Năm 2001 là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2001-2005, đồng thời cũng là năm tạo tiền đề vật chất và tinh thần triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Do vậy, Quốc hội đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2001 với 11 chỉ tiêu chủ yếu là:
1. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,5%;
2. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,5%;
3. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14%;
4. Giá trị các ngành dịch vụ tăng 7%;
5. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%;
6. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 30% tổng sản phẩm trong nước;
7. Lạm phát không quá 5%;
8. Tạo việc làm mới cho khoảng 1,4 triệu lao động;
9. Đào tạo nghề cho 84 vạn người;
10. Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn mới xuống còn 16%(*);
11. Giảm tỷ lệ sinh 0,05%.
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nói trên, ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã tích cực triển khai nhiều biện pháp cụ thể. Nhờ vậy, tình hình kinh tế-xã hội năm 2001 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực. Hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế-xã hội then chốt đều thu được những kết quả vượt trội năm 2000.

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.

Theo đánh giá lại, tổng sản phẩm trong nước năm 2001 tăng 6,8% so với năm 2000, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,7%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,4%; khu vực dịch vụ tăng 6,1%. Tuy mức tăng đánh giá lại có thấp hơn so với sơ bộ ước tính lần trước và chưa đạt mức tăng trưởng của mục tiêu kế hoạch đặt ra đầu năm nhưng so với các nước trong khu vực và các nền kinh tế đang phát triển khác thì mức tăng 6,8% là tương đối cao, chỉ sau mức tăng 7,2% của Trung Quốc. Trừ khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có mức tăng trưởng thấp hơn các năm 1998, 1999 và 2000, các khu vực công nghiệp và xây dựng cũng như khu vực dịch vụ năm nay đều tăng cao hơn ba năm trước.

Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng nhất định tới tình hình kinh tế nước ta. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam tháng 11/2001, tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự kiến đạt 1,3% trong năm 2001, chỉ bằng một phần ba mức tăng trưởng 3,8% của năm 2000. Các đối tác thương mại và đầu tư chính của nước ta đều đang ở thời kỳ suy thoái trầm trọng. Nền kinh tế Mỹ (Chiếm đến 30% tổng sản phẩm của thế giới) chỉ đạt mức tăng trưởng 1,1% năm 2001 so với mức tăng 4,1% của năm 2000. Tăng trưởng của Nhật Bản (Chiếm khoảng 15% tổng sản phẩm của thế giới) từ mức tăng 1,5% năm 2000 xuống giảm 0,8% trong năm 2001. Các nền kinh tế khác như: Đài Loan, Hồng Công, Hàn Quốc, Malaysia… có mức tăng trưởng trên dưới 8% trong năm 2000, nhưng năm 2001 đều giảm mạnh, chỉ tăng khoảng 1-2%, thậm chí như Singapore còn giảm 2,3%. Trong bối cảnh như vậy, mức tăng trưởng kinh tế năm 2001 của nước ta đạt được như trên là một nỗ lực lớn.

Trong 6,8% tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước của nước ta thì khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,7%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,5%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,6%. Nếu quan sát cả 4 năm liền ta thấy mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế các năm 1999-2001 của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm, còn của khu vực công nghiệp và xây dựng cũng như của khu vực dịch vụ tăng dần.
Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá và công tác huy động có tiến bộ nên tổng thu ngân sách năm 2001 ước tính đạt 113% dự toán cả năm và tăng 7,4% so với năm 2000. Các khoản thu lớn nhìn chung đều tăng cao so với dự toán cả năm và so với thực hiện năm 2000: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 112,4% dự toán cả năm và tăng 17,3% so với năm trước; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 113,4% và tăng 18,3%; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 101,9% và tăng 12%.
Tổng chi ngân sách cả năm ước tính đạt 106,7% dự toán cả năm và tăng 13,5% so với năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 110,7% và tăng 22,8%; chi thường xuyên đạt 108,4% và tăng 13%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đã đạt tỷ lệ tương đối cao so với dự toán cả năm và đều tăng so với năm 2000 như: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 104,5% và tăng 23,9%; chi cho y tế đạt 104,4% và tăng 19,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 134,9% và tăng 36%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 101,7% và tăng 13,5%.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tổng thu tiền mặt qua ngân hàng cả năm ước tính tăng 16,7% so với năm 2000; tổng số chi ước tính tăng 18,3%. Tổng số tiền gửi ngân hàng tăng 24%, trong đó nội tệ tăng 21,4%; ngoại tệ tăng 27,8%. Tổng số dư cho vay cả năm của ngân hàng cũng tăng 22,5%, trong đó tín dụng trung hạn và dài hạn tăng 24,9%.
Giá hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trong năm ít biến động. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2001 so với tháng 12 năm 2000 chỉ tăng 0,8%, trong đó lương thực tăng 6%; giáo dục tăng 3,6%; phương tiện đi lại và bưu điện giảm 4,7%; dược phẩm và y tế giảm 0,2%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại chỉ tăng trên dưới 1%. Giá vàng cả năm tăng 5% và giá đô la Mỹ tăng 3,8%. Đáng chú ý là, nhờ áp dụng các giải pháp mua hàng tạm trữ, đồng thời tích cực tìm thị trường xuất khẩu nên trong năm đã từng bước nâng được giá lương thực, không những khuyến khích sản xuất lương thực phát triển mà còn góp phần tăng thu nhập cho nông dân, nhất là nông dân vùng chuyên canh lúa hàng hoá đồng bằng sông Cửu Long.
2. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
a. Nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp năm 2001 có sự chuyển đổi đáng kể về cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Nhiều địa phương đã chuyển diện tích gieo trồng lúa năng suất thấp sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản. Do vậy, diện tích gieo trồng lúa cả năm chỉ đạt 7484,4 nghìn ha, bằng 97,6% năm 2000, trong đó lúa đông xuân 3056,8 nghìn ha, bằng 101,4%; lúa hè thu 2179,7 nghìn ha, bằng 95,1%; lúa mùa 2247,8 nghìn ha, bằng 95,2%. Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 42,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với năm 2000; sản lượng đạt gần 32 triệu tấn, giảm trên 0,5 triệu tấn. Nếu tính thêm 2,1 triệu tấn ngô và sản lượng các loại cây lương thực có hạt khác thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 34 triệu tấn.

Diện tích trồng cây công nghiệp năm nay ước tính đạt 2266,4 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm 2000, trong đó cây công nghiệp hàng năm 789,6 nghìn ha, tăng 1,5%; cây công nghiệp lâu năm 1476,8 nghìn ha, tăng 1,8%. Do tăng diện tích gieo trồng, nhất là diện tích gieo trồng giống mới và đẩy mạnh thâm canh nên sản lượng của nhiều loại cây công nghiệp năm 2001 đã cao hơn năm 2000: Bông 27,4 nghìn tấn, tăng 45,7%; đay 14,8 nghìn tấn, tăng 31%; đậu tương 176,2 nghìn tấn, tăng 18%; thuốc lá 30,8 nghìn tấn, tăng 13,7%; chè 371,8 nghìn tấn, tăng 18,1%; hạt tiêu 44,2% nghìn tấn, tăng 12,2%; dừa 977,5 nghìn tấn, tăng 10,4%; cà phê 847 nghìn tấn, tăng 5,5%; cao su 300,7 nghìn tấn, tăng 3,4%; điều 70,2 nghìn tấn, tăng 3,7%. Tuy nhiên, vẫn có một số cây công nghiệp hàng năm giảm sút cả diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch so với năm trước như: Mía giảm 3,8% diện tích và giảm 4,8% về sản lượng; lạc cũng giảm 1,5% và 0,7%.
Nhu cầu thực phẩm tăng nhanh đã khuyến khích chăn nuôi phát triển. Theo báo cáo chăn nuôi của các địa phương, tại thời điểm 1/10/2001, đàn trâu có 2910 nghìn con, tăng 13 nghìn con so cùng kỳ năm 2000; đàn bò 4178 nghìn con, tăng 50 nghìn con; đàn lợn 20820 nghìn con, tăng 626 nghìn con; đàn gia cầm 209,7 triệu con, tăng 13,6 triệu con.
b. Lâm nghiệp.
Diện tích trồng rừng tập trung cả năm ước tính đạt 208,7 nghìn ha, bằng mức trồng của năm trước. Ngoài ra, trong năm còn khoanh nuôi 520,1 nghìn ha và chăm sóc 412,5 nghìn ha rừng khác, đồng thời trồng được 239,6 triệu cây phân tán. Sản lượng gỗ và nguyên liệu giấy khai thác đạt 2419,7 nghìn m3, bằng 94% năm 2000. Tồn tại lớn nhất trong sản xuất lâm nghiệp là, mặc dù các cấp, các ngành và chính quyền các địa phương đã tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng nhưng tình trạng vi phạm lâm luật, chặt phá rừng và cháy rừng vẫn tiếp tục diễn ra. Trong 9 tháng đầu năm cả nước đã có trên 1,2 nghìn ha rừng bị cháy và 2,3 nghìn ha bị chặt phá, chủ yếu tập trung ở Đắk Lắk.
c. Thuỷ sản.
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác cả năm ước tính đạt 2,4 triệu tấn, tăng 7,7% so với năm 2000, trong đó cá 1730 nghìn tấn, tăng 5,1%; tôm 249,8 nghìn tấn, tăng 30,7%; thuỷ sản khác 420,2 nghìn tấn, tăng 7,1%. Ngành thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng cao trước hết là do số lượng tàu thuyền công suất lớn cho phép đánh bắt xa bờ dài ngày tăng, mặt khác còn do nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi tôm nước mặn và nước lợ phát triển mạnh. Một số địa phương còn phát triển mô hình nuôi tôm trên cát và nuôi trong ruộng lúa. Nhờ vậy, diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm nay tăng 11,6% so với năm 2000, trong đó diện tích nuôi tôm tăng 20,4%.
Tính chung, giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 1994 của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2001 đạt trên 145,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,1% so với năm 2000, trong đó nông nghiệp 114,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%; thuỷ sản 24,7 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8%.

3. Công nghiệp.

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 12 năm 2001 tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,3%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,4%. Sở dĩ tốc độ tăng trưởng công nghiệp tháng 12 tiếp tục thấp hơn so với tốc độ tăng của các tháng trước là do:
(1). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Chiếm 35,4% toàn ngành công nghiệp) giảm mạnh vào các tháng cuối năm và tiếp tục giảm trong tháng 12. Riêng khai thác dầu thô giảm 23,1% (Giảm 371 nghìn tấn) so với tháng 12 năm 2000, chủ yếu do thực hiện chủ trương hạn chế khai thác vì giá dầu xuống thấp.
(2). Ngoài dầu thô, một số mặt hàng tiêu dùng trong nước có tỷ trọng lớn như: Rượu, bia, thuốc lá, xe máy, bột ngọt,… do nhu cầu không tăng hoặc bão hoà, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn nên sản xuất tháng 12 cũng giảm so với cùng kỳ (Bia giảm 9,8%, thuốc lá giảm 9,1%, xe máy giảm 32,5%, bột ngọt giảm 3,3%, quạt điện dân dụng giảm 50,2%,…). Riêng lắp ráp xe máy giảm mạnh vào các tháng cuối năm một phần do yêu cầu đối với các doanh nghiệp lắp ráp xe máy là phải có tỷ lệ nội địa hoá theo qui định nên một số doanh nghiệp không đủ điều kiện phải chờ chuyển đổi hình thức kinh doanh. Ngoài ra, trên thị trường nhu cầu xe máy gần như bão hoà, tiêu thụ chậm buộc các doanh nghiệp phải giảm mức sản xuất. Ngành da giầy, may mặc còn gặp khó khăn về thị trường gia công xuất khẩu nên sản xuất vẫn cầm chừng hoặc tăng không đáng kể. Sản xuất phân bón giảm gần 30% và cả năm giảm 11,5% do chưa có thị trường tiêu thụ, tồn kho trên 30 vạn tấn, gần bằng 30% sản lượng sản xuất cả năm.
Tuy nhiên, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có dấu hiệu tăng cao trở lại như: Chế biến thuỷ sản tăng 24,2%; vải lụa tăng 17,1%; sản xuất động cơ có nhịp độ tăng cao hơn các tháng trước (Động cơ diezen tăng 102,3%, động cơ điện tăng 33,9%); xà phòng tăng 41%. Nhờ sản xuất kinh doanh của những ngành có tỷ trọng lớn vẫn ổn định, nhất là sản xuất điện, xi măng, chế biến các sản phẩm sữa… và nhiều sản phẩm phục hồi được mức tăng cao trở lại như kể trên đã bù đắp cho một số ngành giảm lớn (Chủ yếu là khai thác dầu thô) nên sản xuất công nghiệp tháng 12 không sụt giảm nhiều về nhịp độ tăng trưởng.
Mặc dù tháng 12 và quí IV tốc độ tăng trưởng không cao như các tháng và các quí trước, nhưng ước tính cả năm 2001 toàn ngành công nghiệp vẫn tăng 14,2% so với năm 2000. Trong đó: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,7%, chủ yếu do ảnh hưởng của các ngành dệt may, da giày, đường mật, phân bón có mức tăng trưởng chậm hoặc suy giảm làm cho khu vực này tăng thấp hơn mức bình quân chung. Khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,3% do chủ trương khuyến khích của Chính phủ trong việc phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh qui mô vừa và nhỏ. Trong năm 2001, hàng nghìn doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và công ty cổ phần) thành lập mới đã đi vào sản xuất. Ngoài ra, trong năm 2001 khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh còn có thêm hàng vạn cơ sở cá thể ra đời kinh doanh đủ mọi ngành nghề ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,1%, thấp hơn so với khu vực kinh tế trong nước và là năm có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong những năm gần đây. Nguyên nhân chính là do sản lượng dầu thô khai thác giảm mạnh ở tháng 12 và cả năm chỉ tăng 2,8%.
Đối với các sản phẩm, ngoài sản lượng dầu thô còn có một số sản phẩm khác tăng chậm hoặc bị giảm sút như hàng dệt may chỉ tăng 3,6-6,3%; da giày tăng 1,9%; thuốc chữa bệnh tăng 2,8-4,5%; bia tăng 4,8%; đường mật giảm 12,5%; phân bón giảm 11,5%; xe máy giảm 0,5%. Nhưng ngược lại, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn duy trì được nhịp độ tăng cao và ổn định như: Điện phát ra tăng 15%; thuỷ sản chế biến tăng 25,8%; xi măng tăng 15,6%; thép cán tăng 20,4%; chế tạo cơ khí tăng 9-40% (Máy công cụ tăng 39,2%; động cơ điện tăng 18%; động cơ điêzen tăng 23,5%; máy biến thế tăng 27,7%; cấu kiện dầm thép tăng 28%…). Một số mặt hàng những năm trước gặp khó khăn, năm nay đã phục hồi và đạt mức tăng cao như: Ô tô lắp ráp tăng 41%; xe đạp gấp 4,7 lần; ti vi lắp ráp tăng 14,4%; quạt điện dân dụng tăng 17,9%; bột giặt tăng 33,7%; săm lốp ô tô, xe đạp tăng 15-35%. Nhiều mặt hàng gia dụng mẫu mã được cải tiến, chất lượng sản phẩm được nâng lên nên đã mở rộng được thị phần trên thị trường trong nước, thậm chí còn vươn ra xuất khẩu như: Đồ nhựa gia dụng, bàn ghế, giường tủ, đồ gỗ cao cấp và một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác của các làng nghề gốm sứ, sơn mài, trạm trổ.

4. Đầu tư và xây dựng.
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung thuộc ngân sách Nhà nước cả năm ước tính đạt 26 nghìn tỷ đồng, bằng 108,1% kế hoạch năm, trong đó trung ương 17,2 nghìn tỷ đồng, bằng 112%; địa phương 8,8 nghìn tỷ đồng, bằng 101,3%. Nếu so với năm 2000 thì khối lượng thực hiện bằng nguồn vốn này tăng 36,9% (Tăng gần 8 nghìn tỷ).
Trong năm, ngành điện đã hoàn thành và hoà vào lưới điện quốc gia 1475 MW, trong đó chủ yếu là công suất mới tăng của các nhà máy thuỷ điện Yaly, Hàm Thuận, Đa Mi; nhiệt điện Phú Mỹ I và tổ I nhà máy nhiệt điện Phả Lại II; hoàn thành 544 km đường dây 220KV; 345 km đường dây 100 KV và nhiều trạm biến thế với tổng công suất là 1400 MVA.
Ngành giao thông vận tải hoàn thành nhiều công trình quan trọng, trong đó có tuyến đường Hà Nội-Lạng Sơn, Vinh- Đông Hà, Thường Tín- Cầu Giẽ, Biểu Nghi- Bãi Cháy; cầu vượt nam Chương Dương và đưa vào sử dụng nhiều cầu đường bộ và cầu đường sắt (Cầu Sông Phan, Phú Quới, Lộc Hà, Ngân Sơn, Thạch Hãn, Sư Lỗ, Lăng Cô, Tam Kỳ, Phả Lại, Hoà Bình, Đại Yên, Long Xuyên…). Khánh thành cảng Cần Thơ, cảng Vũng Áng và hoàn thành giai đoạn I nhà ga T1 sân bay Nội Bài. Ngoài ra, ngành nông nghiệp còn đắp được 2,4 triệu m3 đê và kiên cố hoá 8000 km kênh mương; ngành văn hoá thông tin đưa vào sử dụng đài thông tin duyên hải phía Bắc và 1500 điểm cơ sở bưu điện văn hoá xã; ngành giáo dục đã xây dựng mới trên 1 vạn phòng học phổ thông; ngành y tế tăng thêm 5000 giường bệnh.
Chương trình xoá cầu khỉ do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đảm nhận kết thúc giai đoạn I đã hoàn thành được 395 cầu thép mạ kẽm tại 219 xã vùng sâu, vùng xa của 6 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với tổng số vốn 60 tỷ đồng. Thu phí cầu Mỹ Thuận trong năm cũng hỗ trợ 24,8 tỷ đồng, cùng với 64 tỷ đồng huy động của nhân dân đã xoá thêm được 506 cầu khỉ với tổng chiều dài 13376 m. Tính chung, năm 2001 cả nước đã huy động được 3500 tỷ đồng và gần 50 triệu ngày công vào việc xây dựng giao thông nông thôn, trong đó nhân dân đóng góp 1500 tỷ đồng, ngân sách địa phương 815 tỷ đồng; ngân sách trung ương hỗ trợ 100 tỷ đồng. Bằng nguồn vốn này, năm 2001 đã xây dựng mới 2200 km đường và 5698 cầu trên các tuyến hương lộ với tổng chiều dài 76100 m. Ngoài ra, cũng bằng phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong năm còn nâng cấp và sửa chữa trên 30,5 nghìn km đường liên huyện, liên xã.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20 tháng 12 năm 2001 đã cấp giấy phép cho 458 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 2191,9 triệu USD, tăng 29% về số dự án và tăng 12% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Các dự án được cấp giấy phép tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 365 dự án và 1813,4 triệu USD, chiếm 79,7% về số dự án và 82,7% về số vốn đăng ký. Trong số các dự án được cấp giấy phép năm nay có một số dự án tương đối lớn như: Dự án BOT nhà máy điện Phú Mỹ III, công suất 716,8 MW với số vốn đăng ký 412,9 triệu USD; dự án xây dựng mạng điện thoại di động theo công nghệ CDMA 230 triệu USD; dự án chế biến nông sản thành phố Hồ Chí Minh của Công ty TNHH Metro Cash &Cary Việt Nam 120 triệu USD; dự án máy in phun của Công ty TNHH CANON Việt Nam 76,7 triệu USD; dự án sản xuất mạch dẻo dùng trong sản xuất máy vi tính và các sản phẩm điện tử tại khu công nghiệp Thăng Long 35 triệu USD; dự án sản xuất cấu kiện bê tông của Công ty TNHH Neue Jadewerft 30 triệu USD…
Các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép tập trung chủ yếu ở các tỉnh và thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ:Thành phố Hồ Chí Minh 161 dự án với số vốn đăng ký 527,6 triệu USD; Bình Dương 106 dự án với 167,3 triệu USD; Đồng Nai 44 dự án với 186,7 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu 4 dự án với 834,8 triệu USD. Khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc có 61 dự án với 214,3 triệu USD, so với cả nước chỉ chiếm 13,3% về số dự án và 9,8% về vốn đăng ký, trong đó Hà Nội có 36 dự án với số vốn đăng ký 165,2 triệu USD; Hải Phòng 10 dự án và 13,1 triệu USD.
Trong số các đối tác đầu tư, Hà Lan tuy chỉ có 4 dự án nhưng vốn đăng ký lớn nhất với 573,8 triệu USD, chiếm 27,7% tổng số. Tiếp đến là Pháp 10 dự án với vốn đăng ký 407,2 triệu USD; Singapore 19 dự án với 270,8 triệu USD; Đài Loan 127 dự án với 197,8 triệu USD; Nhật Bản 37 dự án với 160,5 triệu USD; Mỹ 23 dự án với 112,2 triệu USD…

Trong đầu tư và xây dựng hiện nay nổi lên một số khó khăn lớn là: (1) Tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, nhất là giải phóng mặt bằng cho các công trình giao thông và các công trình ở các thành phố lớn đã làm ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo tiến độ thi công các công trình; (2) Một số địa phương xây dựng doanh nghiệp mới nhưng chưa bám sát vào quy hoạch tổng thể của các bộ ngành, không những gây trở ngại lớn cho việc quản lý ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ, mà còn gây lãng phí lớn do sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhưng thiếu thị trường tiêu thụ. Ngoài xi măng lò đứng, bia còn có thêm các sản phẩm khác như gạch ốp lát ceramic và granite cũng đang trong tình trạng thừa công suất (Tổng công suất của các cơ sở sản xuất gạch ốp lát của cả nước là 100 triệu m2/năm, nhưng năm 2001 chỉ huy động được 68% công suất. Riêng các cơ sở gạch ốp lát do địa phương quản lý năm 2001 sản xuất 7865 nghìn m2 nhưng hiện đang tồn kho 2060 nghìn m2, bằng 26,2% mức sản xuất trong năm).
5. Vận tải và bưu chính, viễn thông.

Vận chuyển hành khách năm 2001 ước tính đạt 844,2 triệu lượt hành khách và gần 28,9 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,7% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 145,8 triệu tấn và 44,1 tỷ tấn.km, tăng 6,3% về tấn và 9,6% về tấn.km.
Hoạt động vận tải nhìn chung đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đi lại của dân cư, nhưng chất lượng phục vụ còn hạn chế. Đáng lo ngại nhất là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp nhưng tai nạn giao thông vẫn tiếp tục gia tăng. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, đến hết tháng 11 năm 2001 trên phạm vi cả nước đã xảy ra 24198 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9550 người và làm bị thương 26973 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 3230 vụ, số người chết tăng 2241 người, số người bị thương tăng 3838 người. Tai nạn giao thông xảy ra trên đường bộ chiếm 97,2% số vụ, 96,3% số người chết và 99,2% số người bị thương. Phương tiện gây ra tai nạn giao thông chủ yếu là xe máy, chiếm 70% số vụ tai nạn trong năm.
Một trong những nguyên nhân làm cho tai nạn giao thông tăng nhanh là trong khi hệ thống giao thông chưa đồng bộ, nhiều nơi chất lượng đường thấp; người sử dụng phương tiện chưa được huấn luyện đầy đủ về kỹ năng điều khiển phương tiện và chưa nắm vững luật giao thông mà số phương tiện giao thông lại tăng lên nhanh chóng. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2001 đã đăng ký mới cho 33,6 nghìn ô tô và gần 1,4 triệu xe máy, đưa tổng số ô tô đang lưu hành trong cả nước lên trên 520,2 nghìn chiếc; số xe máy có đăng ký lên gần 7,8 triệu chiếc.
Hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh. Năm 2001 số máy điện thoại thuê bao tăng thêm trên 1 triệu chiếc, đạt 104% kế hoạch năm và tăng 22% so với năm 2000, đưa tổng số máy điện thoại của cả nước lên trên 4 triệu máy; đăng ký sử dụng internet thêm 40680 thuê bao, đạt 100% kế hoạch và tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu năm 2001 của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông ước tính đạt 15385 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch năm và tăng 17% so năm 2000.
6. Thương mại và du lịch.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2001 ước tính đạt 238 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với năm 2000, trong đó kinh tế Nhà nước 42 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,7% và tăng 5,5%; kinh tế cá thể 157 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,9% và tăng 6,7%; kinh tế tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 39 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,4% và tăng 20,6%; kinh doanh thương nghiệp tăng 9,4%; khách sạn, nhà hàng tăng 11,5%; dịch vụ tăng 10%; du lịch lữ hành tăng 16,8%; cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ giảm 4,1%.

Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 ước tính đạt 15,1 tỷ USD, tăng 4,5% so với năm 2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 8352 triệu USD, tăng 9,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 6748 triệu USD, giảm 0,9%. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm nay thấp hơn tốc độ tăng 25,2% của năm 2000 chủ yếu do giá xuất khẩu nhiều mặt hàng liên tục giảm hoặc ở mức thấp, bên cạnh đó sự suy giảm của một số nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản và sự kiện 11/9 tại Mỹ cũng đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu. Giá xuất khẩu giảm làm cho xuất khẩu cả năm bị thiệt hại trên 2 tỷ USD và dẫn đến nhiều mặt hàng tuy xuất khẩu về lượng tăng nhưng giá trị lại giảm so với năm 2000: Cà phê tăng 24% về lượng nhưng lại giảm 23,2% về giá trị; tương tự, dầu thô tăng 10,2% và giảm 9,3%; gạo tăng 2,1% và giảm 11,8%; cao su tăng 9,9% và giảm 2,9%; hạt tiêu tăng 51,6% và giảm 38,5%; chè tăng 3,4% và giảm 4,6%; lạc tăng 5,4% và giảm 4,7%. Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng cũng làm cho giá trị xuất khẩu hàng điện tử, máy tính giảm 22,7%; hàng thủ công mỹ nghệ chỉ bằng mức xuất khẩu năm 2000… Tuy nhiên, một số mặt hàng vẫn đạt giá trị xuất khẩu lớn và tăng so với năm 2000 như: Hàng thủy sản đạt 1,8 tỷ USD và tăng 21,7%; dệt may 2 tỷ USD, tăng 5,7%; giày dép 1,5 tỷ USD, tăng 3,8%; rau quả 305 triệu USD, tăng 42,9%.
Kim ngạch nhập khẩu cả năm ước tính đạt 16 tỷ USD, tăng 2,3% so với năm 2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 11241 triệu USD, giảm 0,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4759 triệu USD, tăng 9,3%. Kim ngạch nhập khẩu năm nay tăng thấp một phần cũng do giá nhập khẩu giảm nên nhiều mặt hàng nhập khẩu tuy tăng về lượng nhưng trị giá vẫn giảm sút, đơn cử như xăng dầu nhập khẩu tăng 3,7% về lượng nhưng trị giá lại giảm 9,1%. Những mặt hàng nhập khẩu năm nay đạt tốc độ tăng trưởng cao cả về lượng và giá trị so với năm 2000 là: Sắt thép tăng 32,6% về lượng và tăng 15% về giá trị; bông tăng 35,9% và tăng 31,6%; giá trị nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 13%; hoá chất tăng 12%; sản phẩm hoá chất tăng 19,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 5,2%. Nhập siêu cả năm 900 triệu USD, bằng 6% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2889 triệu USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1989 triệu USD.

Khách quốc tế đến nước ta năm nay ước tính đạt trên 2,3 triệu lượt người, tăng 9,1% so với năm 2000, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1,3 triệu lượt người, tăng 15,8%; vì công việc 440 nghìn lượt người, tăng 4,8%; thăm thân nhân 479 nghìn lượt người, tăng 19,7%; mục đích khác 93 nghìn lượt người, giảm 48,5%. Đây là năm thứ 2 liên tiếp, khách quốc tế đến nước ta đạt trên 2 triệu lượt người. Một số nước có lượng khách đến nước ta lớn là: CHND Trung Hoa 676 nghìn lượt người, chiếm 29% tổng số khách; Mỹ 230 nghìn lượt người, chiếm 9,9%; Nhật Bản 205 nghìn lượt người, chiếm 8,8%; Đài Loan 200 nghìn lượt người, chiếm 8,6%…
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư.

Dân số trung bình năm 2001 của nước ta là 78685,8 nghìn người, tăng 1050,4 nghìn người so với dân số trung bình năm 2000, trong đó dân số thành thị 19481 nghìn người, chiếm 24,76%; dân số nông thôn 59204,8 nghìn người, chiếm 75,24%; nam 38684,2 nghìn người, chiếm 49,2%; nữ 40001,6 nghìn người chiếm 50,8%. Tính ra, dân số trung bình năm 2001 tăng 1,35% so với năm 2000, trong đó thành thị tăng 3,59%; nông thôn tăng 0,64%.

Sở dĩ chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình những năm vừa qua đạt kết quả khá một phần là do tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biên pháp tránh thai tương đối cao và không ngừng tăng lên. Theo số liệu điều tra biến động DS-KHHGĐ các năm thì tỷ lệ này đã tăng từ 68,3% năm 1996 lên 70,1% năm 1997; 71,9% năm 1998; 72,7% năm 2000 và 73,9% năm 2001.
Kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động và việc làm 1/7/2001 cho thấy, tổng dân số hoạt động kinh tế từ đủ 15 tuổi trở lên của nước ta là 39489 nghìn người, trong đó 19984 nghìn nam, chiếm 50,6% và 19505 nghìn nữ, chiếm 49,4%. Để giải quyết việc làm cho người lao động, trong năm 2001 các địa phương đã sắp xếp chỗ làm mới tại khu vực thành thị cho 456 nghìn lao động, trong đó 353 nghìn người có việc làm ổn định. Ngoài ra, trong năm còn có 19,2 nghìn hộ với 91 nghìn nhân khẩu và 45,2 nghìn lao động đi xây dựng kinh tế mới. Mặc dù vậy, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn đặt ra bức xúc. Cũng theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động và việc làm 1/7/2001 thì thất nghiệp của lao động khu vực thành thị từ đủ 15 tuổi trở lên là 6,13% và của lao động trong độ tuổi là 6,28%; tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng của lao động khu vực nông thôn từ đủ 15 tuổi trở lên là 74,37% và của lao động trong độ tuổi lao động là 74,26%.
Do sản xuất phát triển, giá cả ổn định và việc điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 180 nghìn đồng lên 210 nghìn đồng theo Nghị định số 77/CP ngày 15/12/2000 của Chính phủ đã được thực hiện xong từ tháng 5/2001 cùng với việc triển khai nhiều chương trình xoá đói giảm nghèo nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp duy trì và phát triển được sản xuất nên có thêm điều kiện tăng lương và các khoản thu nhập ngoài lương cho người lao động. Do vậy, ước tính thu nhập bình quân mỗi tháng năm 2001 của một lao động trong khu vực Nhà nước đạt 889,6 nghìn đồng, trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1156,4 nghìn đồng/người/tháng; lao động địa phương quản lý đạt 698,4 nghìn đồng/người/tháng. Năm ngành có mức thu nhập bình quân mỗi tháng trên 1 triệu đồng là: Công nghiệp khai thác 1565,4 nghìn đồng; điện nước 1576 nghìn đồng; giao thông vận tải 1478,2 nghìn đồng; tín dụng 1413,1 nghìn đồng và tư vấn đầu tư 1496,1 nghìn đồng.
Chương trình xoá đói giảm nghèo năm 2001 đã được ngân sách cấp 1870 tỷ đồng, trong dó ngân sách trung ương 1570 tỷ đồng, ngân sách địa phương 300 tỷ đồng. Từ nguồn vốn này đã xây dựng được 3968 công trình kết cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn; đào tạo 25 nghìn lượt cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo; định canh định cư cho 37 nghìn lượt hộ. Ngoài ra, ngân hàng người nghèo còn tổ chức cho 780 nghìn lượt hộ vay vốn phát triển sản xuất.
Ở nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt tuy vẫn xảy ra nhưng quy mô nhỏ và giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Thiếu đói giáp hạt cộng dồn các tháng trong năm 2001 chỉ có gần 1688,3 nghìn lượt hộ với 7992,2 nghìn lượt nhân khẩu, giảm 15,8% về số lượt hộ và giảm 14,3% về số lượt nhân khẩu so với năm 2000. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, trong năm các địa phương đã huy động được nhiều nguồn trợ giúp với tổng số tiền 20,6 tỷ đồng và 10244 tấn lương thực.
Tuy nhiên, đời sống của một bộ phận dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng bị lũ lụt và lao động ở những cơ sở sản xuất kinh doanh kém hiệu quả thì vẫn còn nhiều khó khăn. Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thì hiện nay có gần 100 nông, lâm trường thu nhập của công nhân viên chức thấp hơn mức lương tối thiểu. Tính chung, thu nhập bình quân 1 lao động ở các nông trường chỉ đạt 378 nghìn đồng/người/tháng; của các lâm trường 300 nghìn đồng/người/tháng. Riêng lâm trường quản lý rừng phòng hộ 220-250 nghìn đồng/người/tháng.
2. Văn hoá, thể thao.
Công tác văn hoá thông tin trong năm 2001 tập trung vào các hoạt động chào mừng những ngày lễ lớn, đặc biệt là chào mừng thành công của Đại hội Đảng lần thứ IX và Quốc khánh 2/9, tạo nên đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa rộng khắp. Liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc “Mùa xuân dâng Đảng” đã thu hút gần 500 diễn viên quần chúng của 14 đơn vị trong cả nước biểu diễn các tác phẩm sân khấu về đề tài cách mạng, ca ngợi những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhiều đoàn nghệ thuật đã đến vùng sâu, vùng xa phục vụ đồng bào như: Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam đi biểu diễn phục vụ đồng bào Tây Nguyên; Đoàn Ca múa nhạc nhẹ biểu diễn ở Quảng Ninh; Nhà hát Tuổi Trẻ biểu diễn tại Hoà Bình; Liên đoàn Xiếc Việt Nam diễn ở miền Trung… Các trung tâm văn hoá thể thao các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Giang, Lai Châu, Thái Nguyên cũng đã tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao phục vụ nhân dân địa phương, nhất là nhân dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào các dân tộc ít người. Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2001, Đoàn ca múa nhạc dân tộc Yên Bái đã biểu diễn 79 buổi, trong đó 30 buổi phục vụ vùng cao; đoàn chèo biểu diễn 80 buổi, trong đó 15 buổi phục vụ vùng cao; Đoàn nghệ thuật Lạng Sơn biểu diễn 31 buổi, phục vụ 16,3 nghìn lượt người xem, trong đó có 9 buổi phục vụ vùng sâu, vùng xa; Đoàn chiếu phim lưu động Lai Châu cũng đã phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa 2739 buổi.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh trên toàn quốc. Những địa phương thực hiện tốt phong trào này là: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sơn La, Yên Bái, Hà Nam, Đà Nẵng, An Giang… Đến cuối tháng 11/2001 cả nước đã có 97856 khu dân cư triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, trong đó có 23551 khu được công nhận đạt danh hiệu khu dân cư tiên tiến xuất sắc.
Về xuất bản, năm 2001 đã xuất bản được 600 triệu bản báo và 270 triệu bản sách, trong đó 155 triệu bản sách giáo khoa. Tổng số phim các loại sản xuất được 150 bộ, riêng phim sản xuất theo đơn đặt hàng 10 bộ, đạt 90% kế hoạch. Công tác phát thanh và truyền hình phát triển mạnh, trong năm 2001 đã phát sóng truyền thanh được 245199 giờ, đạt 101,5% kế hoạch năm và tăng 2,7% so với năm trước; phát sóng truyền hình được 25810 giờ, đạt 106,2% kế hoạch năm, trong đó trên 14960 giờ phát sóng quốc gia.
Công tác thanh tra văn hoá và phòng chống tệ nạn xã hội cũng được các cấp, các ngành triển khai tích cực. Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2001 đã đưa 27251 đối tượng nghiện hút đi cai nghiện, trong đó 4227 đối tượng được chữa trị. Ngoài ra, còn truy quét 1308 vụ mại dâm, bắt giữ 5701 đối tượng, trong đó 1145 chủ chứa, 3577 gái mại dâm, 979 người mua dâm.
Hoạt động thể dục, thể thao trong năm diễn ra sôi động, đều khắp trên phạm vi cả nước và thu được một số kết quả quan trọng, đặc biệt là kết quả tham dự SEA GAME 21 tại Malaysia. Tham gia SEA GAME lần này, đoàn Việt Nam có 692 vận động viên, huấn luyện viên và cán bộ quản lý. Đoàn thể thao nước ta đoạt 134 huy chương, trong đó 33 huy chương vàng. Tuy số huy chương vàng không đạt được mục tiêu đề ra ban đầu, nhưng chúng ta đã vượt qua Philippin để đứng vào hàng thứ tư trong bảng tổng sắp.

3. Giáo dục.
Thi tốt nghiệp phổ thông các cấp năm học 2000-2001 đã được tiến hành trên phạm vi cả nước với kết quả đạt được như sau: Cấp tiểu học có 1918,2 nghìn học sinh dự thi với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,26%; trung học cơ sở 1175,8 nghìn học sinh dự thi, tỷ lệ tốt nghiệp 95,24%; trung học phổ thông 649,2 nghìn học sinh dự thi, tỷ lệ tốt nghiệp 93,32%. Cũng trong năm học này, cả nước có 1307 học sinh trung học phổ thông đạt danh hiệu giỏi quốc gia và quốc tế, tăng 83 học sinh so với năm học trước, trong đó có 29 học sinh đoạt giải trong các kỳ thi quốc tế ở các môn toán, tin học, vật lý, hoá học, sinh học và tiếng Nga
Khai giảng năm học 2001-2002 cả nước đã có khoảng 2,6 triệu trẻ em đến các lớp mầm non, tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước; 9,3 triệu học sinh tiểu học, giảm 4,5%; 6,3 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 5,7% và trên 2,3 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 6,1%. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, ngành Giáo dục đã tăng cường đầu tư tăng số phòng học và số giáo viên giảng dạy. Đến nay cả nước đã có 352,2 nghìn phòng học phổ thông, tăng 4,1% so với năm trước. Tuy nhiên, các trường phổ thông vẫn còn phải sử dụng 1297 phòng học 3 ca, trong đó tiểu học 1078 phòng; trung học cơ sở 103 phòng; trung học phổ thông 116 phòng. Số giáo viên phổ thông tiểu học năm học 2001-2002 đã có 353,8 nghìn người, tăng 1,72% so với năm học trước; trung học cơ sở 243,1 nghìn người, tăng 8,19%; trung học phổ thông 81,5 nghìn người, tăng 9,92%. Tuy nhiên, so với qui định thì vẫn còn thiếu 70,1 nghìn người, trong đó giáo viên tiểu học thiếu 8,5 nghìn người; trung học cơ sở thiếu 41,2 nghìn người; trung học phổ thông thiếu 20,4 nghìn người.
Việc thực hiện chương trình phổ cập giáo dục quốc gia cũng đang được các địa phương tiếp tục triển khai tích cực. Những địa phương đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến nay, tất cả 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, trong đó có 10 tỉnh được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Đà Nẵng, Hải Dương, Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên và Hải Phòng. Ngoài ra, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hà Tây, Đà Nẵng và sắp tới còn có thêm Hưng Yên, Tuyên Quang sẽ được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở.
Đào tạo đại học và cao đẳng cũng có những chuyển biến tích cực. Theo báo cáo sơ bộ, năm học 2000-2001 cả nước có 170 nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng, tăng 4,63% so với năm học trước, trong đó đại học 123 nghìn sinh viên, tăng 5,23%; cao đẳng 47 nghìn sinh viên, tăng 3,1%. Năm học 2001-2002 đã tuyển thêm 225 nghìn sinh viên, tăng 4,75% so với năm học trước, trong đó đại học 158 nghìn sinh viên, tăng 1,68%; cao đẳng 67 nghìn sinh viên, tăng 12,81%.
4. Y tế.
Ngành Y tế năm nay đã triển khai nhiều biện pháp phòng chống dịch bệnh nên nhìn chung các bệnh gây dịch có xu hướng giảm so với năm trước. Bệnh thương hàn chỉ có 8648 lượt người mắc, giảm 13%; sốt rét 242018 lượt người mắc, giảm 2,3%. Riêng nhiễm HIV/AIDS vẫn có xu hướng gia tăng. Tính từ trường hợp đầu tiên được phát hiện, đến ngày 18/12/2001 cả nước đã có 42976 người nhiễm HIV, trong đó 6398 bệnh nhân AIDS (Trong số này đã có 3519 người bị chết).
5. Thiệt hại thiên tai.
Trong năm 2001, lụt bão và các thiên tai khác đã xảy ra ở 52 tỉnh, thành phố, trong đó một số địa phương bị thiên tai nhiều lần đã tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, thiệt hại do thiên tai gây ra năm nay thấp hơn nhiều so với năm trước, một mặt do mức độ tàn phá của lụt, bão yếu hơn, nhưng mặt khác do công tác phòng chống thiên tai được triển khai một cách chủ động, tích cực. Tính chung, thiên tai năm 2001 đã làm 560 người chết; 395 người bị thương; tổng giá trị vật chất thiệt hại trên 3,3 nghìn tỷ đồng, nhưng chỉ bằng 68% năm trước.
Tóm lại, mặc dù một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội năm 2001 không đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra đầu năm, nhưng nhìn chung đều tăng cao so với năm 2000. Tổng sản phẩm trong nước tăng 6,8%, cao hơn 0,1% so với mức tăng trưởng năm trước; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,1%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,2%. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và tiêu dùng đều bằng hoặc vượt trội mức sản xuất của các năm trước: Sản lượng lương thực có hạt đạt 34 triệu tấn, không những bảo đảm đủ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu được gần 3,6 triệu tấn gạo; sản lượng điện tăng 15%; dầu thô tăng 2,8%; thép cán tăng 20,4%; xi măng tăng 15,6%; giấy bìa tăng 4,7%; vải lụa tăng 6,3%. Tuy giá cả trên thị trường thế giới bị giảm sút mạnh, nhất là giá những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm vẫn đạt 15,1 tỷ USD, tăng 4,5% so với năm 2000. Nhiều lĩnh vực xã hội cũng thu được kết quả tích cực: Thiếu đói giáp hạt và dịch bệnh đều giảm so với năm 2000; hoạt động văn hoá, giáo dục được tăng cường; an ninh xã hội được giữ vững. Những kết quả này sẽ tạo tiền đề vật chất và tinh thần góp phần khắc phục khó khăn và thách thức đang tồn tại và còn sẽ tiếp tục phát sinh nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kế hoạch năm 2002 mà Quốc hội vừa thông qua./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ