Trong quí I năm 2005, nền kinh tế diễn biến trong điều kiện trong nước và thế giới có nhiều khó khăn: Hạn hán ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, giá tiêu dùng trong nước và giá một số vật tư, nguyên liệu cho sản xuất trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng dầu tăng mạnh… Tuy vậy, do có sự chỉ đạo điều hành sát sao ngay từ đầu năm của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục phát triển và ổn định. Trên cơ sở số liệu thống kê 2 tháng đầu năm và số liệu ước tính tháng 3, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế-xã hội quí I năm 2005 như sau:

  1. TÌNH HÌNH KINH TẾ
  2. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước quí I/2005 ước tính tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7% của quí I/2003 và quí I/2004, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,5%; khu vực dịch vụ tăng 7%. Trong 7,2 % tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,6 điểm %; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,6 điểm % và khu vực dịch vụ đóng góp 3 điểm %.

 

Bảng 1.Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

(theo giá so sánh 1994, cùng kỳ năm trước = 100)

 

                                      %

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm tr­ướcĐóng góp vào tăng tr­ưởng quí I/2005 (điểm%)
Quí I/2003Quí I/2004Quí I/2005
GDP7,07,07,27,2
Khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản3,01,34,10,6
Khu vực công nghiệp và xây dựng9,49,68,53,6
   Công nghiệp9,410,38,63,1
Khu vực dịch vụ6,36,67,03,0

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I/2005 có mức tăng trưởng 4,1%, tăng đáng kể so với mức tăng 1,3% của quí I/2004, do nông nghiệp tăng mạnh, từ mức tăng 0,1% trong quí I/2004 lên 3,9% trong quí I năm nay và thuỷ sản tăng 6,1%. Trong nông nghiệp, giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 2,7% và giá trị sản xuất chăn nuôi, đặc biệt là gia cầm đã gia tăng đáng kể so với quí I năm trước, do trong quí I năm nay đàn gia cầm đã được phục hồi và tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, hạn hán ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Tây Nguyên và một số tỉnh Nam Trung Bộ sẽ có ảnh hưởng đến sản lượng một số cây trồng trong quí tới.

Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 8,5%, thấp hơn mức tăng 9,6% của quí I/2004 và 9,4% của quí I/2003, chủ yếu do tăng trưởng công nghiệp không đạt mức tăng của quí I năm trước. Giá trị tăng thêm công nghiệp trong quí I năm nay tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước do giảm sản lượng dầu thô khai thác, sản xuất điện tăng thấp hơn và công nghiệp chế biến chỉ tăng ngang mức tăng của quí I năm trước. Tốc độ tăng của ngành xây dựng đạt 8%.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng quí I là 7% cao hơn mức tăng 6,6% của dịch vụ quí I năm trước và 6,3% của quí I năm 2003. Trong quí I năm nay, một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều duy trì được mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của khu vực dịch vụ, đặc biệt là ngành khách sạn, nhà hàng có mức tăng trưởng là 11,1% cao hơn hẳn mức tăng 4,5% trong quí I/2004 (là thời gian ngành này bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch cúm gia cầm). Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp là 7,3%; ngành vận tải, bưu điện, du lịch tăng 7,4% (cùng kỳ năm trước tăng 7,1%); ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 7,7% (cùng kỳ năm trước tăng 7,1%).

Kinh tế tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng của quí I năm trước và giá dầu thô tiếp tục tăng mạnh trên thị trường quốc tế đã góp phần tích cực vào tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước quí I/2005 ước tính đạt 25,8% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 25,8%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 28,5% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 27,6%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 26,2%; các khoản thu về nhà đất đạt 26,8%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 23,7%. Thu từ dầu thô đạt 28% dự toán cả năm, nhờ giá dầu thô trong quí I tăng cao. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 24,3% dự toán cả năm, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 26,6%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu đạt 21,3%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước quí I ước tính đạt 22,6% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 25%; chi cho đầu tư phát triển mới đạt 21,7%     (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 22%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 24,8% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 25%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 26,8%; chi quản lý hành chính, chi cho y tế đều đạt 24,6%; riêng chi cải cách tiền lương mới đạt 14,6%. Bội chi ngân sách quí I ước tính bằng 11% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 85,7% và vay nước ngoài 14,3%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I năm 2005 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 38,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó nông nghiệp đạt 29,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9%; lâm nghiệp đạt 1,4 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6%; thuỷ sản đạt 7,6 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5%. Tình hình cụ thể như sau:

Sản xuất nông nghiệp 

Kết quả sản xuất vụ đông ở miền Bắc đạt khá. Những cây trồng chủ lực vụ đông năm 2005 như ngô, đậu tương, lạc đều đạt mức cao cả về diện tích và sản lượng do tiếp tục được sự hỗ trợ về giống và tăng diện tích các loại giống cho năng suất cao. Diện tích ngô đạt 104%, chủ yếu tăng ở miền Núi và Bắc Trung bộ, đỗ tương đạt 153%, lạc đạt 205% chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng (Hà Tây, Thái Bình, Hà Nam). Sản lượng ngô đạt 731,9 nghìn tấn, tăng 65,8 nghìn tấn (+9,9%), đỗ tương đạt 73,3 nghìn tấn, tăng 25 nghìn tấn (+51%), lạc đạt 19,9 nghìn tấn, tăng 10,7 nghìn tấn; sản lượng rau đậu các loại tăng 6%.

Tính đến 15/3/2005, cả nước gieo cấy được 2887 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1109,4 nghìn ha, bằng 99,6%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1777,6 nghìn ha, bằng 98,1%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1471,6 nghìn ha, bằng 100,1%.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đang khẩn trương thu hoạch lúa đông xuân sớm, đạt 1216,2 nghìn ha, bằng 94,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1201,4 nghìn ha, chiếm 76% diện tích xuống giống và bằng 97% cùng kỳ năm trước. Nét nổi bật trong vụ đông xuân năm nay của toàn vùng là diện tích lúa hàng hoá chất lượng cao phục vụ xuất khẩu tăng khá, trong đó An Giang tăng 90%; Tiền Giang tăng 70%; Đồng Tháp tăng 54%. Theo ước tính, năng suất lúa của vùng tăng từ 0,5 đến 1,0 tạ/ha; sản lượng đạt 8,8 triệu tấn, tăng 198 nghìn tấn.

Đến ngày 15/3/2005, cả nước gieo trồng được 364,5 nghìn ha ngô, bằng 106,2%; lạc 159,8 nghìn ha, bằng 100,2%; đậu tương 73,1 nghìn ha, bằng 112,3%; thuốc lá 13,5 nghìn ha, bằng 109,8%. Do ảnh hưởng thời tiết nắng hạn, thiếu nước tưới nên diện tích gieo trồng vụ đông xuân của một số loại cây hàng năm khác thấp hơn cùng kỳ năm 2004 như: Khoai lang 107,7 nghìn ha, bằng 83,5%; sắn 66,7 nghìn ha, bằng 78%…

Dịch cúm gia cầm tái phát trong quí I tại 35/64 tỉnh, thành phố làm chậm tốc độ khôi phục tổng đàn. Tính đến 15/3/2005, cả nước có 1,8 triệu con gia cầm bị chết và tiêu huỷ; đến ngày 18/3 cả nước có 25/35 tỉnh, thành phố không phát sinh thêm các ổ dịch mới sau 21 ngày có dịch. Nhu cầu tiêu dùng thực phẩm thay thế gia cầm tăng lên đã kích thích nông dân chuyển hướng sang chăn nuôi gia súc. Tổng đàn gia súc, đặc biệt đàn lợn có xu hướng tăng nhanh. Theo đánh giá sơ bộ, đàn lợn tăng 6-7% so với cùng kỳ năm trước.  ị chết và đến 15/3 cả nước có 1,8 triệu con, thành phố làm giảm tốc độ khôi đông xuân_________________________________

Sản xuất lâm nghiệp

Thời tiết khô hạn kéo dài đã ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng và bảo vệ rừng. Quí I năm nay diện tích trồng rừng tập trung cả nước ước tính đạt 54,5 nghìn ha, bằng 99,6% cùng kỳ năm trước; 48,1 triệu cây trồng phân tán, bằng 101,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 640,2 nghìn m3, bằng 100,5%.

Đặc biệt trong quí I, cả nước đã xảy ra 94 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 2213 ha, gấp 4,9 lần cùng kỳ năm 2004, trong đó các tỉnh có diện tích rừng bị cháy lớn là Sơn La 1207 ha; Điện Biên 429 ha; Kon Tum 414 ha. Tình hình khai thác rừng trái phép, chặt phá rừng làm nương rẫy và nuôi tôm vẫn xảy ra ở nhiều địa phương với 238 vụ, phá huỷ 49,5 ha, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản quí I năm nay ước tính đạt 779 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó cá 575 nghìn tấn, tăng 5,9%; tôm 68 nghìn tấn, tăng 7,1%.

Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản tuy gặp một số khó khăn do thời tiết khô hạn kéo dài ở một số tỉnh phía Nam và nguồn nước bị nhiễm mặn tại Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, nhưng sản lượng vẫn tăng khá so với quí I năm trước do vùng nuôi trồng thuỷ sản làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu đang vào vụ thu hoạch, mặt khác diện tích nuôi tôm sú quảng canh cho sản lượng cao. Ước tính sản lượng nuôi trồng quí I đạt 252 nghìn tấn, tăng 11,5%, trong đó cá tăng 13,3%; tôm tăng 9,8%.

Sản lượng thuỷ sản khai thác quí I năm nay đạt 527 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, do thời tiết tháng 3 thuận lợi hơn, trong đó khai thác biển đạt 479,6 nghìn tấn, tăng 3,8%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2005 ước tính đạt 36,27 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2004. Công nghiệp tháng 3 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do giảm lượng khai thác dầu thô và khối các doanh nghiệp Nhà nước tăng chậm (+5,2%), đáng chú ý là doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý chỉ tăng 1,5%, do một số doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn thực hiện cổ phần hoá.

Tính chung quí I năm nay giá trị sản xuất công nghiệp ước tính đạt 101,26 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 33,5 nghìn tỷ, tăng 7,9%, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 30,3 nghìn tỷ đồng, tăng 25,5% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,5% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 8,3%, các ngành khác tăng 19,7%). Điều đáng quan tâm trong công nghiệp quí I năm nay là tốc độ tăng đã chững lại và thấp hơn so với tốc độ tăng công nghiệp quí I của một số năm gần đây (Quí I/2004 tăng 15,6%; quí I/2003 tăng 15,1%), chủ yếu do ảnh hưởng của ngành công nghiệp khai thác mỏ giảm và một số mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như dệt may, giày dép, xe đạp… tăng thấp.

Công nghiệp khai thác mỏ quí I năm nay chỉ tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giá dầu thô trên thị trường thế giới vẫn tiếp tục tăng nên lượng dầu thô khai thác đã được hạn chế ở mức cần thiết để duy trì phát triển kinh tế bền vững. Dầu thô khai thác quí I/2005 ước tính đạt 4,48 triệu tấn, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, khí đốt thiên nhiên 1,46 tỷ m3, giảm 0,5%.

Công nghiệp chế biến quí I ước tính đạt 85,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9% so với quí I năm trước. Một số sản phẩm công nghiệp chế biến chủ yếu, quan trọng đối với nền kinh tế vẫn duy trì mức độ tăng cao so với cùng kỳ như: Than sạch khai thác tăng 18,2%, thủy sản chế biến tăng 20,7%, giấy bìa các loại tăng 18,9%, Xút NaOH tăng 34,3%; thuốc trừ sâu tăng 23,4%; xe máy lắp ráp tăng 23,4%, ô tô lắp ráp tăng 18,5%…

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng ở mức trên dưới 10% như: Quần áo may sẵn tăng 10%; phân hoá học tăng 7,8%; xi măng tăng 5,6%; gạch xây tăng 6,7%; thép cán tăng 10,6%; đông cơ điện tăng 7,2%; ti vi lắp ráp tăng 5,1%…

Một số sản phẩm công nghiệp chế biến phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào nhập khẩu và thị trường tiêu thụ nước ngoài còn gặp khó khăn nên không đạt mức sản xuất của cùng kỳ năm trước như: Đường mật giảm 14,8%; vải lụa thành phẩm giảm 0,1%; quần áo dệt kim giảm 10,9%; máy công cụ giảm 18,6%; động cơ diezen giảm 16,3%;  quạt điện dân dụng giảm 10,2%; riêng xe đạp hoàn chỉnh giảm 23% do khó khăn về thị trường xuất khẩu.

Thời gian tới sản xuất công nghiệp có thể vẫn còn bị ảnh hưởng bởi giá cả một số nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu vẫn đứng ở mức cao; lượng nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất trong nước đạt thấp so với cùng kỳ và sức ép của tăng giá theo qui luật cung cầu trên thị trường nội địa và quốc tế.

  1. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư­ quí I năm 2005 theo giá thực tế ư­ớc đạt 53,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,8% kế hoạch năm và tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, vốn Nhà nư­ớc chiếm 51,6%, vốn ngoài quốc doanh chiếm 28%, vốn đầu t­ư trực tiếp nư­ớc ngoài chiếm 20,4%. Tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch năm và so với cùng kỳ năm trước cụ thể như sau:

Bảng 2. Thực hiện vốn đầu t­ư quí I năm 2005

 

 

 Kế hoach 2005    (Nghìn tỷ đồng)Ước thực hiện quí I năm  2005
(Nghìn tỷ đồng)So với kế hoạch năm(%)Tốc độ tăng so với năm 2003 (%)
TỔNG SỐ30053,517,8122,6
Vốn Nhà n­ước17127,616.1128,4
Vốn ngoàI quốc doanh8615,017,4125,0
Vốn đầu tư­ trực tiếp n­ước ngoài4310,925.3107,4

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung quí  I/2005 thực hiện 10857,3 tỷ đồng, đạt 20,9% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 4773,5 tỷ đồng, đạt 24% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1681,5 tỷ đồng, đạt 29,2% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 425,2 tỷ đồng, đạt 23,7%; Bộ Y tế 123 tỷ đồng, đạt 14,5%; Bộ Giáo dục Đào tạo 106,2 tỷ đồng, đạt 17,7%; Bộ Văn hoá Thông tin 47,3 tỷ đồng, đạt 13%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung do địa phương quản lý thực hiện 6083,8 tỷ đồng, đạt 19% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội đạt 15,6%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 17%, Hải Phòng đạt 21,1%, Đà Nẵng đạt 18,7%, Lâm Đồng đạt 20,6%…

Trong quí I năm 2005 các đơn vị tập trung vào thanh quyết toán khối lượng hoàn thành của năm 2004, triển khai kế hoạch năm 2005 và nghỉ Tết Nguyên đán, nên nhìn chung hoạt động đầu tư và xây dựng đạt thấp so với kế hoạch. Ngoài ra, khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng cũng làm cho không ít dự án, công trình khởi công chậm so với kế hoạch.

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, trong quí I năm 2005 có 109 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1310,2 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tuy số dự án giảm 9,2%, nhưng số vốn gấp 3,1 lần (Quí I/2004 có 120 dự án với số vốn đăng ký 420 triệu USD). Qui mô bình quân một dự án được cấp phép quí I năm nay đạt 12 triệu USD, cao hơn mức bình quân 3,5 triệu USD của một dự án cùng kỳ năm trước.

Các tỉnh, thành phố phía Nam có 82 dự án với 416 triệu USD, chiếm 75,2% về số dự án và 31,8% về số vốn đăng ký. Trong đó Đồng Nai có 21 dự án với 261,6 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh 33 dự án với 82,2 triệu USD, Bình Dương 18 dự án với 44,8 triệu USD,  Bà Rịa-Vũng Tàu 2 dự án với 6 triệu USD. Các tỉnh, thành phố phía Bắc có 27 dự án với số vốn đăng ký 894,2 triệu USD, chiếm 24,8% về số dự án và 68,2% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 10 dự án với vốn đăng ký 824,2 triệu USD (Riêng dự án Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Bưu điện Hà Nội và Lúc-xăm-bua là 665 triệu USD); Tuyên Quang 1 dự án với 25 triệu USD; Hải Phòng có 5 dự án với 16,8 triệu USD; Quảng Ninh 3 dự án với 13,9 triệu USD; Nghệ An 1 dự án với 4 triệu USD; Hải D­ương 2 dự án với 3,4 triệu USD; Vĩnh Phúc 1 dự án với 2,9 triệu USD, Hưng Yên 1 dự án với 2 triệu USD…

Các đối tác có vốn đăng ký lớn là: Lúc-xăm-bua có 2 dự án với 770,5 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 2 dự án với 245 triệu USD; Đài Loan 22 dự án với số vốn 65 triệu USD; Hàn Quốc 29 dự án với 59,4 triệu USD; Nhật Bản 10 dự án với  58,6 triệu USD; đảo Virgin thuộc Anh 7 dự án với 28,6 triệu USD; CHND Trung Hoa 4 dự án với 28,4 triệu USD;  Hà Lan 1 dự án với 12 triệu USD; Ca-na-đa 1 dự án với 6 triệu USD; Xin-ga-po 3 dự án với 5,7 triệu USD…

  1. Vận tải

Vận chuyển hành khách quí I năm 2005 ước tính đạt 238,1 triệu lượt hành khách và gần 11 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,5% về lượt hành khách và tăng 9% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hàng hoá ước tính đạt 64,2 triệu tấn và 13,37 tỷ tấn.km, tăng 5,2% về tấn và tăng 6,9% về tấn.km. Trong vận chuyển hàng hoá, vận chuyển bằng đường sắt tăng 2,5% về tấn và giảm 8,9% về tấn.km; bằng đường biển tăng 6,8% về tấn và tăng 8,7% về tấn. km, bằng đường bộ tăng 5,2% về tấn và tăng 5,8% về tấn.km, bằng đường sông tăng 4,9% về tấn  và  tăng 5,9% về tấn.km.

  1. Thương mại, giá cả và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2005 ước tính đạt 104,5 nghìn tỷ đồng theo giá thực tế, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố tăng giá còn tăng trên 9%); trong đó kinh tế Nhà nước đạt 14,29 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3%; kinh tế tập thể đạt 1,32 nghìn tỷ đồng, tăng 57,7%; kinh tế cá thể đạt 65,66 nghìn tỷ đồng (chiếm 62,8% tổng mức), tăng 17,4 %; khu vực kinh tế tư nhân đạt 20,55 nghìn tỷ đồng, tăng 36,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2,68 nghìn tỷ đồng tăng 44,1%. Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm 80,2% và tăng 16,4%; khách sạn, nhà hàng, chiếm 13,1% và tăng 28,6%; dịch vụ chiếm 6% và tăng 28,2%; du lịch chiếm 0,7% và tăng 15,7%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2005 trên địa bàn Hà Nội ước đạt 10,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,8% tổng mức, tăng 20,3%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 24,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,9%, tăng 18,4%.

Giá tiêu dùng trong quí I năm nay so với tháng trước và so với tháng 12/2004  năm trước không có biến động khác thường,  diễn ra theo xu hướng tương tự các năm 2004 và trước đó: Giá tiêu dùng tháng 3/2005 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 3,7% so với tháng 12/2004.

Bảng 3. Chỉ số giá tiêu dùng

%

 20012002200320042005
Tháng trước = 100
Tháng 1100,3101,1100,9101,1101,1
Tháng 2100,4102,2102,2103,0102,5
Tháng 399,399,299,4100,8100,1
Tháng 12 năm trước=100
Tháng 1100,3101,1100,9101,1101,1
Tháng 2100,7103,3103,1104,1103,6
Tháng 3100,0102,5102,5104,9103,7

Giá tiêu dùng tháng 3 tăng so với tháng trước chủ yếu do giá nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 0,2% (lương thực tăng 1%; thực phẩm giữ ở mức giá tháng trước); giá nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 0,4%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,2%; dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 0,3% và giáo dục tăng 0,1%; giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng khác giảm nhẹ so với tháng 2/2005.

So với tháng 12 năm 2004, giá tiêu dùng tháng 3 tăng 3,7%, trong đó giá của tất cả các nhóm đều tăng, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm tăng 6,1% (lương thực tăng 4,9% và thực phẩm tăng 6,3%); giá đồ uống và thuốc lá tăng 2,3%; các nhóm còn lại (trừ hàng hoá và dịch vụ cho giáo dục tăng 0,2%) tăng phổ biến ở mức 0,8-1,4%.

Tuy nhiên, giá tiêu dùng tháng 3 năm 2005 so với tháng 3 năm 2004 tăng 8,4%, với xu hướng giảm dần qua các tháng trong quí I (tháng 1 tăng 9,7%; tháng 2 tăng 9,1% và tháng 3 tăng 8,4%) và ngược lại với xu hướng giá tiêu dùng so với cùng kỳ trong 3 tháng đầu năm 2004 (tháng 1 tăng 3,2%; tháng 2 tăng 4% và tháng 3 tăng 5,5%). Xu hướng giá các tháng trong quí I/2005 so với cùng kỳ có tích cực hơn, nhưng giá bình quân 12 tháng tại thời điểm tháng 3/2005 đã tăng đáng kể, tăng gần 9%, vẫn là điều đáng quan tâm trong thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Giá vàng tháng 3 tăng 2% so với tháng trước và chỉ bằng 98,1% giá vàng tháng 12 năm 2004. Giá đô la Mỹ tháng 3 giữ ở mức giá tháng 2 và chỉ tăng 0,1% so với tháng 12/2004.

Kim ngạch xuất khẩu quí I năm 2005 ước tính đạt 6,72 tỷ USD, tăng 16,2% so với quí I năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô quí I/2005 ước đạt 5,14 tỷ USD, tăng 12,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2,95 tỷ USD, tăng 9% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,19 tỷ USD, tăng17,6%. Do kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước có xu hướng tăng chậm hơn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nên tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước trong kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu thô) đã giảm từ 59,2% trong quí I năm 2004, xuống còn 57,3% trong quí I năm 2005; các con số tương ứng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 40,8% và 42,7%. Trong tổng mức tăng trưởng của xuất khẩu, dầu thô xuất khẩu đóng góp 39,1%, khu vực kinh tế trong nước đóng góp 25,8% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (trừ dầu thô) đóng góp 35,1%.

Kim ngạch xuất khẩu dầu thô quí I năm nay ước tính đạt 1579 triệu USD, chiếm tới 23,5% tổng kim ngạch và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước, do giá xuất khẩu bình quân 3 tháng tăng khoảng 44% so với quí I năm trước đã bù lại khối lượng xuất khẩu đã giảm gần 10% và  đóng góp một tỷ lệ gần 40% cho tăng trưởng xuất khẩu. Các mặt hàng chủ lực khác có kim ngạch trên 100 triệu USD như than đá; dệt may; giày dép; điện tử, máy tính; gạo; cao su; sản phẩm gỗ; thuỷ sản, tuy có tốc độ tăng và ưu thế về giá khác nhau, nhưng đều tăng so với quí I năm trước và đóng góp tích cực vào tăng xuất khẩu trong quí I năm nay:

 

Bảng 4. Xuất khẩu hàng hoá quí I/2005

 

Kim ngạch xuất khẩu quí I (triệu USD)Tốc độ tăng so với quí I năm tr­ước (%)Đóng góp vào tăng  tr­ưởng xuất khẩu (%)
Dầu thô157930,339,1
Than đá12876,25,9
Dệt, may9502,92,9
Giày dép6513,62,4
Điện tử, máy tính31145,310,3
Gạo2665,21,4
Cao su1205,20,6
Sản phẩm gỗ26417,94,3
Thuỷ sản4808,03,8

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng như dệt may, giày dép, gạo và cao su tăng không cao so với cùng kỳ và một số mặt hàng nông sản xuất khẩu còn chưa đạt được lượng xuất khẩu của quí I năm trước do nguồn cung còn hạn chế như gạo, cà phê, hạt tiêu.

Kim ngạch nhập khẩu quí I năm 2005 ước tính đạt 7,85 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2004 (Quí I/2004 tăng 11,2%), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu hơn 5,15 tỷ USD, tăng 19,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 2,7 tỷ USD, tăng 16,8%. Trong số 23 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có 20 mặt hàng kim ngạch tăng so với cùng kỳ năm trước như: Xăng dầu tăng 8,8%; sắt thép tăng 21,8%; chất dẻo tăng 27,8%; hoá chất tăng 21,1%; thuốc trừ sâu tăng 25,1%; vải tăng 1,4%; bông tăng 42,3%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ tăng 50,6%; máy móc thiết bị tăng 27,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 39,5%; xe máy nguyên chiếc tăng gần 5,8 lần; ô tô tăng 51%… 3 mặt hàng chủ yếu có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước là phân bón giảm 48,5% (do nguồn cung trong nước tăng); nguyên phụ liệu dệt, may giảm 8,4%; sợi dệt giảm 11,6%. Đáng chú ý là trong nhập khẩu quí I năm nay, một số mặt hàng nhập khẩu như xăng dầu, sắt thép, chất dẻo và giấy tuy tăng về kim ngạch nhưng chủ yếu do giá nhập khẩu trên thị trường quốc tế tăng, còn lượng nhập khẩu vẫn thấp hơn mức nhập khẩu của cùng quí năm trước, sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất trong nước quí tới. Nhập siêu quí I năm 2005 là 1,14 tỷ USD, bằng 16,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn tỷ lệ  13,7% của quí I năm 2004.

Hoạt động du lịch quí I năm nay tăng mạnh so với quí I năm trước.Khách quốc tế đến Việt Nam quí I năm 2005 ước tính đạt 877,5 nghìn lượt người, tăng 22,8% so với quí I năm 2004, cao hơn hẳn mức tăng trên 4% của quí I/2004 (là thời gian bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch cúm gia cầm). Khách quốc tế vào nước ta trong quí I năm nay tăng mạnh ở nhóm khách đến tham quan, du lịch và thăm người thân, bạn bè; khách vào vì công việc giảm so với quí I năm trước: Khách đến với mục đích du lịch ước tính đạt 525 nghìn lượt người (chiếm 59,8% tổng số khách), tăng 37,2%; thăm thân nhân 157,2 nghìn lượt người, tăng 19,5%; vì công việc 94,1 nghìn lượt người, giảm 19,9%; đến với mục đích khác 101,2 nghìn lượt người, tăng 22,1%.

Khách đến Việt Nam nhiều nhất là từ CHND Trung Hoa: 211,9 nghìn lượt người, tăng 8,9%; từ Mỹ 94,8 nghìn lượt người, tăng 23%; từ Hàn Quốc 77,4 nghìn lượt người, tăng 60,3% từ Nhật Bản 68,1 nghìn lượt người, tăng 8,3%; từ Đài Loan 67,7 nghìn lượt người, tăng 19%; từ Cam pu chia 47,6 nghìn lượt người, tăng 142,5% từ Ô-xtrây-li-a 41,4 nghìn lượt người, tăng 28,3%; từ Pháp 30,9 nghìn lượt người, tăng 26,8%, từ Ca na đa 21,9 nghìn lượt người, tăng 34,2%….

  1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
  2. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư trong quí I/2005 nhìn chung ổn định. Trong dịp Tết Nguyên đán Ất Dậu-2005, các đối tượng thuộc diện chính sách, gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các trại điều dưỡng thương binh, trung tâm điều dưỡng người có công đều được nhận quà và trợ giúp, như quà của Chủ tịch nước, của các cấp, các ngành và các tổ chức, cá nhân. Các hộ nghèo và các đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn như người già cả cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, nạn nhân chất độc màu da cam, đồng bào vùng gặp thiên tai cũng đã được trợ cấp trong dịp Tết Ất Dậu vừa qua.

Các ngành, các cấp đã triển khai thực hiện lương mới theo Nghị định của Chính phủ và kế hoạch chi ngân sách về cải cách tiền lương 2005, nên đời sống của người lao động hưởng lương từ ngân sách đã được cải thiện hơn, tuy vậy một bộ phận người lao động có thu nhập thấp vẫn còn gặp khó khăn. Ở nông thôn, hạn hán kéo dài ở một số tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên đã gây ra những khó khăn nhất định ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư. Tình trạng thiếu đói giáp hạt vẫn xảy ra: Số lượt hộ thiếu đói trong quí I/2005 tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước và số lượt nhân khẩu thiếu đói cũng tăng 10,8%. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 5,7 nghìn tấn lương thực và khoảng 2 tỷ đồng.

  1. Văn hoá, Thể dục thể thao

Hoạt động văn hoá thông tin trong quí I/2005 tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn và đón năm mới Ất Dậu 2005 với nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật rộng khắp, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân cả nước. Công tác thanh tra kiểm tra văn hoá được tiến hành thường xuyên, trong 3 tháng đầu năm đã tiến hành thanh tra, kiểm tra gần 1 nghìn cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện trên 250 cơ sở vi phạm, tiến hành thu giữ gần 60 nghìn băng, đĩa các loại và xử phạt hành chính 600 triệu đồng. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được đẩy mạnh, đặc biệt là các địa phương ở vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hoạt động thể dục thể thao tập trung vào các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân, chuẩn bị lực lượng vận động viên tham dự SEA GAMES 23 và các giải đấu quốc tế. Nhiều hoạt động thể thao quần chúng và dân tộc được tổ chức sôi nổi ở các địa phương như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, đấu vật, cờ người, cờ tướng, ném còn, bắn nỏ đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Trong thể thao thành tích cao, tính đến nay đã triệu tập, tập huấn 27 đội tuyển với 391 vận động viên cho SEA GAMES 23, đồng thời trong quí I/2005 cũng tổ chức thành công 19 giải thi đấu quốc gia và đã cử 9 đội tuyển tham dự các giải quốc tế, trong đó một số đội tuyển đạt được kết quả khá cao: Đội tuyển rowing xếp thứ nhất toàn đoàn tại giải vô địch đua thuyền Đông Nam Á với 8 huy chương vàng; đội tuyển judo đoạt 4 huy chương vàng tại giải vô địch Judo Đông Nam Á; đội tuyển đấu kiếm đạt 5 huy chương vàng tại giải vô địch đấu kiếm Đông Nam Á.

  1. Giáo dục và đào tạo

Tình hình phổ cập giáo dục

Tính đến hết tháng 2/2005, trong cả nước có 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là: Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Đà Nẵng, Hải Dương, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Tây, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Bắc Giang, Tuyên Quang, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hoá, Tiền Giang, Vĩnh Long và Thừa Thiên-Huế.

Công tác phổ cập trung học cơ sở được các địa phương trong cả nước tích cực triển khai. Tính đến nay, có 22 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Hải Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Bình Dương, Bình Định, Thái Nguyên và Đồng Nai.

Về số trường phổ thông đạt chuẩn: Tính đến hết học kỳ I năm học 2004-2005, có 3119 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 21,5% tổng số trường tiểu học trong cả nước, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 45,5%, là vùng có tỷ lệ đạt chuẩn cao nhất và Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ đạt chuẩn thấp nhất mới đạt 4,2%. Số trường trung học cơ sở đạt chuẩn tính đến hết học kỳ I năm học 2004-2005 là 216 trường, chiếm 2,4% tổng số trường trung học cơ sở của cả nước.

  1. Tình hình dịch bệnh

Trong 3 tháng đầu năm 2005 (tính đến 19/3) có 11,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 4,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và trên 370 trường hợp mắc bệnh thương hàn, tuy nhiên không có trường hợp nào bị tử vong. Trong quí I/2005 cũng đã có 1,1 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 7 người đã tử vong.

Về tình hình viêm phổi cấp do virus cúm tuýp A-H5N1, trong tháng 3/2005 có 7 trư­ờng hợp mắc bệnh, trong đó 1 người đã tử vong. Tính từ tháng 2/2004 đến nay, trong cả nước có 51 trư­ờng hợp mắc bệnh cúm tuýp A-H5N1, trong đó 33 ng­ười đã tử vong.

Cũng trong tháng 3/2005 đã phát hiện thêm 953 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/3/2005 lên 92,6 nghìn người, trong đó 14,8 nghìn bệnh nhân AIDS và 8,7 nghìn người đã chết do AIDS.

  1. Tai nạn giao thông

Trong tháng 2/2005, xảy ra 1,6 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 1,2 nghìn người và làm bị thương 1,4 nghìn người. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, trên phạm vi cả nước xảy ra gần 3 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 2,2 nghìn người và làm bị thương 2,6 nghìn người. So với 2 tháng đầu năm 2004, số vụ tai nạn giảm 16,8%; số người chết giảm 3,9% và người bị thương giảm 25,2%. Bình quân 1 ngày xảy ra 50 vụ tai nạn, làm chết 39 người và làm bị thương 59 người. Tai nạn giao thông xảy ra chủ yếu trên đường bộ và các nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là: Đi sai phần đường, chạy quá tốc độ quy định, tránh vượt sai và thiếu quan sát. Ngoài ra, thời gian qua cũng xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt là vụ tai nạn đường sắt đổ tàu E1 ngày 12/3/2005 tại Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã làm 11 người chết, trên 70 người bị thương và thiệt hại lớn về tài sản. Nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là do tàu đã chạy vượt quá 72% tốc độ cho phép tại đoạn đường trên.

Biểu số liệu tháng 3 năm 2005