1. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
  2. Nông nghiệp

Trồng trọt: Tính đến ngày 15/10 các tỉnh phía Bắc đã thu hoạch được 810,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 131,5% cùng kỳ năm trước và chiếm 67,1% diện tích gieo cấy, trong đó các tỉnh Bắc Trung Bộ thu hoạch 171 nghìn ha, bằng 132,6% và chiếm 90%; các tỉnh đồng bằng sông Hồng thu hoạch 385,4 nghìn ha, bằng 145,5% và chiếm 67%. Các tỉnh có tiến độ thu hoạch nhanh với trên 90% diện tích gieo cấy là Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nam và Hưng Yên. Do ảnh hưởng của cơn bão số 7 nên diện tích lúa mùa của một số tỉnh ven biển phía Bắc bị ngập úng nặng, dẫn đến năng suất bình quân của hai vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ giảm 4 tạ/ha so với vụ mùa 2004, sản lượng giảm trên 300 nghìn tấn. Các tỉnh có sản lượng giảm nhiều là Nam Định (-21%); Thái Bình (-14%); Ninh Bình (-27%); Thanh Hoá (-13%); Nghệ An (-7%); Hải Phòng (-7%).

Cũng đến thời điểm này, các tỉnh đang khẩn trương kết thúc thu hoạch lúa hè thu muộn và vụ 3, đạt 2167,6 nghìn ha, bằng 97,5% cùng kỳ năm trước và chiếm 93,7% diện tích gieo sạ, trong đó đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1797,6 nghìn ha, bằng 98,8% và chiếm 92%. Hiện nay, nước lũ trong vùng đã vào đỉnh điểm nhưng hầu hết diện tích lúa đều nằm trong vùng đê bao nên không bị ảnh hưởng, ước tính năng suất lúa hè thu vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 44 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với hè thu 2004; sản lượng ước tính đạt 8,7 triệu tấn, tăng 184 nghìn tấn.

Cùng với việc thu hoạch lúa hè thu, các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã gieo sạ được 293,8 nghìn ha lúa mùa niên vụ 2005-2006, bằng 87,6% cùng kỳ năm trước. Các tỉnh phía Bắc tranh thủ thời tiết thuận lợi gieo trồng được 162,8 nghìn ha ngô, bằng 101,6% cùng kỳ năm 2004; 48,5 nghìn ha khoai lang, bằng 106,6%; 50,9 nghìn ha đậu tương, bằng 139,1%; 69,6 nghìn ha rau đậu, bằng 105,8%.

Về chăn nuôi: Trong tháng 10, các địa phương tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng vắc-xin cúm gia cầm trên diện rộng. Nhìn chung, công tác tiêm phòng diễn ra chậm do thiếu thuốc; công tác kiểm dịch đàn gia cầm vận chuyển ở một số địa phương thực hiện chưa tốt.

  1. Lâm nghiệp

Thời tiết có mưa tạo thuận lợi cho việc trồng rừng, diện tích trồng mới tháng 10 đạt 12240 ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2004; số cây trồng phân tán đạt 12,5 triệu cây, tăng 4,2%; sản lượng gỗ khai thác tăng 1,3%. Tính chung 10 tháng năm nay, tổng diện tích rừng trồng mới đạt 161,8 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước, số cây trồng phân tán 187,1 triệu cây, tăng 0,3%; sản lượng gỗ khai thác tăng 0,2%.

  1. Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng 10 đạt 144,8 nghìn tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 19%; tôm tăng 10,3%. Trong hoạt động khai thác, nhờ thực hiện các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí nên đã hạn chế ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu. Sản lượng tháng này đạt 153,7 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó, cá tăng 2,5%; tôm tăng 2,9%.

Tính chung 10 tháng năm 2005, sản lượng thuỷ sản đạt 2793 nghìn tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuỷ sản nuôi trồng 1093,5 nghìn tấn, tăng 15,3%; thuỷ sản khai thác 1699,7 nghìn tấn, tăng 3,5%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 tính theo giá năm 1994 ước tính tăng 4,7% so với số thực hiện tháng 9 và tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 8% so với tháng 10 năm trước; khu vực ngoài Nhà nước tăng 25%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,3% (dầu mỏ và khí đốt giảm 10%, các ngành khác tăng 31,4%). Sản xuất công nghiệp tháng 10 tăng cao so với cùng kỳ năm trước do một số mặt hàng tăng cao trở lại như vải lụa tháng 10 tăng 17% so với cùng kỳ năm trước; quần áo dệt kim tăng 38,7%; quần áo may sẵn tăng 28,7%; giấy, bìa tăng 32,9%; thép tăng 41,4%; gạch lát tăng 71,4%; máy công cụ tăng 74,7%; ô tô lắp ráp tăng 36,3%; sản xuất điện tăng 16,1%…

Tính chung 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 351,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,1% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 13,3%, doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý chỉ đạt xấp xỉ mức 10 tháng năm trước); khu vực ngoài Nhà nước tăng 24,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,4% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,3%; các ngành khác tăng  27,8%). Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn duy trì được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như than sạch khai thác tăng 20%, thuỷ sản chế biến tăng 15%; sữa hộp tăng 16,5%; giấy bìa tăng 14,2%; phân hoá học tăng 35,6%; gạch lát tăng 17,1%; thép cán tăng 21,1%; máy công cụ tăng 41,9%; ô tô lắp ráp tăng 43,3%; xe máy lắp ráp tăng 14% và điện sản xuất tăng 14%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của nền kinh tế còn tăng chậm so với cùng kỳ năm trước như: xi măng tăng 10,4%; động cơ điện tăng 13,4%; quần áo dệt kim tăng 8,2%; vải chỉ tăng 0,4%… Đáng lưu ý là trong 10 tháng, một số sản phẩm giảm mạnh so với cùng kỳ như: Dầu thô khai thác giảm 8,4%; đường giảm 23,4%; động cơ diezen giảm 21,3%; máy biến thế giảm 7,4%; tivi lắp ráp giảm 8,1%; xe đạp giảm 10,5%…

Một số địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp lớn trong cả nước có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng cao và ổn định như: Hải Phòng tăng 17%; Vĩnh Phúc tăng 33,5%; Hà Tây tăng 18,3%; Hải Dương tăng 27,2%; Quảng Ninh tăng 17,5%; Đà Nẵng tăng 18,2%; Khánh Hoà tăng 17,3%; Bình Dương tăng 32,4%; Đồng Nai tăng 21,9%; Cần Thơ tăng 24,8%… Điều đáng quan tâm là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu, là những thành phố có tỷ trọng giá trị sản xuất lớn trong cả nước lại có tốc độ tăng trưởng công nghiệp 10 tháng thấp hơn tốc độ tăng bình quân chung của cả nước: Hà Nội chỉ tăng 14,2%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,9%, Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 13,3%.

Mặc dù có tốc độ tăng giá trị sản xuất tương đối cao so với cùng kỳ năm trước, nhưng ngành công nghiệp vẫn phải đối mặt với những khó khăn tác động đến những tháng còn lại của năm 2005 và năm 2006 như giá nhập khẩu một số nguyên, nhiên, vật liệu chủ yếu tăng cao. Một số ngành sản phẩm cần sử dụng nhiều lao động như dệt may; giày, dép; chế biến nông sản thực phẩm; chế biến thủy sản có vốn đầu tư ít, công nghệ chưa thực sự phù hợp với đòi hỏi của thị trường và trình độ của lao động thấp đang và sẽ phải cạnh tranh gay gắt với nhiều nước xuất khẩu lớn trong khu vực và láng giềng trên các thị trường EU, Mỹ, Nhật… và phải vượt qua các rào cản thương mại quốc tế khác khi nước ta chưa tham gia vào WTO. Mặt khác, thiên tai, thời tiết diễn biến thất thường cũng ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của một số vùng, địa phương và hạn chế cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến nông, lâm, thủy sản.

  1. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước tháng 10/2005 ước tính đạt 5646,8 tỷ đồng, bằng 10,9 % kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị trung ương quản lý 1999,5  tỷ đồng bằng 10% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương 3650,3 tỷ đồng bằng 11,4% kế hoạch năm. Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước thực hiện 46766,4 tỷ đồng, đạt 90,1% kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị trung ương quản lý 17468,1 tỷ đồng, đạt 87,8% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương quản lý 29298,3 tỷ đồng, đạt 91,5%. Trong tổng vốn đầu tư thực hiện 10 tháng của các đơn vị trung ương quản lý, Bộ Giao thông Vận tải chiếm 30,6% và  đạt 92,9% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chiếm 10,6% và đạt 100,8%; Bộ Xây dựng chiếm 5,3% và đạt 80,4%. Một số Bộ có tỷ trọng vốn nhỏ nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp so với kế hoạch là Thuỷ sản 59,5%, Giáo dục Đào tạo 61,3% và Y tế 63,4%. Trong các đơn vị địa phương quản lý, một số địa phương đã thực hiện vượt vốn kế hoạch, trong khi một số thành phố lớn tỷ lệ thực hiện còn tương đối thấp như Hà Nội mới thực hiện 65,7%; thành phố Hồ Chí Minh 75,7% và Hải Phòng 77%.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Từ đầu năm đến ngày 21/10/2005, trên phạm vi cả nước đã có 659 dự án mới được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,98 tỷ USD, bình quân vốn 1 dự án mới được cấp phép là 4,5 triệu USD. Theo ngành kinh tế, công nghiệp và xây dựng có 433 dự án (chiếm  65,7% số dự án) với tổng vốn đăng ký 1350 triệu USD (chiếm 45,2% tổng vốn đăng ký), trong đó công nghiệp nặng 174 dự án với vốn đầu tư  656,9 triệu USD; công nghiệp nhẹ 216 dự án với 611 triệu USD; công nghiệp thực phẩm 24 dự án, vốn đầu tư 39,3 triệu USD và xây dựng 18 dự án với vốn đăng ký  22,9  triệu USD. Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 65 dự án, chiếm 9,9% số dự án với vốn đầu tư  114,7 triệu USD, chiếm 3,8% tổng số vốn đăng ký. Các lĩnh vực khác có 161 dự án, chiếm 24,4% số dự án với vốn đầu tư  1519,5 triệu USD (chiếm  50,9% tổng số vốn đăng ký).

Cũng tính từ đầu năm đến 21/10/2005 đã có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư  tại Việt Nam. Có 403 lượt dự án được tăng vốn, với tổng số vốn tăng thêm là 1603 triệu USD. Tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm 10 tháng đạt 4585 triệu USD. Vốn thực hiện 10 tháng khoảng 2784 triệu USD.

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 10 tháng ước tính đạt 384,55 nghìn tỷ đồng (tính theo giá thực tế), tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 1,7%; kinh tế tập thể chiếm 1% tổng mức, tăng 19,5%; kinh tế cá thể chiếm 62,5%, tăng 21,2%; kinh tế tư nhân chiếm 19,7%, tăng 29,9%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp chiếm 78% tổng mức, tăng 18,3%; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,9%, tăng 28,9%; dịch vụ chiếm 8,3%,  tăng 23,9%.

Giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 7,2% so với tháng 12 năm trước, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, giá tiêu dùng tháng 10 tiếp tục tăng ở tất cả 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, tăng từ 0,1 đến 1,1%. Giá lương thực, thực phẩm tháng 10 tăng cao trở lại, ngang với mức tăng giá tiêu dùng chung, đặc biệt là giá lương thực tăng 0,6%, sau 5 tháng liên tục tăng với mức thấp hơn tăng giá lương thực, thực phẩm và thấp hơn mức tăng giá tiêu dùng chung. Giá lương thực tăng cao chủ yếu do ảnh hưởng của bão số 7, làm giảm năng suất và sản lượng lúa mùa ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ dẫn đến giảm cung. Giá nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 1,1%. Các nhóm khác tăng phổ biến ở mức 0,3-0,4%, riêng giá bưu chính viễn thông trong nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tiếp tục giảm 2,4% so với tháng trước.

 

Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng trước

 

T5/2005T6/20057/20058/20059/200510/2005
Chung100,5100,4100,4100,4100,8100,4
Lư­ơng thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống100,6100,5100,0100,3100,4100,4
L­ương thực100,299,599,4100,0100,2100,6
Thực phẩm100,8100,9100,2100,4100,4100,3

So với tháng 12 năm trước, giá tiêu dùng tháng 10 tăng lên 7,2%, tiếp tục nhích lên so với mức tăng 6,8% của tháng 9, trong đó tăng mạnh là các nhóm: lương thực, thực phẩm tăng 8,8% (lương thực tăng 5,3% và thực phẩm tăng 10%); giá phương tiện đi lại, bưu điện tăng 10,1% (trong đó tăng nhanh là giá phương tiện đi lại, trong khi giá bưu điện chỉ bằng 90,8% giá tháng 12); giá nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 8,4%; các nhóm còn lại tăng phổ biến ở mức trên, dưới 4%; riêng nhóm văn hoá thể thao giải trí tăng 2,2%.

So với tháng 10/2004 giá tiêu dùng tháng 10/2005 tăng 8,3%. Tính chung 10 tháng, giá tiêu dùng tăng bình quân 8,2% so với 10 tháng năm trước.

Giá vàng tháng 10 tăng 4,1% so với tháng trước, tăng 2,6% so với tháng 12 năm trước và tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Giá đô la mỹ ổn định và có xu hướng tăng nhẹ cả ở 3 chỉ số: So với tháng trước tăng 0,1%, so với tháng 12 năm trước tăng 0,7% và tăng 0,8% so với tháng 10 năm trước.

Tổng giá trị xuất khẩu thực hiện trong tháng 10 ước tính đạt 2,85 tỷ USD, tăng 24,4% so với tháng 10 năm trước và tăng nhẹ so với thực hiện tháng 9. Xuất khẩu tăng so với tháng 9 ở các mặt hàng dầu thô, dệt may, giày dép, điện tử máy tính, cà phê, sản phẩm gỗ. Một số mặt hàng đạt mức tương đương tháng 9 hoặc chỉ tăng nhẹ như than đá, dây điện và cáp điện, rau quả, cao su, hạt điều và thuỷ sản. Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng giảm so với mức đã đạt được trong tháng 9 là gạo, hạt tiêu.

Tính chung 10 tháng năm nay, giá trị xuất khẩu đạt 26,45 tỷ USD, tăng 21,9% so với 10 tháng năm 2004, trong đó xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước 11,25 tỷ USD, tăng 14,1%; xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 8,97 tỷ USD, tăng 25,1% và xuất khẩu dầu thô 6,23 tỷ USD, tăng 33,5%. Trong tổng số, xuất khẩu của 7 mặt hàng có kim ngạch lớn là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, điện tử máy tính, gạo và sản phẩm gỗ đạt 15 tỷ USD, tăng 22,6% so với cùng kỳ và đóng góp 15,6 điểm phần trăm trong 21,9 điểm phần trăm tăng trưởng xuất khẩu, riêng dầu thô đóng góp 7,2 điểm phần trăm.

Xuất khẩu dầu thô 10 tháng tăng thêm 1,56 tỷ USD so với cùng kỳ, đóng góp tới 32,8% vào tăng giá trị xuất khẩu, chủ yếu do giá dầu thô trên thị trường quốc tế liên tục tăng, giá dầu thô xuất khẩu bình quân 10 tháng là 416,3 triệu USD/tấn, tăng 43,9% so với cùng kỳ, đã làm tăng thêm 1,9 tỷ USD, bù lại lượng dầu thô xuất khẩu giảm 7,2%.

Xuất khẩu hàng dệt may 10 tháng đạt gần 4 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ, giày dép 2,4 tỷ USD, tăng 10,6%; thuỷ sản 2,19 tỷ USD, tăng 12,4%; điện tử máy tính 1,17 tỷ USD, tăng 36,7%; sản phẩm gỗ 1,21 tỷ, tăng 43,1%. Xuất khẩu gạo 1,24 tỷ USD, tăng 49% so với 10 tháng năm 2004, tương đương với lượng xuất khẩu đạt 4,61 triệu tấn, trong đó lượng gạo xuất khẩu trong tháng 10 đã giảm mạnh để đảm bảo yêu cầu an toàn lương thực trong nước. Các mặt hàng nông sản khác (trừ hạt tiêu và chè) đều tăng khá so với 10 tháng năm trước: kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng 10,2% (lượng giảm 8,9%); rau quả tăng 35,7%; cao su tăng 25,3% (lượng tăng 10,2%); điều tăng 18,1% (lượng chỉ tăng 0,4%); lạc cả kim ngạch và lượng đều tăng 27%. Một số mặt hàng công nghiệp vẫn tiếp tục giảm mạnh là xe đạp và phụ tùng giảm 36,4%, dầu mỡ động thực vật giảm 47,8%, đồ chơi trẻ em giảm 13,2%.

Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng vẫn ổn định, hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ, nhất là các thị trường lớn: thị trường Hoa kỳ tăng 16,7%, Nhật Bản tăng 28,7%, Singapore tăng 28%, Trung Quốc tăng  7,1%.

Tổng giá trị nhập khẩu 10 tháng năm 2005 đạt 30,52 tỷ USD, tăng 18,3% so với 10 tháng năm 2004, bằng 83,6% kế hoạch cả năm. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước 19,34 tỷ USD, tăng 14,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 11,18 tỷ USD, tăng 24,8%. Tính đến nay, bình quân mỗi tháng nhập khẩu khoảng 3,05 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do giá nhập khẩu một số mặt hàng có giá trị lớn vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao. Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu ước tính đạt 4,19 tỷ USD, tăng 43,1%, lượng nhập chỉ tăng 4,7%; sắt thép 2,53 tỷ USD, tăng 27,2%, lượng nhập tăng 14,2%; hàng điện tử, máy tính và linh kiện 1,37 tỷ USD, tăng 31,1%; vải gần 2 tỷ USD, tăng 23,6%; chất dẻo 1,22 tỷ USD, tăng 31,4%, lượng nhập tăng 9,3%; hoá chất tăng 29,5%… Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 4,38 tỷ USD, tăng 1,6% (trong tháng 10 nhập 1 máy bay  Bo-ing 777, khoảng 166 triệu USD); nguyên phụ liệu dệt may 1,87tỷ USD, chỉ tăng 2,5%; bông giảm 13,9%, chủ yếu do giá nhập khẩu bình quân 10 tháng giảm 23%; phân bón giảm 25,8% (lượng giảm 33%)… Riêng mặt hàng xe máy nhập khẩu 464 triệu USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ, trong đó xe máy nguyên chiếc nhập khẩu tăng 145,3% (số lượng nhập 35,5 nghìn chiếc, bằng 3,7 lần cùng kỳ). Nhập siêu 10 tháng 4,07 tỷ USD, bằng 15,4% kim ngạch xuất khẩu.

Vận chuyển hành khách 10 tháng năm 2005 ước tính đạt 1056,2 triệu lượt hành khách và 44,4 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,8% về số lượt khách và tăng 11,6% về số lượt hành khách.km, trong đó vận tải trong nước thực hiện 1053,9 triệu lượt hành khách, tăng 6,8% và 38,04 tỷ lượt hành khách.km, tăng 8,7%; vận chuyển hành khách ngoài nước tăng mạnh cả về số lượt hành khách và số lượt hành khách.km. Vận chuyển bằng đường bộ đạt 896,1 triệu lượt hành khách, chiếm 84,8% số lượt hành khách vận chuyển trong 10 tháng tăng 7,5% và đóng góp tới 6,3 điểm phần trăm trong 6,8 điểm phần trăm tăng của số lượt hành khách. Vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tăng mạnh, nhưng tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Khối lượng hành khách luân chuyển tăng chủ yếu do luân chuyển bằng đường bộ và hàng không.

Vận chuyển hàng hoá  10 tháng năm 2005 ước tính đạt 261,9 triệu tấn và 64,51 tỷ tấn.km, tăng 6,7% về tấn và tăng 6,5% về tấn.km, trong đó vận chuyển hàng hoá tuyến ngoài nước (cả về tấn và về tấn.km ) và luân chuyển hàng hoá do vận tải trung ương thực hiện đều tăng cao hơn mức tăng chung. Vận chuyển  hàng hoá bằng đường biển chiếm 10,8% về tấn, tăng 5,4% và chiếm 77,3% về tấn.km, tăng 6,6%; vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ chiếm 64% số tấn, tăng 7,5% và chiếm 12,4% số tấn.km, tăng 7,8%; vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt, đường sông đều có tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung.

Khách quốc tế đến Việt Nam 10 tháng năm 2005 ước tính đạt 2,85 triệu khách, tăng 20,3% so với 10 tháng năm 2004, trong đó số khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi 1,67 triệu khách, chiếm 58,6% tổng số khách đến, tăng 32,3%; thăm thân nhân chiếm 15% và tăng 10,6%; đến với mục đích khác chiếm 12,4% và tăng 20,7%; riêng khách đến vì công việc giảm 6,4%.

Khách đến Việt Nam từ hầu hết các nước đều tăng như: khách đến từ Mỹ 275,6 nghìn người, tăng 22,4%; từ  Nhật 264,9 nghìn người, tăng 22,7%; từ Hàn Quốc 262,1 nghìn người, tăng 52,7%; từ Đài Loan 236,6 nghìn người, tăng 12,7%; từ Cam-pu-chia 154,1 nghìn người, tăng 120,8%; từ Úc 120,1 nghìn người, tăng 18,4% và từ Pháp 104,4 nghìn người, tăng 26,7%, từ Xin-ga-po tăng 74,8%; từ Thái Lan tăng 67,8%; từ Italy tăng 54,2%; từ Nga tăng 109,6%; từ Tây Ban Nha tăng 84,3%… Riêng số khách đến từ CHND Trung Hoa chiếm nhiều nhất (621,8 nghìn lượt người), nhưng giảm 3,8% so với 10 tháng năm trước.

  1. Thu,chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước 10 tháng 2005 đạt khá, ước tính tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước và đạt 92,2% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 85,9%, thu dầu thô 121,6%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 80,2% và thu viện trợ 90%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đạt mức xấp xỉ hoặc cao hơn 85,9% kế hoạch năm như: thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 87%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 85,8%; các khoản thu về nhà đất 97,5%; Riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước ước tính đạt 82,1% kế hoạch năm và thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 83,8%. Thu từ dầu thô 10 tháng đã vượt kế hoạch thu ngân sách 21,6%, do giá dầu thô liên tục tăng cao so với giá khi lập dự toán. Trong các khoản thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu,  thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 91,3%, trong khi thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu (đã trừ hoàn thuế giá trị gia tăng) mới đạt 66,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 10 tháng ước tính đạt 83,2% dự toán cả năm, (thấp hơn 9 điểm phần trăm so với mức hoàn thành kế hoạch thu), tuy đã đảm bảo được 84,6% kế hoạch chi  thường xuyên cả năm, nhưng chi cho đầu tư phát triển mới đạt 80% (chi đầu tư xây dựng cơ bản 78,5%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt mức phổ biến khoảng 84% kế hoạch chi cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 84,6% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 83,5%; chi sự nghiệp kinh tế 86,4%; chi quản lý hành chính 84,1%. Bội chi ngân sách Nhà nước 10 tháng bằng 55% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó bù đắp bằng nguồn vay trong nước chiếm 69,2% và vay nước ngoài  chiếm 30,8%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 10 (tính đến 21/10) có 80,2 nghìn lượt hộ với 342,6 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 0,7% tổng số hộ và 0,6% số nhân khẩu nông nghiệp cả nước. So với tháng trước, số hộ thiếu đói tăng 66,6%; so với thời điểm cuối tháng 10/2004 số hộ thiếu đói gấp 3 lần. Nguyên nhân chủ yếu của việc thiếu đói tăng cao trong tháng là do một số địa phương bị ảnh hưởng của hạn hán và bão số 6, số 7. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức đã trợ giúp cho các hộ thiếu đói 20,9 nghìn tấn lương thực và 11,5 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh

Bệnh sốt rét: Trong tháng có 7,7 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 3 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, cả nước có 68,9 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 6 người đã tử vong, giảm 26,5% số người mắc và giảm 62,5% số người tử vong so với cùng kỳ năm 2004.

Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng có trên 9,2 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 8 người đã tử vong. Số người mắc bệnh sốt xuất huyết từ đầu năm đến nay là 35,7 nghìn trường hợp, trong đó 36 người đã tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số người mắc bệnh giảm 39,3%; số người chết giảm 58,6%.

Bệnh viêm não vi rútbệnh viêm gan vi rút: Từ đầu năm đến nay cả nước có trên 1 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, trong đó 48 người tử vong; 4,6 nghìn người mắc bệnh viêm gan vi rút, trong đó 7 người đã tử vong. So với cùng kỳ năm trước số người mắc bệnh viêm não vi rút giảm 68,2% và số người mắc bệnh viêm gan vi rút giảm 9,9%.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 10 phát hiện thêm 2,2 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/10/2005 lên 101,9 nghìn người, trong đó có 16,7 nghìn bệnh nhân AIDS và 9,7 nghìn người đã chết do AIDS.

Trong 10 tháng qua trên phạm vi cả nước đã có trên 3,2 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 49 người đã tử vong, tăng 31,1% về số trường hợp bị ngộ độc so với cùng kỳ năm 2004.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 9 (từ 21/8-21/9) đã xảy ra 1105 vụ tai nạn giao thông, làm chết 912 người và bị thương 872 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 9,8%; số người chết giảm 0,8%; số người bị thương giảm 11,1%. So với tháng 8/2005, tai nạn giảm 19 vụ; giảm 104 người bị thương, nhưng số người chết tăng 2 người. Tính chung 9 tháng năm nay, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 11 nghìn vụ tai nạn, làm chết 8,6 nghìn người và làm bị thương 9,4 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 17,7%; số người chết giảm 5,52% và số người bị thương giảm 22,7%. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng qua xảy ra 40 vụ tai nạn, làm chết 32 người và làm bị thương 34 người.

Thiệt hại do lụt bão

Từ cuối tháng 9 đến trung tuần tháng 10 đã xảy ra bão, lũ, lụt tại một số địa phương trong cả nước gây thiệt hại lớn về người và tài sản như bão số 7 đã ảnh hưởng tới hầu hết các tỉnh phía Bắc; lũ quét xảy ra tại Yên Bái, Hòa Bình, Lào Cai, Phú Thọ và tình trạng lũ lụt tại đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Trung. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 132 người chết, trong đó Yên Bái chết 51 người; An Giang 27 người; Quảng Bình 11 người; Long An 11 người; Nghệ An 6 người và Phú Thọ chết 6 người. Tổng số nhà ở bị sập, bị cuốn trôi do lụt, bão gây ra trong tháng là trên 5,8 nghìn nhà; số nhà bị tốc mái và hư hại khoảng 11 vạn nhà. Chiều dài các đoạn đê bị vỡ, bị cuốn trôi là 2,6 nghìn mét, trong đó riêng Nam Định khoảng 1,4 nghìn mét và Thanh Hóa 860 mét. Thiên tai cũng đã làm trên 50 vạn mét đê bị sạt lở; 306 nghìn ha lúa bị ngập, trong đó mất trắng 29 nghìn ha; 25 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại và nhiều công trình kinh tế, xã hội bị ảnh hưởng; tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 4,8 nghìn tỷ đồng.

Biểu số liệu tháng 10 năm 2005

Biểu số liệu tháng 10 năm 2005