Năm 2001 là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2001-2005, đồng thời cũng là năm tạo tiền đề vật chất và tinh thần triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Do vậy, Quốc hội đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2001 với 11 chỉ tiêu chủ yếu là:

  1. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,5%;
  2. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,5%;
  3. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14%;
  4. Giá trị các ngành dịch vụ tăng 7%;
  5. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%;
  6. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 30% tổng sản phẩm trong nước;
  7. Lạm phát không quá 5%;
  8. Tạo việc làm mới cho khoảng 1,4 triệu lao động;
  9. Đào tạo nghề cho 84 vạn người;
  10. Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn mới xuống còn 16%(*);
  11. Giảm tỷ lệ sinh 0,05%

Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nói trên, ngay từ đầu năm, Chính phủ và các cấp, các ngành đã tích cực triển khai nhiều biện pháp cụ thể. Nhờ vậy, tình hình kinh tế-xã hội quý I/2001 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực. Hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế-xã hội then chốt đều thu được những kết quả vượt trội.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

  1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước quý I/2001 tăng 7,2% so với quý I/2000, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,8%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,9%; khu vực dịch vụ tăng 6,1%. Sở dĩ tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I năm nay vượt trội so với tốc độ tăng 5,6% của quý I/2000 là do khu vực công nghiệp và xây dựng đã nâng cao được tốc độ tăng trưởng từ 7,4% quý I/2000 lên 9,9% quý I năm nay và khu vực dịch vụ cũng tăng từ 4,6% lên 6,1%.  

Bảng 1.Tổng sản phẩm trong nước quý I/2001 phân theo ba khu vực kinh tế 

Tổng sản phẩm trong nước  theo giá so sánh 1994

(Tỷ đồng)

Tốc độ tăng so với quí I/2000 (%)Đóng góp của mỗi khu vực vào tốc độ tăng chung (%)
    
Tổng số583687,27,2
 Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản94553,80,6
 Công nghiệp và xây dựng230689,93,8
 Dịch vụ258456,12,8

Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá và công tác thu ngân sách có tiến bộ nên theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách quý I/2001 ước tính đạt 25,9% dự toán cả năm và tăng 4,4% so với quý I/2000. Đây là năm đầu tiên trong những năm gần đây tổng thu ngân sách Nhà nước quý I đạt mức 25% dự toán cả năm (Quý I/1998 đạt 19,6%; quý I/1999 đạt 20,1%; quý I/2000 đạt 22%). Đáng chú ý là tiến độ thu các khoản thu phát sinh từ sản xuất kinh doanh đều đạt tỷ lệ cao so với dự toán cả năm và tương đối đồng đều: Thu từ kinh tế Nhà nước đạt 22,9% dự toán cả năm; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 23,4%; thu từ doanh nghiệp đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt 33,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước quý I/2001 ước tính đạt 21% dự toán cả năm và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt 19,9% và tăng 11,2%; chi thường xuyên đạt 23,8% và tăng 8,1%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đã đạt tỷ lệ tương đối cao so với dự toán cả năm và đều tăng so với quý I/2000 như: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 23,9% và tăng 8,7%; chi cho y tế đạt 24,1% và tăng 8,4%; chi cho văn hoá thông tin đạt 23,8% và tăng 5,7%; chi cho sự nghiệp kinh tế đạt 24,1% và tăng 7,7%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 23,9% và tăng 11,1%. Riêng cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong quý này tuy đạt tương đối cao nhưng phần lớn dùng vào thanh toán khối lượng hoàn thành trong năm 2000 chuyển sang nên thực chất chi cho các dự án trong kế hoạch 2001 chỉ có 2.400 tỷ đồng. Do vậy, các công trình và dự án đầu tư vẫn trong tình trạng thiếu vốn.

Hoạt động thu chi tiền mặt và tín dụng ngân hàng cũng được chỉ đạo chặt chẽ ngay từ đầu năm nên theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tổng thu tiền mặt qua ngân hàng quý này ước tính tăng 19,9% so với quý I/2000, trong đó thu bán hàng chiếm 26,3% và tăng 23,2%; thu nợ chiếm 9,3% và tăng 31,0%; thu chuyển tiền chiếm 9,5% và tăng 21,6%. Mặc dù thu tiền mặt tăng với tốc độ cao nhưng do hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển và trong quý I cả khu vực hành chính sự nghiệp cũng như các đơn vị sản xuất kinh doanh đều thực hiện nâng lương theo quy định mới nên tổng số chi tiền mặt quý này đã tăng 24,9%, trong đó chi cho vay chiếm 13,9% và tăng 25,6%; chi thu mua hàng hoá chiếm 9,0% và tăng 27,1%; chi trả tiền gửi kho bạc chiếm 6,6% và tăng 66,5%; chi lương và các khoản có tính chất lương chiếm 5,8% và tăng 47,6%. Bội chi tiền mặt trong quý tuy có tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn ở mức thấp, chỉ bằng 2,1% tổng số chi.

Tổng số tiền gửi ngân hàng quý này tăng 26,3% so với quý I/2000, trong đó gửi bằng nội tệ tăng 16,8%; gửi bằng ngoại tệ tăng 42,9%. Tổng số dư cho vay của ngân hàng cũng tăng 25,2%, trong đó tín dụng ngắn hạn tăng 27,5%; tín dụng trung hạn và dài hạn tăng 31,5%. Đáng chú ý là trong quý này ngân hàng đã thực hiện có kết quả việc điều chỉnh cơ cấu cho vay và bước đầu đã giảm được một số khoản nợ xấu. Tỷ trọng tín dụng trung hạn và dài hạn chiếm trong tổng số dư cho vay từ 34,5% trong quý I/2000 đã tăng lên 36,3% trong quý này. Các khoản nợ chờ xử lý giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh, nhưng nhờ quản lý, điều hành nói chung và quản lý tài chính, tiền tệ, giá cả nói riêng của Chính phủ cũng như của các cấp, các ngành sát xao nên tình hình lạm phát không có diễn biến bất thường. Giá hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trong quý ít biến động. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 so với tháng trước chỉ tăng 0,3%; tháng 2 tăng 0,4% và tháng 3 giảm 0,7%. Đến tháng 3 giá tiêu dùng vẫn ổn định ở mức giá tháng 12/2000; giá vàng giảm 0,7% và giá đô la Mỹ tăng 0,4%.

Bảng 2.Chỉ số giá tiêu dùng, giá vàng và giá đô la Mỹ tháng 3 so với tháng 12 năm trước của một số năm. 

%

199619971998199920002001
Giá tiêu dùng104,3102,1102,9102,9100,8100,0
Giá vàng104,698,0100,5101,2101,499,3
Giá đô la Mỹ100,1102,3102,899,8100,2100,4
  1. Sản xuất nông nghiệp

Vụ đông xuân năm nay tiến hành trong điều kiện thời tiết thuận lợi, sâu bệnh ít. Mưa liên tục trong những ngày đầu tháng 3 đã góp phần khắc phục được tình trạng thiếu nước gieo cấy lúa đông xuân ở một số tỉnh miền núi phía bắc và chăm sóc lúa đông xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Do vậy, tính đến trung tuần tháng 3, cả nước đã gieo cấy được 2.995,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 101,9% cùng kỳ năm trước, trong đó miền Bắc gieo cấy 1.129 nghìn ha, bằng 102,9%; miền Nam 1.866,3 nghìn ha, bằng 101,3%.

Hai vùng trọng điểm lúa của cả nước là vùng đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long đều đã cơ bản hoàn thành việc gieo cấy lúa đông xuân vụ này. Vùng đồng bằng sông Hồng gieo cấy 515,5 nghìn ha, chiếm 17,2% tổng diện tích lúa đông xuân đã gieo cấy của cả nước và bằng diện tích gieo cấy trong vụ đông xuân trước; vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1.534,2 nghìn ha, chiếm 51,2% và tăng 0,9%.

Đáng chú ý là, sản xuất lương thực ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đang dần dần ổn định sau đợt lũ lớn kéo dài cuối năm 2000. Nhiều địa phương trong vùng đã đẩy mạnh khai hoang, phục hoá và tiếp tục chuyển một số diện tích lúa mùa năng suất thấp sang gieo cấy lúa đông xuân nên diện tích lúa đông xuân vụ này đã tăng đáng kể: Đồng Tháp tăng 2,3 nghìn ha; Long An tăng 6 nghìn ha; Kiên Giang tăng 16 nghìn ha. Trong khi đó, các địa phương thuộc bán đảo Cà Mau lại chuyển một số diện tích gieo cấy lúa đông xuân sang nuôi trồng thuỷ sản và gieo cấy lúa hè thu sớm nên diện tích lúa đông xuân lại giảm tương đối lớn: Cà Mau giảm 6,8 nghìn ha; Bạc Liêu giảm 11 nghìn ha. Tuy nhiên, tính chung toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long thì vụ đông xuân này vẫn tăng 14,4 nghìn ha so với vụ đông xuân trước.

Cũng đến giữa tháng 3, các địa phương phía nam đã thu hoạch được 772,9 nghìn ha lúa đông xuân sớm, chiếm 41,4% diện tích gieo cấy và bằng 121% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 730,1 nghìn ha, chiếm 47,6% diện tích gieo cấy và bằng 120,2%. Riêng một số tỉnh gieo cấy sớm do không bị lũ lụt như Sóc Trăng, Bạc Liêu đến nay đã cơ bản thu hoạch xong. Trên diện tích đã thu hoạch, nhìn chung đạt năng suất tương đối cao. Theo ước tính ban đầu, năng suất lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long vụ này có thể đạt 53 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với vụ đông xuân trước, trong đó Tiền Giang đạt 57,5 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha; Đồng Tháp 60,3 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha; Vĩnh Long 56,7 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; Bến Tre 46,2 tạ/ha, giảm 2,3 tạ/ha. Vụ đông xuân này vùng đồng bằng sông Cửu Long lại được mùa lớn với sản lượng ước tính trên 8,1 triệu tấn, tăng 12,5 vạn tấn so với vụ đông xuân trước và là vụ đông xuân có sản lượng cao nhất từ trước đến nay. Với sản lượng này, lúa hàng hoá có thể lên tới gần 5 triệu tấn, tương đương với 2,5 triệu tấn gạo xuất khẩu. 

Bảng 3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long một số năm

19961997199819992000Ước tính 2001
Diện tích (Nghìn ha)1152,51254,01349,01449,01519,81534,2
Năng suất (Tạ/ha)51,953,353,050,052,753,0
Sản lượng (Triệu tấn)6,06,77,17,38.08,1

Để tiêu thụ hết lúa hàng hoá ở đồng bằng sông Cửu Long, Chính phủ đã có Quyết định số 223/QĐ-TTg ngày 6/3/2001 với các giải pháp cụ thể là: (1) Hỗ trợ 100% lãi suất mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo trong tháng 3 và tháng 4, trong đó tập trung mua số lượng lớn vào tháng 3 là tháng thu hoạch rộ; (2)Thực hiện giãn nợ cũ và tiếp tục cho vay mới đối với nông dân trồng lúa và doanh nghiệp xuất khẩu gạo; (3) Xây dựng thí điểm các chợ trung tâm nông sản, trước mắt ở các tỉnh có lượng lúa hàng hoá lớn để giúp nông dân tiêu thụ lúa, đồng thời cung cấp các dịch vụ và vật tư phục vụ sản xuất; (4) Miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, miễn thuế VAT đối với các loại vật tư nông nghiệp như lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu; (5) Tích cực nghiên cứu, tìm kiếm thị trường xuất khẩu gạo thông qua ký kết bổ sung các thoả thuận dài hạn cấp Chính phủ.

Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cùng Bộ Thương mại giao xong chỉ tiêu mua tạm trữ gạo cho các địa phương và doanh nghiệp, đồng thời đang đôn đốc thu mua để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu gạo sang I-rắc, Cu Ba, Malaysia và các hợp đồng xuất khẩu gạo sang Philippin vừa trúng thầu.

Cùng với việc gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương còn đẩy mạnh gieo trồng ngô, cây chất bột có củ, cây công nghiệp ngắn ngày và gieo trồng rau đậu. Đến ngày 15/3/2001 cả nước đã gieo trồng được 253,3 nghìn ha ngô xuân; 176,8 nghìn ha khoai lang; 71,4 nghìn ha sắn; 223,1 nghìn ha cây công nghịêp ngắn ngày và 241,1 nghìn ha rau đậu các loại. Ngoài ra, các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long còn xuống giống được131,6 nghìn ha lúa hè thu sớm, nhanh hơn cùng kỳ năm trước 76,1%.

Tính chung, giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp quý I/2001 theo giá so sánh 1994 đạt 25,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với quý I/2000, trong đó trồng trọt đạt 19,1 nghìn tỷ đồng; chiếm 75,8% giá trị sản xuất của toàn ngành, tăng 2,7%;  chăn nuôi 5,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,6% và tăng 5%; dịch vụ nông nghiệp 0,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,6% và tăng 2,5%. 

  1. Thuỷ sản

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản đang phát triển mạnh, nhất là ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy, giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản thực hiện trong quý này theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 6.420 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 2.450 tỷ đồng, tăng 11,1%; khai thác 3.970 tỷ đồng, tăng 9,1%. Sản lượng thuỷ sản các loại ước tính đạt 637 nghìn tấn, tăng 9,2% so với quý I/2000, trong đó cá 459 nghìn tấn, tăng 9,1%; tôm 57 nghìn tấn, tăng 11%; thuỷ sản khác 121 nghìn tấn, tăng 8,7%. Trong quý này, Thanh Hoá đã  khai thác được 14,3 nghìn tấn thuỷ sản các loại, tăng 3,8% so với quý I/2000; Quảng Bình 3,2 nghìn tấn, tăng 10,7%; Bình Định 16,5 nghìn tấn, tăng 13,8%; Bà Rịa-Vũng Tàu 31,6 nghìn tấn, tăng 7,6%; Tiền Giang 19,8 nghìn tấn, tăng 19,6%…

Sở dĩ nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tăng nhanh như trên chủ yếu do nhân dân vùng ven biển đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ theo hướng thâm canh và bán thâm canh; đồng thời chương trình đánh bắt hải sản xa bờ được triển khai tích cực và bắt đầu có hiệu quả. Tại Ninh Thuận, trong quý này 272 trại nuôi tôm giống trên địa bàn tỉnh đã sản xuất 585 triệu con tôm giống, tăng 75% so với cùng kỳ; diện tích nuôi tôm toàn tỉnh lên tới 619 ha và đang tiếp tục mở rộng; số tàu thuyền đánh bắt hải sản trong quý I/2001 tăng 148 chiếc với 10.214 CV, nâng số tàu thuyền hiện có lên 1.708 chiếc với 58.850 CV, tăng 9,5% về số chiếc và tăng 21% về công suất. Tại Sóc Trăng, diên tích nuôi tôm cũng đã đạt 19 nghìn ha với tổng số giống thả trên 800 triệu con.

Tuy nhiên, ở một số địa phương phát triển nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi tôm ồ ạt, nông dân chưa được hướng dẫn kỹ về kỹ thuật chọn giống, xử lý nước và chăm sóc nên trong quý I vừa qua đã bị thiệt hại tương đối lớn. Sóc Trăng có 686 ha nuôi tôm bị nhiễm bệnh; Tiền Giang có khoảng 16 triệu con tôm sú giống bị chết.

Bảng 4. Kết quả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản quý I/2001

Ước tính thực hiện quý I/2001Quý I/2001 so với quý I/2000 (%)
Giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 (Tỷ đồng)6420109,8
Nuôi trồng2450111,1
Khai thác3970109,1
Sản lượng thủy sản (Nghìn tấn)637109,2
Nuôi trồng182109,1
Khai thác455109,2

 

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I/2001 ước tính tăng 14,4% so với quý I/2000, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,4% (Trung ương quản lý tăng 10,5%; địa phương quản lý tăng 10,2%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 17%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,5% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 24,2%; các doanh nghiệp khác tăng 14,8%). Như vậy, quý I năm nay sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng cao nhất trong các quý I của những năm gần đây.

 Bảng 5.Tốc độ phát triển giá trị sản xuất công nghiệp quý I so với cùng kỳ năm trước của một số năm

%

Tốc độ phát triển của các quý I:
1997199819992000Ước tính 2001
Tổng số114,0113,0110,3113,4114,4
Khu vực doanh nghiệp Nhà nước112,7111,6104,3111,8110,4
Trung ương quản lý112,0111,7104,1111,5110,5
Địa phương quản lý114,1111,5104,6112,3110,2
Khu vực ngoài quốc doanh110,3106,0105,8117,7117,0
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài120,7121,1122,6112,8117,5

Hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp lớn trong quý này đã đạt tốc độ tăng trên 10% so với quý I/2000: Hải Phòng tăng 25,3%; Phú Thọ tăng 16,7%; Vĩnh Phúc tăng 16,5%; Quảng Ninh tăng 14,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,4%; Bình Dương tăng 32,5%; Đồng Nai tăng 11,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 22,5%; Cần Thơ tăng 14,7%. Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương đạt tốc độ tăng không cao, thậm chí còn giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: Hà Nội tăng 5,9%; Hà Tây tăng 4,3%; Đà Nẵng tăng 8,9%; Hải Dương giảm 8,5%.

Nếu tính theo giá so sánh năm 1994 thì trong quý I/2001 có 10 ngành sản phẩm đã đóng góp lớn vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp là: Dầu thô tăng 1.203 tỷ đồng, đóng góp 2,5% mức tăng của toàn bộ ngành công nghiệp; tương tự, máy tính tin học và thiết bị văn phòng tăng 480 tỷ đồng, đóng góp 1%; thiết bị điện và điện tử tăng 395 tỷ đồng và đóng góp 0,8%; chế biến sữa 400 tỷ đồng và 0,8%; xi măng 302 tỷ đồng và 0,6%; điện 247 tỷ đồng và 0,5%; lắp ráp ô tô 402 tỷ đồng và 0,9%;  sản xuất xe máy 288 tỷ đồng và 0,6%; sản xuất thuốc lá 193 tỷ đồng và 0,4%; sản xuất gạch cao cấp 166 tỷ đồng và 0,4%. Tính chung 10 ngành này đã tăng 4.076 tỷ đồng giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 và làm cho toàn ngành công nghiệp tăng 8,5%; các ngành còn lại chỉ đóng góp 2.771 tỷ đồng và làm tăng 5,9%.

Những sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống trong quý này tăng cao so với quý I/2000 là: Than tăng 11,5%; điện tăng 12,6%; dầu thô tăng 24,2%; giấy bìa tăng 12,4%; thuỷ sản chế biến tăng 14,1%; quạt điện dân dụng tăng 97,1% lắp ráp ti-vi tăng 47%; lắp ráp ô tô tăng 57%; lắp ráp xe máy tăng 19,5%; sản xuất xe đạp gấp 6,9 lần. Bên cạnh đó, vẫn còn có những sản phẩm tăng chậm hoặc giảm sút so với quý I/2000 như vải lụa tăng 1,4%; đường mật giảm 1,8%; máy công cụ giảm 21%; động cơ đi-ê-den giảm 58,2%.

  1. Đầu tư và xây dựng.

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung trong kế hoạch năm 2001 được bố trí 20,5 nghìn tỷ đồng, trong đó trung ương quản lý 13,5 nghìn tỷ đồng; địa phương quản lý 7 nghìn tỷ đồng. Ước tính quý I, nguồn vốn này thực hiện được 4.053,8 tỷ đồng, đạt 19,8% kế hoạch và tăng 48,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó trung ương thực hiện 2.802,8 tỷ đồng, chiếm 69,1% tổng số vốn đã thực hiện, bằng 20,8% kế hoạch và tăng 42,7%; địa phương thực hiện 1.251 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,9%; bằng 17,8% và tăng 62,6%. Như vậy, nếu so với quý I/2000 thì quý I năm nay tăng cả về khối lượng thực hiện và tỷ lệ hoàn thành kế hoạch.

Bảng 6.  Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung quý I/2000 và quý I/2001

Thực hiện (Tỷ đồng)Tỷ lệ thực hiện so với                      kế hoạch năm (%)
Quý I/2000Quý I/2001Quý I/2000Quý I/2001
Tổng số2733,14053,817,719,8
Trung ương1963,82802,819,720,8
Địa phương769,31251,014,417,8

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài có tiến bộ rõ rệt. Từ đầu năm đến ngày 20/3 đã cấp giấy phép cho 83 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 273 triệu USD, số vốn đăng ký bình quân mỗi dự án 3,3 triệu USD. Nếu so với quý I/2000 thì quý này tăng 20% về số dự án; tăng 78,8% về số vốn đăng ký và vốn đăng ký bình quân một dự án gấp 1,5 lần.

Các dự án cũng như số vốn đăng ký đầu tư tập trung vào ngành công nghiệp và ngành nông, lâm nghiệp. Ngành công nghiệp có 67 dự án với số vốn đăng ký 105,5 triệu USD, chiếm 38,6% tổng số vốn đăng ký; ngành nông, lâm nghiệp tuy chỉ có 5 dự án nhưng số vốn đăng ký lên tới 126,6 triệu USD, chiếm 46,4%. Các dự án được cấp giấy phép đầu tư trong quý này tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ với 66 dự án và 236,5 triệu USD vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 34 dự án với 176,2 triệu USD; Bình Dương 21 dự án và 29,6 triệu USD; Đồng Nai 11 dự án và 30,7 triệu USD. Nếu theo đối tác đầu tư thì Đài Loan có 30 dự án với tổng số vốn đăng ký 37,8 triệu USD; Hàn Quốc 10 dự án và 18,6 triệu USD; Hồng Công 3 dự án và 41,6 triệu USD; Hà Lan tuy chỉ có 1 dự án nhưng số vốn đăng ký lên tới 120 triệu USD.

Khối lượng thực hiện của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quý I/2001 ước tính đạt 350 triệu USD, tăng 17% so với quý I/2000, trong đó riêng dự án lọc dầu Dung Quất thực hiện 200 triệu USD.

Một trong những khó khăn lớn của việc triển khai các công trình và dự án đầu tư thuộc nguồn vốn trong nước cũng như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn ODA và các nguồn vốn khác là tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, nhất là giải phóng mặt bằng cho các công trình giao thông và các công trình ở các thành phố lớn. Riêng Hà Nội quý I mới giải phóng được 10% diện tích phải giải phóng đã được ghi trong kế hoạch năm 2001.

  1. Vận tải

Vận chuyển hành khách quý I/2001 ước tính đạt 215,1 triệu lượt hành khách và 7.371,6 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,2% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 34,2 triệu tấn và 8.149,6 triệu tấn.km, tăng 4,9% về tấn và 8,1% về tấn.km. Sở dĩ vận chuyển hành khách cũng như vận chuyển hàng hoá có khối lượng luân chuyển tăng nhanh hơn khối lượng vận chuyển là do cung độ vận chuyển dài hơn cùng kỳ năm trước, nhất là vận tải hàng không và vận tải biển.

Hoạt động vận tải tuy có tăng lên nhưng nhìn chung chất lượng phục vụ còn hạn chế. Đáng lo ngại nhất là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng nhìn chung  tai nạn giao thông vẫn tiếp tục xảy ra với mức độ lớn. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia thì chỉ tính riêng 2 tháng đầu năm đã xảy ra 4.724 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1.576 người và làm bị thương 5.479 người khác, trong đó đường bộ chiếm 97,5% về số vụ tai nạn; 96,9% về số người chết và 90% về số người bị thương. Riêng tháng 2, số vụ tai nạn giao thông là 2.516 vụ, bằng 113,9% tháng 1; số người chết 850 người, bằng 117,1%; số người bị thương 2.956 người, bằng 117,2%.

Bảng 7. Tình hình tai nạn giao thông 2 tháng đầu năm 2001

Tổng sốChia ra
Đường bộĐường sắtĐường thuỷ
Số vụ tai nạn (Vụ)472446047050
Tháng 1/2001220821672021
Tháng 2/2001251624375029
Số người chết (Người)157615272722
Tháng 1/2001726712104
Tháng 2/20018508151718
Số người bị thương (Người)547954264112
Tháng 1/20012523251193
Tháng 2/200129562915329
  1. Thương mại và Du lịch.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2001 ước tính đạt 56,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước 9,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,5% và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực tư nhân 4,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,7% và tăng 9%; khu vực cá thể 37 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,4% và tăng 6,2%; còn lại khu vực tập thể, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và hỗn hợp sở hữu thực hiện.

Những tháng đầu năm là mùa lễ hội, đồng thời Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích Việt kiều về vui Tết Nguyên đán và ngành du lịch cũng đã cố gắng đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng phục vụ nên hoạt động du lịch tương đối nhộn nhịp. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong quý I/2001 ước tính đạt 628,7 nghìn lượt người, trong đó khách đến du lịch 356,4 nghìn lượt người; thăm thân nhân 168,5 nghìn lượt người.

Kim ngạch xuất khẩu quý I/2001 ước tính đạt 3.554 triệu USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 1886 triệu USD, tăng 15.4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 1668 triệu USD, tăng 13%. Sở dĩ tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu quý I năm nay chậm hơn tốc độ tăng 41,6% của quý I/2000 chủ yếu do giá xuất khẩu trên thị trường thế giới của nhiều loại hàng hoá bị giảm sút nghiêm trọng: Giá gạo giảm 49%; giá cà phê giảm 57%; giá hạt tiêu giảm 55%; giá dầu thô tuy vẫn ở mức cao nhưng so với quí I/2000 cũng đã giảm 9,1%.

Do vậy, tốc độ tăng kim ngạch xuất  khẩu của nhiều mặt hàng trong quý này không tương xứng với tốc độ tăng về lượng hàng hoá xuất khẩu: Dầu thô tăng 25,7% về lượng hàng xuất khẩu nhưng kim ngạch thu được chỉ tăng 14,9%; hai chỉ tiêu tương ứng của gạo là: tăng 77,9% và tăng 39,8%; than tăng 20,1% và tăng 7,8%; hạt điều tăng 25,8% và tăng 2,1%; cà phê tăng 44,7% và giảm 22,9%; hạt tiêu tăng 20,6% và giảm 45,3%.

Kim ngạch nhập khẩu quý I/2001 ước tính đạt 3.640 triệu USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 2.584 triệu USD, tăng 4,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1.056 triệu USD, tăng 19,1%. Sở dĩ nhập khẩu quý này cũng tăng thấp hơn tốc độ tăng 38% của quý I/2000 chủ yếu do giá một số mặt hàng nhập khẩu trên thị trường thế giới giảm nên khối lượng nhập khẩu tuy tăng tương đối cao nhưng kim ngạch nhập khẩu tăng thấp. Mặt khác, một số mặt hàng có giá trị nhập khẩu tương đối lớn nhưng trong quý này giảm nhiều so với quý I/2000 như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng giảm 11,3%; tân dược giảm 10,8%; vải giảm 36,1%. Tuy nhiên, những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn đảm bảo tăng cả về lượng và giá trị: Xăng dầu tăng 13,5% về lượng và tăng 9,5% về giá trị; sắt thép tăng 29% và tăng 19%; bông xơ tăng 7,5% và tăng 15,5%; sợi dệt vải tăng 26,3% và 32,1%. Nhập siêu quí I/2001 là 86 triệu USD, bằng 2,4% kim ngạch nhập khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 698 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 612 triệu USD.

 Bảng 8. Tổng mức lưu chuyển ngoại thương quý I/2001

Tổng sốChia ra
Xuất khẩuNhập khẩu
Tổng trị giá (Triệu USD)719435543640
 Khu vực kinh tế trong nước447018862584
 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài272416681056
Tốc độ tăng so với quý I/2000 (%)11,214,38,4
 Khu vực kinh tế trong nước8,915,44,6
 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài15,313,019,1

 

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

  1. Đời sống dân cư

Do sản xuất phát triển và giá cả ổn định nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung đều tiếp tục được cải thiện. Lao động trong khu vực hành chính đã được hưởng lương theo quy định của Nghị định số 77/CP ngày 15/12/2000 của Chính phủ nâng mức lương tối thiểu từ 180 nghìn đồng lên 210 nghìn đồng. Nhiều doanh nghiệp duy trì và phát triển được sản xuất nên cũng có điều kiện tăng lương và các khoản thu nhập ngoài lương cho người lao động. Trong dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ một số doanh nghiệp đã chi tiền lương “tháng thứ 13” và chia lợi nhuận, tiền thưởng cuối năm. Do vậy, thu nhập bình quân mỗi tháng trong quý I/2001 của một lao động trong khu vực Nhà nước đã đạt 847 nghìn đồng, tăng 15,1% so với thu nhập bình quân mỗi tháng trong năm 2000, trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1.130,9 nghìn đồng/người/tháng, tăng 15,5%; lao động địa phương quản lý đạt 644 nghìn đồng/người/tháng, tăng 14,5%. Năm ngành có mức thu nhập bình quân mỗi tháng trên 1 triệu đồng là: Công nghiệp khai thác 1.391,3 nghìn đồng; điện nước 1.567,2 nghìn đồng; giao thông vận tải 1.458,3 nghìn đồng; tín dụng 1.395,1 nghìn đồng và tư vấn đầu tư 1.421,3 nghìn đồng.

Để giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực thành thị, nhiều địa phương đã hỗ trợ và cho vay vốn phát triển thêm ngành nghề, khuyến khích thành lập các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bằng các giải pháp này, trong quý I vừa qua Đồng Nai đã tạo việc làm cho 17,3 nghìn người, tăng 7,3 nghìn người so với quý I/2000, trong đó 9.860 người làm việc trong các doanh nghiệp và 200 người đi lao động nước ngoài. Tại thành phố Hồ Chí Minh, trong quý I/2001 quỹ xoá đói giảm nghèo của thành phố đã có 123 tỷ đồng, triển khai 133 dự án cho 61,1 nghìn lượt hộ vay vốn phát triển sản xuất, bình quân mỗi hộ được vay gần 1,7 triệu đồng.

Ở nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt tuy vẫn xảy ra nhưng quy mô nhỏ và giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tại thời điểm giữa tháng 3/2001, số hộ thiếu đói giáp hạt chỉ bằng 63,4% tháng 3/2000 và số nhân khẩu thiếu đói bằng 63,1%. Thiếu đói giáp hạt chủ yếu tập trung ở một số địa bàn xa xôi hẻo lánh, vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh Cao Bằng, Hoà Bình, Phú Thọ, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk. Để giúp các hộ khắc phục thiếu đói giáp hạt, các địa phương trên đã trợ cấp 2.347 tấn gạo và 7,1 tỷ đồng.

Ngoài ra, trong dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ một số địa phương còn tặng quà cho các đối tượng chính sách với tổng trị giá 33,4 tỷ đồng; cấp 2 nghìn tấn gạo và trên 4 tỷ đồng trợ giúp các hộ nghèo. Một số tỉnh như Thái Bình, Hải Phòng, Bình Định, Tiền Giang và một số địa phương khác còn trích ngân sách địa phương với tổng số tiền 20 tỷ đồng xây dựng 3.294 nhà tình nghĩa tặng các đối tượng chính sách, trong đó có các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng

  1. Hoạt động văn hoá

Quý I năm 2001, công tác văn hoá thông tin chủ yếu hướng vào phục vụ các hoạt động vui xuân, đón Tết Nguyên đán Tân Tỵ, gắn liền với hoạt động kỷ niệm lần thứ 71 ngày thành lập Đảng và chào mừng Đại hội Đảng lần thứ IX. Nhiều hoạt động văn hoá sôi nổi đã diễn ra ở nhiều nơi như Hội hoa xuân, Hội báo xuân, biểu diễn văn nghệ, bắn pháo hoa và pháo bông trong đêm giao thừa. Ngoài ra, ngành văn hoá còn tập trung hướng dẫn các địa phương thực hiện Công điện số 15 của Thủ tướng Chính phủ “Về chấn chỉnh hoạt động kinh doanh các dịch vụ văn hoá, tạo môi trường xã hội lành mạnh”. Tại thành phố Hồ Chí Minh lực lượng kiểm tra đã thu giữ 1700 băng, đĩa hình, một số sách và tạp chí có nội dung đồi truỵ, bạo lực, mê tín dị đoan; tháo dỡ 15 băng quảng cáo và 76 băng rôn. Hà Nội đã tháo dỡ 540 băng rôn; quét xoá trên 2000 m2 quảng cáo. Thừa Thiên-Huế tháo dỡ 38 biển quảng cáo và 30 băng rôn không đúng qui định. Trong quý I/2001 nhiều Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh, thành phố đã đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra chấn chỉnh các biểu hiện tiêu cực và mê tín dị đoan trong các lễ hội như Hội Chùa Hương (Hà Tây), Hội Lim, Lễ đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), Hội đền Hai Bà Trưng (Vĩnh Phúc).

  1. Công tác y tế

Tính đến ngày 19/2/2001, bệnh thương hàn đã phát triển ở một số địa phương nhưng chỉ ở diện hẹp. Theo báo cáo của 10 tỉnh có bệnh thương hàn phát sinh thì chỉ có 303 ca mắc. Dịch sởi xảy ra tại 3 tỉnh là Hà Giang, Lào Cai và Hà Tây với 401 ca mắc, làm 1 người chết. Riêng bệnh sốt rét vẫn phát sinh trên diện rộng. Theo báo cáo của 29 tỉnh thì trong quý I/2001 đã có 45,4 nghìn ca mắc, trong đó 12 người bị chết. Các tỉnh có nhiều người mắc bệnh sốt rét là Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa. Sốt xuất huyết có 1.420 ca mắc, trong đó có 2 người chết, chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Để khắc phục các loại dịch bệnh, Bộ Y tế đã chỉ đạo các tỉnh điều trị kịp thời các bệnh nhân bị mắc bệnh, đồng thời quyết tâm dập tắt các ổ dịch. Hà Tây đã tiêm phòng sởi cho 136 cháu trong độ tuổi ở các xã có dịch. Trung tâm y tế tỉnh Lào Cai đã cử cán bộ đến các xã có dịch và cấp 12 nghìn liều vắc xin sởi để tiêm phòng cho các cháu trong độ tuổi. Trong tháng 2/2001 Bộ Y tế còn chỉ đạo các viện sốt rét trung ương và các viện sốt rét khu vực đi kiểm tra và chỉ đạo phòng chống sốt rét tại các vùng trọng điểm.

Trong các dịch bệnh, đáng lo ngại nhất là tình trạng nhiễm HIV vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Đến ngày 19/2/2001 cả nước đã phát hiện được 29.638 người nhiễm HIV, trong đó  4.920 bệnh nhân AIDS (2.574 bệnh nhân đã  bị chết). Tình trạng ngộ độc thức ăn trong mấy tháng qua tuy có giảm nhưng nhìn chung vẫn xảy ra, riêng dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ có 642 người phải đến bệnh viện điều trị do ngộ độc thức ăn.

  1. An toàn xã hội

Theo báo cáo của 32 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong quí I/2001, buôn bán và vận chuyển ma tuý bị phát hiện tăng15,2% về số vụ và tăng 12,7% về số đối tượng; sử dụng ma tuý bị phát hiện cũng tăng 16,8% về số vụ và tăng 14,2% về số đối tượng. Riêng Hà Nội quý I/2001 đã phát hiện 184 vụ với 247 đối tương buôn bán ma tuý, tăng 45 vụ và 47 đối tượng so với cùng kỳ năm trước. Thành phố Hồ Chí Minh cũng phát hiện được 165 vụ buôn bán ma tuý với 270 đối tượng  tham gia buôn bán, vận chuyển ma tuý. Tình trạng mại dâm trong quý I/2001 chưa có chyển biến đáng kể. Theo số liệu của 20 tỉnh, thành phố có báo cáo thì tệ nạn mại dâm quí này tuy có giảm 5,6% về số vụ bị phát hiện so với quý I/2000, nhưng lại tăng 3% về số đối tượng vi phạm.

  1. Thiên tai, hoả hoạn

Trong ba tháng đầu năm, thiên tai đã xảy ra ở một số địa phương như động đất ở Lai Châu, sạt lở đất ở An Giang, mưa đá ở Lào Cai, Hà Giang, Phú Thọ, triều cường ở Bà Rịa – Vũng Tàu và hoả hoạn ở Lai Châu, Bắc Kạn, An Giang. Thiên tai, hỏa họan đã làm 7 người chết, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 112 tỷ đồng. Riêng động đất ở Lai Châu gây thiệt hại 105,8 tỷ đồng về tài sản, trong đó công trình trụ sở cơ quan 17 tỷ đồng, trường học 20 tỷ đồng, nhà dân 68 tỷ đồng.

Tóm lại, tình hình kinh tế-xã hội quý I/2001 diễn biến theo chiều hướng tích cực. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều tăng tương đối cao so với quý I/2000: Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,2%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,4%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 7,3%; tổng mức lưu chuyển ngoại thương tăng 11,2%; vụ đông xuân có khả năng được mùa lớn; thu ngân sách Nhà nước đạt 25,9% dự toán cả năm và là tỷ lệ cao nhất trong những năm gần đây. Điều này chứng tỏ nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn giảm sút tốc độ tăng trưởng và bước vào quỹ đạo phát triển mới. Tuy nhiên, một số khó khăn lớn vẫn còn đang tồn tại, nổi bật là nông sản hàng hoá tồn đọng lớn; sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của các sản phẩm công nghiệp nói riêng vẫn còn yếu; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục. Đại hội Đảng lần thứ IX sắp tới chắc chắn sẽ chỉ ra phương hướng, giải pháp để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế hoạch năm 2001 mà Quốc hội đã đề ra, tạo tiền đề vật chất và tinh thần tiếp tục thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 2001-2005 và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ