I. SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Tính đến ngày 15/1/2001 cả nước đã gieo cấy được 1906 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 110,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 182 nghìn ha, bằng 173,3%; các địa phương phía Nam 1724 nghìn ha, bằng 106,7%. Các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều cố gắng trong việc khắc phục hậu quả lũ lụt cuối năm 2000 nên đến nay toàn vùng đã gieo cấy được 1468 nghìn ha, bằng 107,0% cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh như Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre do ít bị ảnh hưởng của lũ nên đã cơ bản gieo cấy xong vụ đông xuân và nhìn chung lúa phát triển khá. Riêng diện tích gieo cấy của Long An đến nay mới bằng 81,1% cùng kỳ năm trước; Đồng Tháp bằng 93,3%; An Giang bằng 96,6%, chủ yếu do các tỉnh này ở vị trí đầu nguồn nên nước rút chậm.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng 1/2001 các địa phương phía Nam còn thu hoạch được 861 nghìn ha lúa mùa sớm, bằng 79,0% diện tích gieo cấy và bằng 89,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 391 nghìn ha, bằng 88,8% cùng kỳ năm trước.

Gieo trồng cây vụ đông và cây công nghiệp ngắn ngày chậm hơn cùng kỳ năm trước: Ngô gieo trồng được 137 nghìn ha, bằng 75,9% cùng kỳ năm trước; khoai lang 134 nghìn ha, bằng 87,7%; lạc 23 nghìn ha, bằng 90,4%; thuốc lá 6,4 nghìn ha, bằng 61,0%. Riêng đậu tương gieo trồng được 24,4 nghìn ha, bằng 106,6% cùng kỳ năm trước.

II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Sản xuất công nghiệp tháng 1 năm 2001 bằng 85,5% tháng 12 và tăng 3,9% so với tháng 1 năm 2000, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 86,9% và tăng 0,3%; khu vực ngoài quốc doanh bằng 83,9% và tăng 7,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài bằng 85,1% và tăng 6,1%.

Sở dĩ sản xuất công nghiệp tháng này chỉ tăng 3,9% so với cùng kỳ là do tháng 1 năm nay có một số ngày nghỉ Tết Tân Tỵ, nhiều doanh nghiệp không sản xuất, nhất là các doanh nghiệp thuộc khu vực vốn trong nước. Trong tháng này sản xuất công nghiệp có những thuận lợi cơ bản là: Một số sản phẩm phục vụ Tết như rượu, bia, nước giải khát, bánh kẹo, thực phẩm, đồ dùng gia đình, được chuẩn bị nguyên liệu, nhãn mác từ cuối năm trước, nên sản xuất ổn định, nhiều sản phẩm tăng như: Nước ngọt tăng 6,0%; bột ngọt tăng 20,3%; sữa hộp tăng 19,2%; xe đạp tăng 69,6%; xe máy tăng 27,2%. Ngoài những mặt hàng phục vụ Tết, những mặt hàng phục vụ xây dựng vẫn được tiêu thụ mạnh, mức sản xuất của các mặt hàng này cũng tăng khá (Xi măng tăng 9,9%; sứ vệ sinh tăng 61,1%; gạch lát tăng 15,7%).

Đầu năm nay tình hình ký kết hợp đồng cũng khá hơn các năm trước. Số doanh nghiệp đã ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn và qui mô mỗi hợp đồng nhìn chung lớn hơn, trong đó số hợp đồng xuất khẩu cũng tăng lên. Mặt khác, do tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp nên khu vực doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã có nhiều doanh nghiệp mới đi vào sản xuất từ cuối năm 2000 và đã nâng được mức sản xuất trong tháng này.

III. ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

Khối lượng đầu tư XDCB tập trung thuộc vốn ngân sách Nhà nước tháng 1/2001 ước tính thực hiện được 1234,4 tỷ đồng, tăng 45,8% so với cùng kỳ năm trước và đạt 6,0% kế hoạch năm (Trung ương quản lý đạt 6,4%, địa phương quản lý đạt 5.3%). Đến nay, tuy kế hoạch năm 2001 chưa triển khai tới cơ sở, nhưng nhiều đơn vị vẫn có việc làm vì thi công các công trình chuyển tiếp như đường Hồ Chí Minh và các công trình đê điều phòng chống lũ lụt. Trong tháng 1, ngân sách Nhà nước đã cấp phát 1800 tỷ đồng cho đầu tư xây dựng cơ bản, nhưng chủ yếu dùng để thanh toán khối lượng hoàn thành từ năm 2000 chuyển sang. Số cấp để thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành trong tháng 1/2001 chỉ có 600 tỷ đồng, gần  bằng 50% khối lượng hoàn thành trong tháng.

IV. VẬN TẢI

Để phục vụ Tết Tân Tỵ, ngành giao thông vận tải đã  có kế hoạch đáp ứng đủ yêu cầu đi lại của nhân dân và vận chuyển hàng hoá. Số đầu xe được bố trí tăng cường hoạt động từ ngày 14/1 – 2/2/2001. Ngành đường sắt tổ chức bán vé trước Tết 1 tháng. Ngành hàng không cũng tăng chuyến bay trong nước và ngoài nước, đồng thời giảm giá vé cho một số đối tượng ưu tiên. Do vậy khối lượng hàng hoá vận chuyển tháng 1/2001 tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng 5,2%. Hai chỉ tiêu tương ứng của vận chuyển hành khách là tăng 5,4% và tăng 4,1%.

Tuy nhiên, tình hình tai nạn giao thông vẫn xảy ra tương đối nghiêm trọng. Chỉ trong 17 ngày đầu tháng 1/2001 trên địa bàn 7 tỉnh, thành phố là Yên Bái, Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng Bình, Kon Tum, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra 276 vụ tai nạn, làm chết 114 người, làm bị thương 284 người và làm thiệt hại 940 triệu đồng phương tiện.

V. THƯƠNG MẠI VÀ GIÁ CẢ

Tháng 1 năm nay trùng với Tết Nguyên đán, nhưng do lượng hàng hoá trên thị trường tương đối phong phú, đa dạng nên nhìn chung giá cả vẫn ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2001 chỉ tăng 0,3% so với tháng 12/2000, trong đó nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 0,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,4%; dược phẩm và y tế giảm 0,2%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng từ 0,1% đến 0,9%.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2001 ước tính đạt 1100 triệu USD, tăng 0,5% so với tháng 1/2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 500 triệu USD, giảm 14,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 600 triệu USD, tăng 17,6%. Các mặt hàng xuất khẩu tăng cao so với tháng 1/2000 là: Dầu thô tăng 14,5% về lượng và tăng 37,8% về giá trị; Gạo tăng 123,9% và tăng 52,9%; hạt điều tăng 55,6% và tăng 20,0%; lạc tăng 25,0% và tăng 42,9%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như cà phê, cao su, giầy dép lại giảm so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 1/2001 ước tính đạt 1200 triệu USD, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 840 triệu USD, tăng 12,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 360 triệu USD, bằng mức nhập khẩu tháng 1/2000. Một số mặt hàng nhập khẩu đạt tốc độ tăng tương đối cao so với tháng 1/2000 là: Xe máy tăng 117,4% về lượng và tăng 27,5% về giá trị; ô tô tăng 99,1% và tăng 60,0%; phân bón tăng 14,0% và tăng 40,0%. Nhập siêu tháng 1/2001 ước tính 100 triệu USD, bằng 9,1% kim ngạch xuất khẩu.

VI. TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 1/2001 ước tính đạt 8,8% dự toán cả năm và tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu từ kinh tế Nhà nước đạt 7,8% và tăng 24,8%; thu từ khu vực liên doanh với nước ngoài đạt 12,3% và tăng 78,4%; thuế xuất nhập khẩu đạt 6,7% và giảm 5,6%. Tổng chi ngân sách ước tính đạt 7,0% dự toán cả năm và bằng 94,9% cùng kỳ năm trước, trong đó chi cho đầu tư xây dựng cơ bản đạt 5,9% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 8,5%. Trong phần chi thường xuyên bao gồm cả khoản chi lương và phụ cấp lương theo mức lương tối thiểu 210 nghìn đồng mà Chính phủ quyết định thực hiện từ tháng 1/2001. Bội chi ngân sách tháng này bằng 7,8% tổng số thu, bằng 7,2% tổng số chi và tạm sử dụng khoản kết dư ngân sách năm 2000 để bù đắp.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng thu tiền mặt qua ngân hàng tháng này chỉ bằng 94,1% tháng trước và tổng chi bằng 92,4%. Tổng tiên gửi bằng nội tệ tăng 1,4%, nhưng tổng tiền gửi bằng ngoại tệ lại giảm 2,3%. Tổng số dư cho vay trong tháng tăng 0,7%, trong đó tín dụng ngắn hạn tăng 0,5%, tín dụng trung và dài hạn tăng 1,1%.

VII. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Theo báo cáo của một số địa phương, nhìn chung năm nay các cấp, các ngành đều quan tâm chuẩn bị chu đáo cho nhân dân đón Tết Nguyên đán bằng việc tổ chức tặng quà, trợ cấp cho các đối tượng chính sách và các đối tượng xã hội. Ngoài chế độ 100 ngàn đồng do Chính phủ trợ cấp, nhiều địa phương còn trợ cấp bổ sung cho mỗi người thuộc các đối tượng trên từ 30-100 ngàn đồng. Nhiều tổ chức quần chúng, các nhà hảo tâm, quỹ tấm lòng vàng  và quĩ xoá đói giảm nghèo cũng đã trao các phần quà để hỗ trợ cho người nghèo ăn Tết.

Thành phố Hà Nội đã trợ cấp trên 16,5 tỷ đồng cho 29,1 vạn người thuộc các đối tượng hưu trí, đối tượng chính sách, hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trong đó 35 triệu đồng dành cho 100 gia đình có người bị ảnh hưởng chất độc da cam và 200 gia đình nghèo. Riêng các quận, huyện và chương trình xoá đói giảm nghèo của thành phố Hồ chí Minh đã tặng 60 nghìn phần quà, mỗi phần trị giá 100 ngàn đồng cho các hộ nghèo, già cả, người tàn tật và trẻ mồ côi. Quảng Ninh đã chi 915 triệu đồng để trợ cấp cho các đối tượng, trong đó 416 triệu đồng cho đối tượng chính sách; 4 triệu đồng cho 80 trẻ lang thang; 236 triệu đồng cho các hộ nghèo; 10 triệu đồng cho đối tượng nhiễm chất độc mầu da cam; 249 triệu đồng cho các đối tượng xã hội khác. Vĩnh Phúc trích ngân sách 100 triệu đồng trợ cấp cho 1000 hộ nghèo ở 7 huyện, thị xã, mỗi hộ 100 nghìn đồng. Liên đoàn lao động tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã dành 300 xuất quà, mỗi xuất 100 nghìn đồng giúp đỡ các đối tượng là công nhân lao động gặp khó khăn.

Tổng trị giá quà Tết của Ninh Bình tặng cho các đối tượng là 5,8 tỷ đồng, trong đó từ ngân sách địa phương 434 triệu đồng. Số tiền này đã tặng cho trên 50 nghìn người thuộc diện chính sách, hộ nghèo, già cả và trẻ mồ côi, mỗi người 50-100 nghìn đồng. Thừa Thiên-Huế cũng đã trợ cấp trên 1,0 tỷ đồng cho 20414 người là thân nhân liệt sỹ, thương binh, người có công với cách mạng mỗi người 50 nghìn đồng. Tại Quảng Nam, ngoài 6732 đối tượng chính sách được nhận quà của Chủ tịch nước với tổng số trên 585 triệu đồng, tỉnh còn trích 2,5 tỷ đồng hỗ trợ cho 81972 người thuộc các đối tượng chính sách khác.

Phú Yên đã trao quà Tết cho 818 gia đình có từ 2 liệt sỹ trở lên, mỗi gia đình 60 nghìn đồng và 482 gia đình chính sách mỗi gia đình 100 nghìn đồng. Ngoài ra UBND các huyện, thị xã trên địa bàn Phú Yên còn tặng quà cho 30 nghìn gia đình thuộc các đối tượng chính sách và 854 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Khánh Hòa đã trích gần 11 tỷ đồng từ ngân sách làm quà tặng và hỗ trợ các đối tượng chính sách, các đơn vị quân đội và các đối tượng xã hội khác vui Tết Tân Tỵ. Ngoài ra các ban, ngành của tỉnh còn quyên góp hàng trăm triệu đồng để thăm và tặng quà đồng bào các dân tộc miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, người nghèo. Ngành điện đã đưa điện về một số xã vùng sâu, vùng xa. Tỉnh và các ngành tặng ti vi, đầu máy video cho miền núi đón Tết.

Tại Tây Ninh, 16471 đối tượng chính sách, 214 hộ dân tộc ít người và 9795 hộ nghèo đã được các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, hội bảo trợ trẻ em nghèo hỗ trợ bình quân mỗi hộ từ 100 đến 120 ngàn đồng để ăn Tết. Sở Lao động Thương binh và Xã hội Đồng Nai cùng các ban, ngành khác trong tỉnh đã tặng 29595 xuất quà, mỗi xuất 100 ngàn đồng; 150 xuất, mỗi xuất 50 ngàn đồng; 575 xuất, mỗi xuất 30 ngàn đồng cho các gia đình chính sách và gia đình khó khăn. Riêng thị xã Vĩnh Long đã trích gần 130 triệu đồng chăm lo Tết cho các gia đình chính sách và các hộ nghèo. Ngoài ra UBND thị xã Vĩnh Long còn tặng 165 hộ nghèo, mỗi hộ 30 kg gạo và chỉ đạo 11 xã, phường vận động các cơ quan, đơn vị, nhà hảo tâm, tổ chức từ thiện hỗ trợ thêm cho 864 hộ nghèo khác có đủ điều kiện đón xuân mới. Tỉnh An Giang đã trợ cấp cho 8000 hộ nghèo, mỗi hộ 100 ngàn đồng; 4142 hộ già cả cô đơn, mỗi hộ 40 ngàn đồng; 830 đối tượng xã hội, mỗi đối tượng 50 ngàn đồng; 33622 đối tượng chính sách, mỗi đối tượng 100 ngàn đồng với tổng số tiền trợ cấp gần 4,4 tỷ đồng.

Hoạt động văn hoá, thông tin đầu tháng 1 năm 2001 đã diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 13/1/2001 đã khai mạc “Chương trình truyền thống văn hoá dân gian của chúng ta” tại Bảo tàng Dân tộc, thu hút đông đảo người xem. Chương trình này đã giới thiệu một cách sinh động về nghệ thuật thư hoạ, viết câu đối Tết, kỹ thuật dập bia đá, làm tranh Tết Đông Hồ, Hàng Trống. Từ 15-18/1/2001, Hội Báo Xuân toàn quốc đã được tổ chức tại Trung tâm Hội chợ – Triển lãm Giảng Võ, Hà Nội. Các chương trình truyền hình đón Tết, chương trình biểu diễn văn nghệ tại các địa phương cũng được chuẩn bị chu đáo. Ngành Văn hóa đã có kế hoạch bắn pháo hoa chào năm mới tại 12 địa điểm thuộc các vùng trong cả nước.

Vấn đề an toàn thực phẩm trong dịp Tết đã được Bộ Y tế đặc biệt quan tâm. Vừa qua Bộ Y tế đã chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, kiểm tra và xử lý các sai phạm về an toàn các loại hàng thực phẩm phục vụ Tết như rượu, bia, bánh, mứt, kẹo. Tại Hà Nội, hơn 100 hộ kinh doanh ở chợ Hôm và Hàng Da đã được Trung tâm Y tế Dự phòng tập huấn về vệ sinh và an toàn thực phẩm. Từ ngày 25/12/2000 đến 18/01/2001, Sở Y tế Hà Nội đã thành lập 2 đoàn thanh tra liên ngành, kiểm tra một số cơ sở sản xuất bánh kẹo, rượu bia và nước giải khát tại các chợ trung tâm như chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Hàng Da và một số làng làm nghề chế biến thực phẩm truyền thống như bánh kẹo Xuân Đỉnh (Từ Liêm), giò chả Hải Bối (Đông Anh) và  bún Phú Đô (Từ Liêm). Ngoài ra Sở Y tế Hà Nội còn thành lập 2 đoàn thanh tra liên ngành, 12 đoàn kiểm tra quận, huyện và 228 đoàn kiểm tra xã phường để giám sát các cơ sở sản xuất thực phẩm ở các địa điểm khác trên địa bàn thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra 623 cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm trên địa bàn 22 quận, huyện. Đợt kiểm tra này đã cảnh cáo 68 cơ sở; phạt tiền 34 cơ sở và đình chỉ sản xuất của 1 cơ sở. Tại Thừa Thiên- Huế, đầu tháng 1/2001, đoàn kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm liên ngành đã kiểm tra 48 nhà hàng, khách sạn trên địa bàn thành phố Huế và 40 cơ sở sản xuất các mặt hàng phục vụ Tết như bia, rượu, bánh mứt kẹo, tương ớt, tôm chua, giết mổ gia súc và gia cầm tại chợ Đông Ba. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản phạt tiền 4 cơ sở, cảnh cáo 16 cơ sở không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ