy tính, gạo và sản phẩm gỗ đạt 20,22 tỷ USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ và đóng góp 15,2 điểm phần trăm trong 21,5 điểm phần trăm tăng trưởng chung.

Xuất khẩu dầu thô 11 tháng tăng thêm 1,57 tỷ USD so với cùng kỳ, chủ yếu do tăng giá dầu thô trên thị trường quốc tế: tuy giá dầu thô có giảm trong tháng 11, song giá bình quân của dầu thô xuất khẩu 11 tháng vẫn đạt khoảng 411 USD/tấn, tăng 40,9% so với giá 11 tháng năm trước, đã làm tăng thêm 1,97 tỷ USD, bù lại lượng dầu thô xuất khẩu giảm 7,6%.

Xuất khẩu hàng dệt may 11 tháng đạt 4,32 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ; giày, dép 2,63 tỷ USD, tăng 10,3%; thuỷ sản 2,5 tỷ USD, tăng 14,7%; điện tử, máy tính 1,32 tỷ USD, tăng 36,4%; sản phẩm gỗ 1,35 tỷ USD, tăng 40,9%. Xuất khẩu gạo 1,33 tỷ USD, tương ứng với lượng xuất khẩu đạt 4,99 triệu tấn, tăng 47,9% về kim ngạch so với 11 tháng năm 2004, lượng xuất khẩu tăng 29,1%, như vậy cả lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo năm nay đều tăng ở mức cao, do có lợi thế về giá và nguồn cung cho xuất khẩu tăng. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản khác (trừ hạt tiêu và chè) đều tăng khá so với 11 tháng năm trước, chủ yếu do được lợi về giá xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước: kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng 14,5% (lượng giảm 5,8%); rau quả tăng 31,9%; cao su tăng 28,7% (lượng tăng 11,2%); điều tăng 13,5% (lượng giảm 1%); lạc cả kim ngạch và lượng đều tăng 24,6%. Một số mặt hàng công nghiệp vẫn thấp xa so với kim ngạch xuất khẩu của cùng kỳ năm trước như: xe đạp và phụ tùng chỉ bằng 61,1%, dầu mỡ động thực vật bằng 54,4%, đồ chơi trẻ em bằng 87,4%.

Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam 10 tháng vẫn ổn định, hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ, nhất là các thị trường lớn: thị trường Hoa Kỳ đạt 4,83 tỷ USD, tăng 19,4%, Nhật Bản 3,56 tỷ USD, tăng 27,7%; Trung Quốc 2,34 tỷ USD, tăng 6%; Ô-xtrây-lia 2,08 tỷ USD, tăng 53,9%; Singapore 1,49 tỷ USD, tăng 31,4%…

Tổng giá trị nhập khẩu 11 tháng năm 2005 ước tính đạt 33,55 tỷ USD, tăng 16,6% so với 11 tháng năm 2004, trong đó, khu vực kinh tế trong nước 21,14 tỷ USD, tăng 12,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 12,4 tỷ USD, tăng 24%. Bình quân mỗi tháng trong 11 tháng qua duy trì nhập khẩu ở mức khoảng 3,05 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do giá nhập khẩu một số mặt hàng có giá trị lớn vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao. Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu ước tính đạt 4,59 tỷ USD, tăng 43,4%, lượng nhập chỉ tăng 5,1%; sắt thép 2,76 tỷ USD, tăng 21,7%, lượng nhập tăng 12,3%; hàng điện tử, máy tính và linh kiện 1,54 tỷ USD, tăng 29,7%; vải 2,18 tỷ USD, tăng 25,5%; chất dẻo 1,33 tỷ USD, tăng 23,3%, lượng nhập tăng 4,6%; hoá chất tăng 28,6%… Bên cạnh đó, một số mặt hàng, nhóm hàng tăng thấp hoặc giảm so với 11 tháng năm trước: kim ngạch nhập khẩu hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 4,78 tỷ USD, chỉ tăng 1,1%; nhập khẩu ô tô 1 tỷ USD, tăng 27,3%, chủ yếu do tăng nhập khẩu linh kiện tăng 48,5% (lên 743 triệu USD) phục vụ nhu cầu lắp ráp và sửa chữa ô tô cũ, trong khi nhập khẩu ô tô nguyên chiếc chỉ bằng 90,3% kim ngạch cùng kỳ và số lượng nhập khẩu bằng 80,5% (cung trong nước đã tăng sức cạnh tranh hơn); nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 2,09 tỷ USD, tăng 3,7%; bông giảm 15,8%, chủ yếu do giá nhập khẩu giảm. Kim ngạch nhập khẩu phân bón 11 tháng giảm 26,5% so với cùng kỳ, chủ yếu do lượng nhập khẩu giảm 33,2%, tuy nhiên nhu cầu phân bón cho nông nghiệp đã được cân đối bởi nguồn cung trong nước tăng mạnh: phân bón sản xuất 11 tháng tăng 31,5%. Riêng mặt hàng xe máy nhập khẩu 490 triệu USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ, trong đó nhập khẩu xe máy nguyên chiếc 52,8 triệu USD, tăng 92,6% (số lượng nhập 38,2 nghìn chiếc, bằng 2,92 lần cùng kỳ). Nhập siêu 11 tháng 4,43 tỷ USD, bằng 15,2% kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn  mức nhập siêu 4,81 tỷ USD của 11 tháng năm trước và là tỷ lệ tích cực hơn hẳn tỷ lệ nhập siêu 20,1% của cùng kỳ.

Vận chuyển hành khách 11 tháng năm 2005 ước tính đạt 1162,9 triệu lượt hành khách và 48,77 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,7% về số lượt khách và tăng 11,4% về số lượt hành khách.km, trong đó vận tải trong nước thực hiện 1160,4 triệu lượt hành khách, tăng 6,7% và 41,7 tỷ lượt hành khách.km, tăng 8,5%; vận chuyển hành khách ngoài nước tăng mạnh cả về số lượt hành khách và số lượt hành khách.km. Vận chuyển hành khách theo các ngành đường vận tải đều tăng cả hai chỉ số lượt khách và lượt khách.km, trong đó vận chuyển hành khách bằng đường bộ đạt 987,4 triệu lượt hành khách, chiếm tỷ trọng lớn trong số lượt khách, tăng 7,4%, luân chuyển tăng 8,4%; vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tăng 24,2% và tăng 28,6%…

Vận chuyển hàng hoá  11 tháng năm 2005 ước tính đạt 287,4 triệu tấn và 72,15 tỷ tấn.km, tăng 6,8% về tấn và tăng 6,5% về tấn.km, trong đó vận chuyển hàng hoá tuyến ngoài nước (cả về tấn và về tấn.km ) và luân chuyển hàng hoá do vận tải trung ương thực hiện đều tăng cao hơn mức tăng chung. Vận chuyển  hàng hoá bằng đường biển tăng 5,6% về tấn và tăng 6,5% về tấn.km; bằng đường bộ tăng 7,7% và tăng 7,9%; bằng đường sông tăng 5,9% và tăng 4,3%; riêng vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt chỉ đạt xấp xỉ số tấn được vận chuyển trong 11 tháng năm trước.

Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 11 ước tính đạt 290 nghìn người, tăng không đáng kể so với số khách đến trong tháng 10 và tăng chủ yếu số khách đến thăm thân nhân và vì các mục đích khác, trong khi số khách đến vì công việc và du lịch giảm (có tính chất mùa vụ). Tính chung 11 tháng năm 2005 số khách đến nước ta đạt 3,14 triệu khách, tăng 18,8% so với 11 tháng năm 2004, trong đó số khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi 1,84 triệu khách, chiếm 58,6% tổng số khách đến, tăng 28,9%; thăm thân nhân chiếm 14,8% và tăng 10,4%; đến với mục đích khác chiếm 12,4% và tăng 20,4%; riêng khách đến vì công việc giảm 5,6%.

Khách đến Việt Nam từ hầu hết các nước đều tăng như: khách đến từ Mỹ 299,4 nghìn người, tăng 21,1%; từ  Nhật 299 nghìn người, tăng 22,5%; từ Hàn Quốc 289,7 nghìn người, tăng 44,4%; từ Đài Loan 261 nghìn người, tăng 12%; từ Cam-pu-chia 169,9 nghìn người, tăng 116,2%; từ Úc 132,4 nghìn người, tăng 17,7% và từ Pháp 114,8 nghìn người, tăng 20,3%, từ Xin-ga-po tăng 67,3%; từ Thái Lan tăng 66,8%; từ Italy tăng 46,2%; từ Nga tăng 100,7%; từ Tây Ban Nha tăng 85,1%… Riêng số khách đến từ CHND Trung Hoa chiếm nhiều nhất (684,1 nghìn lượt người), nhưng giảm 4,3% so với 11 tháng năm trước.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước 11 tháng 2005 ước tính tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước và vượt trước kế hoạch thu ngân sách Nhà nước cả năm 3,1%, trong đó thu nội địa bằng 95,6%, thu dầu thô 135,3%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 91,8% và thu viện trợ đã đạt 100% kế hoạch cả năm. Các khoản thu lớn trong thu nội địa đều đạt ngang hoặc trên mức 95% kế hoạch năm như: thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 95,3%; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài không kể dầu thô 94,8%; các khoản thu về nhà đất 108,9% (thu tiền sử dụng đất đạt 102%); thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 94,4%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước ước tính đạt 94,8%. Thu từ dầu thô 11 tháng đã vượt kế hoạch thu ngân sách 35,3%, do giá dầu thô liên tục tăng cao so với giá khi lập dự toán. Trong các khoản thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu, thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 102,7%, trong khi thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế giá trị gia tăng và chi phí quản lý thu thuế) mới đạt 78%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 11 tháng ước tính đạt 95,3% dự toán cả năm, (thấp hơn 7,8 điểm phần trăm so với mức hoàn thành kế hoạch thu), tuy đã đảm bảo được 96,5% kế hoạch chi  thường xuyên cả năm, nhưng chi cho đầu tư phát triển mới đạt 88% (trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản 87%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đạt mức từ 91,3%- 99,9% kế hoạch chi cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 96,3% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 91,3%; chi sự nghiệp kinh tế 99,9%; chi quản lý hành chính 98,5%; chi y tế 99,3%. Bội chi ngân sách Nhà nước 11 tháng bằng 74,3% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó bù đắp bằng nguồn vay trong nước chiếm 75,2% và vay nước ngoài  chiếm 24,8%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 11 (tính đến ngày 21 tháng 11) có 49,3 nghìn lượt hộ với 232,3 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,4% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp cả nước. Số hộ thiếu đói trong tháng giảm 38,5% so với tháng trước, nhưng lại gấp khoảng 2 lần cùng kỳ năm 2004, do ảnh hưởng của hạn hán kéo dài và bão lũ thời gian qua, nhất là ảnh hưởng của bão số 6 và bão số 7. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức đã trợ giúp cho các hộ thiếu đói gần 22 nghìn tấn lương thực và 12,9 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 11 là trên 1 nghìn tấn lương thực và 1,4 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Bệnh sốt rét: Trong tháng có 9,6 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 5 người tử vong. Số người mắc bệnh sốt rét trong cả nước từ đầu năm đến nay là 80,6 nghìn trường hợp, trong đó 11 người đã tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số người mắc bệnh giảm 23,2%; số người chết giảm 42,1%.

Bệnh sốt xuất huyết: Số người mắc bệnh trong tháng là 10,7 nghìn trường hợp, trong đó 4 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, số người mắc bệnh sốt xuất huyết là 46,4 nghìn trường hợp, trong đó 40 người đã tử vong. So với cùng kỳ năm 2004, số người mắc bệnh giảm 31,8%; số người chết giảm 59,6%.

Bệnh viêm não vi rút: Trong tháng có 76 trường hợp mắc bệnh, trong đó 2 trường hợp tử vong. Tính từ đầu năm đến nay đã có 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, trong đó 50 người tử vong, giảm 54,1% số mắc bệnh và giảm 58,7% số trường hợp so với cùng kỳ năm 2004.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 11 phát hiện thêm 1,2 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/11/2005 lên 103,1 nghìn người, trong đó có 17,1 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 9,9 nghìn người đã chết do AIDS.

Về tình hình cúm A-H5N1: Cuối tháng 10 có một trường hợp mắc bệnh và đã tử vong do cúm A-H5N1. Như vậy từ đầu năm đến nay đã  có 65 trường hợp mắc bệnh tại 25 tỉnh, thành phố, trong đó có 22 trường hợp tử vong. Nếu tính từ trường hợp mắc cúm A-H5N1 đầu tiên tại Việt Nam (26/12/2003) đến nay đã có 92 trường hợp mắc bệnh tại 32 tỉnh, thành phố, trong đó có 42 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 10 (từ ngày 21 tháng 9 đến hết ngày 21 tháng 10) trên phạm vi cả nước xảy ra 1075 vụ tai nạn giao thông, làm chết 847 người và bị thương 837 người. So với tháng trước, tai nạn giao thông giảm 30 vụ; người chết giảm 65 người và bị thương giảm 35 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 19,1%; số người chết giảm 11,9%; số người bị thương giảm 22,9%.

Tính chung 10 tháng năm 2005, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 12,1 nghìn vụ tai nạn, làm chết 9,5 nghìn người và làm bị thương 10,2 nghìn người, bình quân 1 ngày xảy ra 40 vụ tai nạn, làm chết 31 người, bị thương 34 người. Tai nạn giao thông 10 tháng qua đã giảm đáng kể về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm trước, trong đó số vụ giảm 17,8% (giảm 2,6 nghìn vụ); số người chết giảm 6,3% (giảm 0,6 nghìn người); số người bị thương giảm 22,8% (giảm 3 nghìn người). Bình quân 1 ngày giảm gần 9 vụ; số người bị chết giảm 2 người và bị thương giảm 10 người. Tai nạn giao thông trong 10 tháng chủ yếu vẫn là tai nạn giao thông đường bộ, chiếm 96,4% số vụ; 97% số người chết và 97,8% số người bị thương.

Thiệt hại do lụt bão

Từ ngày 21 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 đã xảy ra bão, mưa lớn, áp thấp nhiệt đới tại các tỉnh duyên hải miền Trung và lũ tại đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 81 người chết, trong đó Bình Định 15 người, Long An và Kiên Giang mỗi tỉnh chết 14 người; số người bị thương trên 120 người, chủ yếu tập trung ở Đà Nẵng và Quảng Ngãi. Thiên tai cũng đã làm ngập, hư hại 24,7 nghìn ha lúa, trong đó mất trắng 2,5 nghìn ha; 13,5 nghìn ha hoa mầu, trong đó mất trắng gần 500 ha; khoảng 2 nghìn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản. Có khoảng 2 nghìn nhà ở bị sập đổ, cuốn trôi; 58,8 nghìn nhà bị ngập nước, hư hại, tốc mái cùng nhiều công trình kinh tế, xã hội khác bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 432 tỷ đồng, trong đó Thừa Thiên-Huế 98 tỷ đồng; Quảng Ngãi 88 tỷ đồng. 

Biểu số liệu tháng 11 năm 2005

Biểu số liệu tháng 11 năm 2005