Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2000 sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn vì năm 2000 không chỉ là năm cuối của kế hoạch 5 năm 1996-2000 mà còn là năm tạo tiền đề vật chất và tinh thần để bước vào xây dựng và triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trung hạn và dài hạn tiếp theo, trong đó có kế hoạch 5 năm 2001-2005 và kế hoạch 10 năm 2001-2010. Do vậy Quốc hội đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội năm 2000 với 12 chỉ tiêu chủ yếu sau: (1) Tổng sản phẩm trong nước tăng 5,5-6,0%; (2) Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,5-4,0%; (3) Sản lượng lương thực quy thóc đạt 33,5-34,0 triệu tấn; (4) Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,5-11,0%; (5) Giá trị các ngành dịch vụ tăng 5,0-5,5%; (6) Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 11-12%; (7) Lạm phát khoảng 6%; (8) Bội chi ngân sách không vượt quá 5% GDP; (9) Tạo việc làm mới cho 1,2-1,3 triệu lao động; (10) Đào tạo nghề cho 780 nghìn người; (11) Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 11%; (12) Giảm tỷ lệ sinh 0,05%. Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nói trên, ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã tích cực triển khai 6 nhóm giải pháp chủ yếu sau:

– Phát huy mọi nguồn lực, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh;

– Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động văn hoá, giáo dục và các hoạt động xã hội khác trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách Nhà nước kết hợp với từng bước thực hiện xã hội hoá các hoạt động này;

– Thực hiện quan hệ đối ngoại rộng mở và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại;

– Củng cố quốc phòng, an ninh;

– Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước và coi đây là khâu đột phá để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2000;

– Tập trung khắc phục hậu quả lũ lụt ở miền Trung, có biện pháp chủ động phòng, chống thiên tai trong cả nước.

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên nên tình hình kinh tế – xã hội năm 2000 diễn biến theo chiều hướng tích cực, kết quả được biểu hiện bằng những số liệu thống kê định lượng dưới đây:

A- TÌNH HÌNH KINH TẾ

Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước năm 2000 tăng 6,7% so với năm 1999, trong đó quý I tăng 5,6%; quý II tăng 6,7%; quý III tăng 6,8% và ước tính quý IV tăng trên 7,0%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,0%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,1%; khu vực dịch vụ tăng 5,6%.

Tốc độ tăng trưởng năm 2000 của nền kinh tế không chỉ cao hơn tốc độ tăng 5,8% của năm 1998 và 4,8% của năm 1999, mà còn vượt mục tiêu kế hoạch đề ra đầu năm là tăng 5,5-6,0% và đứng vào hàng các nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao của khu vực (Theo Tạp chí ASIAWEEK, năm 2000 kinh tế Hàn Quốc có thể tăng 8,3%; Trung Quốc tăng 7,5%; Ấn Độ tăng 7,1%; Malaixia tăng 7,4%; Singapore tăng 6,5%; Thái Lan tăng 5,3%; Inđônêxia tăng 3,8%; Philippin tăng 3,4%). Điều này cho thấy, tuy nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều yếu tố chưa thật vững chắc, nhưng đã chặn được xu hướng giảm sút tốc độ tăng trưởng và đang xuất hiện dần những yếu tố mới, tạo tiền đề cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao và bền vững.

Sở dĩ nền kinh tế đạt được tốc độ tăng như trên là do hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước đều đạt những kết quả vượt trội.

Sản xuất nông nghiệp năm nay tiến hành trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp: Vùng núi phía Bắc bị hạn cục bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ bị lũ lớn và đặc biệt là lũ sớm với cường suất cao, kéo dài đã xảy ra ở hầu hết các tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long. Nhưng nhờ có sự chỉ đạo và điều hành sát sao của Chính phủ, sự hỗ trợ kịp thời của các ngành và các địa phương trong cả nước cũng như tinh thần tự lực, tự cường vượt qua khó khăn của các cấp, các ngành và nhân dân vùng lũ lụt nên không những đã giảm bớt được thiệt hại do thiên tai mà còn nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp. Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng vẫn tiếp tục đạt kết quả khá.

Vụ lúa đông xuân cả nước gieo cấy 3012,0 nghìn ha, tăng 4,3% so với vụ đông xuân trước, trong đó miền Bắc 1162,0 nghìn ha, tăng 3,6%; miền Nam 1850,0 nghìn ha, tăng 4,7%. Do chăm sóc tốt và sâu bệnh ít nên năng suất lúa bình quân đạt 51,7 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha so với vụ đông xuân trước và sản lượng đạt gần 15,6 triệu tấn, tăng 10,3% so với vụ đông xuân năm 1999, trong đó miền Bắc đạt 6,2 triệu tấn, tăng 11,8%; miền Nam đạt 9,4 triệu tấn, tăng 9,4%.

Vụ hè thu gieo cấy 2292,5 nghìn ha, giảm 48,7 nghìn ha so với vụ hè thu trước, trong đó Bắc Trung Bộ gieo cấy 146,9 nghìn ha, tăng 6,0 nghìn ha; các địa phương phía Nam gieo cấy 2145,6 nghìn ha, giảm 54,7 nghìn ha, chủ yếu do lũ sớm làm một số tỉnh đầu nguồn đồng bằng sông Cửu Long không gieo cấy được hết diện tích.

Lũ lụt cũng đã làm 40 nghìn ha lúa hè thu của các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang bị mất trắng và hàng trăm nghìn ha khác phải gặt ép chạy lũ nên năng suất lúa hè thu của các địa phương này đã giảm tương đối lớn so với vụ hè thu 1999 (Long An giảm 3,9 tạ/ha; Đồng Tháp giảm 5,6 tạ/ha; Tiền Giang giảm 2,2 tạ/ha). Riêng vùng bán đảo Cà Mau nhờ kết quả của chương trình ngọt hoá nên vụ hè thu này không những tăng thêm 50 nghìn ha diện tích gieo cấy mà năng suất cũng tăng lên đáng kể: Kiên Giang tăng 3,0 tạ/ha; Cà Mau tăng 3,4 tạ/ha; Bạc Liêu tăng 2,6 tạ/ha; Trà Vinh tăng 2,0 tạ/ha.

Tính chung năng suất lúa hè thu năm nay của cả nước đạt 37,6 tạ/ha và sản lượng đạt trên 8,6 triệu tấn, giảm 15 vạn tấn so với vụ hè thu trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long đạt gần 7,0 triệu tấn, giảm 20 vạn tấn.

Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước ước tính đạt 2350,4 nghìn ha, giảm 73,0 nghìn ha so với vụ mùa trước, chủ yếu do nhiều địa phương đồng bằng sông Cửu Long đã chuyển diện tích lúa mùa năng suất thấp sang gieo xạ lúa đông xuân. Năng suất lúa mùa năm nay ước tính đạt 35,7 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha so với vụ mùa trước và sản lượng ước tính đạt khoảng 8,4 triệu tấn, giảm 15 vạn tấn so với vụ mùa 1999.

Tính chung lại, sản lượng lúa cả ba vụ năm nay đạt gần 32,6 triệu tấn, tăng 1,2 triệu tấn so với 1999. Nếu tính thêm 3,0 triệu tấn màu quy thóc thì tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2000 ước tính đạt 35,6 triệu tấn, tăng 1,4 triệu tấn so với năm 1999 và tiếp tục là năm có sản lượng cao nhất từ trước tới nay. Nếu tính theo quy định mới thì sản lượng lương thực có hạt (Bao gồm thóc, ngô và các loại cây lương thực có hạt khác) cả năm đạt 34,5 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với năm 1999.

Cùng với đẩy mạnh sản xuất lương thực, nhiều địa phương còn chú trọng gieo trồng và tăng cường đầu tư thâm canh cây công nghiệp, nhất là cây công nghiệp lâu năm. Do vậy năm nay nhiều loại cây công nghiệp lâu năm đã tăng cả về diện tích hiện có, diện tích cho sản phẩm và sản lượng thu hoạch. Tuy nhiên một số cây công nghiệp hàng năm lại bị giảm cả diện tích và sản lượng.

Ngành chăn nuôi năm nay cũng đạt kết quả cao hơn năm 1999. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi cả năm ước tính tăng 6,7%, trong đó giá trị gia súc và gia cầm tăng 6,6%; giá trị sản phẩm chăn nuôi không qua giết thịt tăng 8,2%. Theo báo cáo kết quả điều tra chăn nuôi 1/10/2000 của các địa phương, đàn trâu có 2,9 triệu con; đàn bò có 4,1 triệu con và đàn lợn có 20,2 triệu con.

Ngành thuỷ sản những năm gần đây không những tăng cường đầu tư cho nuôi trồng, khai thác và chế biến mà còn tích cực tìm thị trường xuất khẩu. Trong đầu tư, Nhà nước đã có chương trình đóng mới tàu có công suất lớn đánh bắt xa bờ và chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thuỷ sản. Nông dân vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng dã mạnh dạn đầu tư chuyển một phần diện tích trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản và phát triển mạnh nuôi cá bè. Riêng tỉnh An Giang đã đầu tư cho 676 hộ nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản 188,9 tỷ đồng bằng nguồn vốn tín dụng, trong đó 99,0 tỷ đồng đầu tư nuôi cá bè.

Nhờ những nỗ lực như trên nên giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2000 ước tính tăng 10,7% so với năm 1999; sản lượng thuỷ sản đạt trên 2,0 triệu tấn, tăng 7,0%; giá trị thuỷ sản chế biến tăng 33,2%; kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ước tính đạt gần 1,5 tỷ USD, tăng 51,9% so với năm 1999.

Sản xuất công nghiệp năm nay thường xuyên duy trì được mức tăng trưởng cao trong tất cả các tháng trong năm, đồng đều ở cả 3 khu vực: Nhà nước, ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Ước tính cả năm, giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp tăng 15,7% so với năm 1999, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,2% (Trung ương quản lý tăng 10,7%; địa phương quản lý tăng 15,1%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%. Như vậy, ngành công nghiệp đã khắc phục được khó khăn, đẩy mạnh sản xuất nên đã đạt tốc độ tăng cao nhất kể từ năm 1995 đến nay.
Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng và có giá trị lớn đã tăng với tốc độ khá so với năm 1999: Than tăng 12,4%; thép cán tăng 17,2%; xi măng tăng 27,3%; điện tăng 12,7%; giấy bìa tăng 10,2%; vải lụa tăng 17,5%; ô tô lắp ráp gấp 2,1 lần; xe máy lắp ráp tăng 65,4%; xe đạp tăng 50,2%; đường mật tăng 24,2%.

Sở dĩ sản xuất công nghiệp năm nay đạt tốc độ tăng trưởng cao là do:

– Các cấp, các ngành, các địa phương đã đẩy mạnh đầu tư mới, đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất cho cả 3 khu vực (Khu vực Nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh, khu vực có vốn ĐTNN). Đến nay các công trình đầu tư đã bắt đầu phát huy tác dụng và đi vào sản xuất ổn định, trong đó có các nhà máy sản xuất xi măng công suất tương đối lớn, sản xuất gạch ốp lát, sản xuất đường mật, sản xuất giày dép và hàng may mặc, nhất là may mặc xuất khẩu.

– Thị trường tiêu thụ ngoài nước của các mặt hàng may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ, rau quả, hải sản … được khôi phục và mở rộng, trong đó có thị trường xuất khẩu châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Thị trường trong nước tăng được sức mua do các biện pháp kích cầu của Nhà nước làm nhiều mặt hàng có mức tiêu thụ tăng, không tồn kho nhiều như những năm trước đây.

– Luật doanh nghiệp tuy mới được triển khai nhưng bước đầu đã phát huy tác dụng. Hàng vạn doanh nghiệp tư nhân, cơ sở sản xuất cá thể ra đời, giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động và góp phần đáng kể nâng cao mức sản xuất của nhiều ngành công nghiệp.

– Các doanh nghiệp được cổ phần hóa cũng đã mở rộng được sản xuất, ổn định việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, sản xuất công nghiệp năm 2000 cũng đã gặp một số khó khăn đó là: Sự cố tàu dầu trong các tháng 3, 4, 5 đã làm giảm sản lượng dầu thô khai thác; ngành cơ kim khí tiêu dùng vẫn gặp khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm; một số sản phẩm bằng nhựa, hoá mỹ phẩm, nước giải khát… thị trường trong nước gần như đã bão hoà, trong lúc chưa phát triển được thị trường xuất khẩu; hàng ngoại nhập lậu, giá rẻ đã cạnh tranh gay gắt với hàng nội vốn còn nhiều yếu kém như: Xe gắn máy, xe đạp, quạt điện, ti vi…

Đầu tư và xây dựng năm 2000 tiếp tục được tăng cường. Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cả năm ước tính thực hiện được 120,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% so với năm 1999, trong đó vốn Nhà nước chiếm 61,9%, vốn ngoài quốc doanh 19.5% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 18,6%. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội bằng 27,2% tổng sản phẩm trong nước, cao hơn tỷ lệ 26,3% của năm 1999.

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung thuộc Ngân sách Nhà nước đạt gần 19,0 nghìn tỷ đồng, đạt 98,5% kế hoạch năm, trong đó trung ương quản lý đạt 97,6%, địa phương quản lý đạt 100,4%. Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung thuộc Ngân sách Nhà nước không hoàn thành kế hoạch chủ yếu do dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh chỉ đạt 806 tỷ đồng so với 1500 tỷ đồng kế hoạch giao.

Trong năm 2000 có 180 công trình, dự án nhóm A và B đã hoàn thành, trong đó có 2 tổ máy của thuỷ điện Yaly, 2 tổ máy của thuỷ điện sông Hinh và 3 tổ máy của nhà máy tuốc bin khí Phú Mỹ với tổng công suất 1069 MW; cầu Mỹ Thuận (1499 m); cầu Hoàng Long (370,7 m); cầu Quán Hầu (548 m); cải tạo 1600 m cầu cảng; đắp 2,5 triệu m3 đê; trồng 21,8 vạn ha rừng tập trung; nhà máy phân lân Ninh Bình (20 vạn tấn/năm); dây truyền sản xuất quạt điện của công ty Cơ khí Chính xác Hà Nội (40 vạn chiếc/năm); dây truyền giầy da Phú Lâm (70 vạn đôi/năm). Ngoài ra, còn khởi công được nhiều công trình quan trọng như đường Hồ Chí Minh giai đoạn I, đường hầm đèo Hải Vân, cảng Cái Lân…

Chủ trương kiên cố hoá kênh mương, xây dựng giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo bước đầu đã đạt được hiệu qủa kinh tế – xã hội thiết thực. Riêng về phát triển giao thông nông thôn, theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong năm 2000 cả nước đã làm mới được 3554 km đường, nâng cấp 26750 km, xây mới 6176 chiếc cầu với tổng chiều dài 120 nghìn mét.

Mặc dù bị ảnh hưởng lớn của thiên tai và giá nhiên liệu tăng, nhưng ngành giao thông vận tải đã có nhiều cố gắng phục vụ sản xuất và đi lại của nhân dân. So với năm 1999, khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng 7,1%; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 8,6%. Hai chỉ tiêu tương ứng của vận chuyển hành khách tăng lần lượt là 4,6% và 5,2%.

Tuy nhiên, khó khăn, tồn tại của ngành giao thông vận tải vẫn còn nhiều, trong đó nổi lên là tình trạng ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn và tai nạn giao thông vẫn gia tăng. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, tính từ đầu năm đến hết tháng 11/2000 cả nước đã xẩy ra 20968 vụ tai nạn giao thông, làm 7129 người chết và làm 23135 người khác bị thương, trong đó tháng 11 xảy ra 2024 vụ, làm 656 người chết, 2258 người bị thương. Trong số 2024 vụ xẩy ra trong tháng 11/2000 thì riêng đường bộ đã chiếm 97,3% số vụ; 97,9% về số người chết và 99,0% về số người bị thương. Phân tích nguyên nhân của 1167 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng trong tháng 11/2000 cho thấy 77,4% số vụ do người lái và điều hành phương tiện gây ra; 13,0% do thiết bị không an toàn; 0,1% do cầu, đường và 19,3% do các nguyên nhân khác. Về phương tiện gây tai nạn, trong số 1097 vụ tai nạn giao thông đường bộ có 24% do ô tô gây ra; 68,7% do mô tô, xe máy và 7,2% do các phương tiện khác. Trong 1128 vụ tai nạn giao thông đường bộ thì có 49,3% vụ xẩy ra trên đường quốc lộ; 26,2% xẩy ra ở tỉnh lộ và chỉ có 5,8% xảy ra trên đường liên huyện, liên xã.
Hoạt động thương nghiệp, dịch vụ trong nước năm nay nhìn chung sôi động hơn năm trước. Sức mua của dân cư đã tăng so với 2 năm 1998 và 1999. Mặc dù năm nay một số tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nặng của lũ lụt song đã không xảy ra hiện tượng khan hiếm hoặc sốt về một mặt hàng nào, kể cả một số hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng… Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính cả năm 2000 đạt 219,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 1999, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 216,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 98,6%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 3,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,4%; kinh doanh thương nghiệp chiếm 70,7%; khách sạn, nhà hàng 12,2%; dịch vụ 4,9%; du lịch lữ hành 0,8% và các cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ 11,4%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2000 tăng 0,1% so với tháng trước, trong đó nhóm phương tiện vận tải và bưu điện giảm 0,1% ; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,7%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại không tăng hoặc chỉ tăng từ 0,1% đến 0,5%. Tính chung cả năm 2000, chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,6% so với tháng 12/1999, trong đó nhóm hàng lương thực, thực phẩm giảm 2,3% (Lương thực giảm 7,9%; thực phẩm giảm 0,7%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,7%; giáo dục và nhóm hàng hoá, dịch vụ khác tăng 4,1%; dược phẩm, y tế tăng 3,6%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,3%; phương tiện đi lại và bưu điện tăng 1,9%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng từ 0,3 đến 0,9%.

Hoạt động ngoại thương năm nay phát triển tương đối khá. Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm ước tính đạt 14308 triệu USD, tăng 24,0% so với năm 1999, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 7406 triệu USD, tăng 8,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 6902 triệu USD, tăng 47,4%. Kim ngạch xuất khẩu năm nay đạt mức tăng khá một phần do giá dầu thô trên thị trường thế giới liên tục ở mức cao. Bên cạnh đó, một số mặt hàng xuất khẩu khác cũng có mức tăng mạnh về trị giá: Hải sản tăng 51,9%; hàng điện tử và máy tính tăng 35,0%; hàng thủ công mỹ nghệ tăng 39,9%; rau quả tăng 95,2%. Ngoài ra năm nay còn có thêm nhiều sản phẩm mới xuất khẩu như sữa, sản phẩm gỗ, cơ khí. Riêng số mặt hàng mới này đã đóng góp 26,8% mức tăng trưởng.

Kim ngạch nhập khẩu năm 2000 ước tính đạt 15200 triệu USD, tăng 30,8% so với năm 1999, trong đó khu vực trong nước nhập khẩu 10856 triệu USD, tăng 31,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4344 triệu USD, tăng 28,4%. Kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu do giá của nhiều mặt hàng nhập khẩu trong năm tăng cao, nhất là giá xăng dầu. Ngoài ra còn có một số mặt hàng nhập khẩu khác tăng cả về lượng và giá trị như: Xe máy gấp 3,1 lần về lượng và tăng 76,9% về giá trị; ô tô tăng 70,8% và 72,3%; sắt thép tăng 17,5% và 30,9%; chất dẻo tăng 83,5% và 38,0%. Nhập siêu cả năm 892 triệu USD, bằng 6,2% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3450 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất siêu 2558 triệu USD.

Năm 2000 nước ta có nhiều sự kiện lớn như Giỗ tổ Hùng Vương, Kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, Festival Huế và nhiều hoạt động văn hoá, lễ hội truyền thống khác. Để tận dụng thời cơ và điều kiện này, ngành Du lịch đã có nhiều biện pháp phục vụ khách du lịch, nhất là thu hút khách du lịch nước ngoài. Nhờ vậy hoạt động du lịch năm nay có bước tiến đáng kể. Doanh thu của các đơn vị kinh doanh du lịch ước tính đạt 9 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với năm 1999. Lượng khách quốc tế vào nước ta đạt trên 2,1 triệu lượt người, trong đó khách quốc tế đến theo mục đích du lịch là 963 nghìn người; thương mại 404 nghìn người; thăm thân nhân 293 nghìn người và mục đích khác 476 nghìn người.

Do sản xuất kinh doanh phát triển nên thu ngân sách đạt khá. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2000 ước tính tăng 14,4% so với dự toán năm, trong đó thu trong nước (không kể dầu khí) tăng 13,6%; thu từ dầu khí tăng 52,8%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm 11,4%. Ước tính tổng chi ngân sách tăng 9,2% so với dự toán năm. Do số thu tăng nên ngân sách Nhà nước không những đảm bảo được các nhu cầu chi thường xuyên mà còn cấp phát chi cho đầu tư phát triển và chi trả nợ trong nước và ngoài nước với tỷ lệ khá cao. Do tăng thu và tiết kiệm chi nên bội chi ngân sách Nhà nước bằng 4,9% tổng sản phẩm trong nước, thấp hơn mục tiêu đã đề ra đầu năm là không vượt quá 5%.

Hoạt động ngân hàng cũng có những tiến bộ. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tổng thu tiền mặt qua ngân hàng năm 2000 ước tính tăng 20,8% so với năm 1999, trong đó thu bán hàng tăng 31,6%; thu tiền gửi tiết kiệm giảm 11,3%; thu bán ngoại tệ tăng 21%; thu nợ tăng 21,6%. Tổng chi tiền tệ qua ngân hàng cả năm ước tính tăng 19,1%, trong đó chi lương và có tính chất lương tăng 18,3%; chi thu mua hàng tăng 24,9% (Mua lương thực tăng 4,8%, mua hàng xuất khẩu tăng 103,7%); chi mua ngoại tệ tăng 7,6%; chi cho vay tăng 35,3%. Bội chi tiền mặt qua ngân hàng năm nay giảm 17,2% so với năm 1999.

Tổng số tiền gửi năm 2000 ước tính tăng 26,9% so với năm 1999, trong đó tiền gửi bằng nội tệ tăng 11,8%; tiền gửi bằng ngoại tệ tăng 57,4%. Tổng số dư cho vay năm 2000 ước tính tăng 25,7% so với năm 1999; trong đó cho vay ngắn hạn tăng 30,4%; cho vay trung và dài hạn tăng 27,8%. Tỷ lệ tổng số nợ xấu của năm 2000 (Gồm nợ quá hạn, các khoản nợ chờ xử lý và các khoản nợ khoanh) so với tổng số dư cho vay là 11,2%, giảm 2,5% so với tỷ lệ 13,7% của năm 1999.

B- CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Tính đến 1/7/2000, dân số nước ta là 77685,5 nghìn người, tăng 1089,0 nghìn người so với dân số trung bình năm 1999, trong đó dân số thành thị 18619,9 nghìn người, chiếm gần 24%; dân số nông thôn 59065,6 nghìn người, chiếm 76%; nam 38188,8 nghìn người, chiếm 49,2%; nữ 39496,7 nghìn người chiếm 50,8%.

Do mức sinh và chết của nước ta đã khá thấp nên sau một năm tỷ suất sinh giảm không nhiều. Số con bình quân trên một phụ nữ năm 1999 đã đạt mức 2,2 con, vì vậy mức sinh thay thế (2,1 con) có khả năng sẽ đạt được trong năm nay, sớm hơn khoảng 5 năm so với mục tiêu giảm sinh đã đề ra. Tuy nhiên ở một số vùng như Tây nguyên và Tây Bắc mức sinh vẫn còn tương đối cao.

Sở dĩ chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình những năm vừa qua đạt kết quả khá một phần là do tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biên pháp tránh thai tương đối cao và không ngừng tăng lên. Theo số liệu điều tra biến động DS-KHHGĐ các năm thì tỷ lệ này đã tăng từ 68,3% năm 1996 lên 70,1% năm 1997; 71,9% năm 1998 và 72,7% năm 2000.

Kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động việc làm năm 2000 cho thấy, tổng số lao động từ 13 tuổi trở lên của nước ta là 38883 nghìn người, trong đó 20037 nghìn nam, chiếm 51,5% và 18846 nghìn nữ, chiếm 48,5%. Riêng lực lượng lao động trong tuổi là 36169 nghìn người, chiếm 93,0% tổng số lao động từ 13 tuổi trở lên.

Thực hiện chủ chương xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước hầu hết các tỉnh, thành phố đều cố gắng tạo việc làm cho người lao động thông qua các hình thức cho vay vốn để giải quyết việc làm. Tuy nhiên tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn đặt ra bức xúc. Ước tính trong năm 2000, có khoảng 1447 nghìn người trong tuổi lao động không có việc làm, trong đó khu vực thành thị 692 nghìn người, chiếm 48%; nông thôn 755 nghìn người, chiếm 52%. Đối với khu vực nông thôn, ngoài số người không có việc làm thì nhiều người còn thiếu việc làm. Các cuộc điều tra lao động và việc làm tại thời điểm 1/7 hàng năm của những năm gần đây cho thấy lao động trong độ tuổi ở nông thôn thường chỉ sử dụng trên 70% thời gian lao động (Năm 1996 sử dụng 72,3%; 1997: 73,1%; 1998: 71,1%; 1999: 73,6%; 2000: 74.2%).

Về giáo dục, năm học 1999-2000 cả nước có 1761 nghìn học sinh phổ thông tốt nghiệp bậc tiểu học, đạt tỷ lệ 98,98%, cao hơn 0,27% so với năm học trước; 1092 nghìn học sinh tốt nghiệp bậc trung học cơ sở, đạt tỷ lệ 93,95%, cao hơn 2,21% so với năm học trước và 455 nghìn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, đạt tỷ lệ 87,5%, thấp hơn năm học trước 1,95%. Thi tốt nghiệp phổ thông trung học có 3 tỉnh đạt tỷ lệ dưới 70% là: Gia Lai 55,64%, Trà Vinh 69,54%, Bà Rịa-Vũng Tàu 69,56%. Cả nước có 1984 học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đạt loại giỏi và 1224 học sinh khác đạt danh hiệu giỏi quốc gia, quốc tế được tuyển thẳng vào đại học.

Khai giảng năm học 2000-2001, cả nước có 17867 nghìn học sinh phổ thông, tăng 0,34% so với năm học 1999-2000, trong đó học sinh cấp tiểu học giảm 3,1%; học sinh cấp trung học cơ sở tăng 2,6%; trung học phổ thông tăng 11,4%.

Năm học này số phòng học tăng 4,9% nên tỷ lệ số phòng phải sử dụng để học 3 ca đã giảm 26,3%. Tuy nhiên cả nước vẫn còn phải sử dụng trên 1000 phòng cho việc học 3 ca, trong đó phổ thông trung học 116 phòng, tăng 71 phòng so với năm học trước. Mặc dù năm học 2000-2001 số lượng giáo viên các cấp đã được tăng cường nhưng vẫn thiếu so với qui định, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa. Hiện nay cả nước có 347822 giáo viên cấp tiểu học, so với qui định còn thiếu 19600 người; giáo viên trung học cơ sở 224728 nguời, thiếu 43500 người; giáo viên trung học phổ thông 74189 người, còn thiếu 20763 người.

Đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật cũng có những chuyển biến tích cực. Theo báo cáo sơ bộ, năm học 1999-2000 cả nước có 137,1 nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng, tăng 20,3% so với năm học trước, trong đó tốt nghiệp hệ dài hạn là 90,0 nghìn người, tăng 22,4%; tốt nghiệp các trường trung học chuyên nghịêp 56,5 nghìn người, tăng 19,2%, trong đó tốt nghiệp hệ dài hạn là 45,0 nghìn người, tăng 20,6%. Học sinh tốt nghiệp các trường công nhân kỹ thuật tăng 10,1%.

Năm học 2000-2001, cả nước có 193,8 nghìn học sinh được tuyển vào các trường đại học và cao đẳng, giảm 1,57% so với năm trước, trong đó tuyển vào hệ dài hạn 150,7 nghìn người, tăng 2,8% và bằng 33,1% số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học. Tuyển sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp được107,2 nghìn người, tăng 16,4%, trong đó tuyển vào hệ dài hạn 80,0 nghìn người, tăng 13,7%. Tuyển mới đào tạo công nhân kỹ thuật tăng 12,4%. Do tuyển mới tăng nhanh nên đã nâng số lượng sinh viên đang học đại học và cao đẳng của cả nước lên đạt 783,2 nghìn người, tăng 5% so với năm trước; học sinh đang học trung học chuyên nghiệp 216,2 nghìn người, tăng 16,9%; học sinh đang học tại các trường đào tạo công nhân kỹ thuật là 180 nghìn người, tăng 4,3%.

Ngành Y tế năm nay đã triển khai nhiều biện pháp phòng chống dịch bệnh nên nhìn chung các bệnh gây dịch có xu hướng giảm cả về số ca mắc và số người chết so với năm trước. Số ca mắc tả giảm 11,78%; thương hàn giảm 37,51%; dịch hạch giảm 81,54%; sốt xuất huyết giảm 37,57%; sốt rét giảm 22,78%. Riêng nhiễm HIV/AIDS vẫn có xu hướng gia tăng. Từ đầu năm đến 20/11/2000, cả nước đã phát hiện thêm 10312 người nhiễm HIV, đưa tổng số người nhiễm HIV lên 27290 người, trong đó có 4433 bệnh nhân AIDS. Số người chết do AIDS từ đầu năm đến 20/11/2000 là 805 người, đưa tổng số người chết do AIDS lên 2.354 người.
Trong năm 2000, hoạt đông văn hóa, thể thao đã diễn ra sôi nổi. Các chương trình kỷ niệm các ngày lễ lớn như Giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng, Festival Huế, 55 năm thành lập nước, 990 năm Thăng Long – Hà Nội, 25 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Bác đã thành công tốt đẹp.

Tiếp tục triển khai Nghị quyết Trung ương 5, đến nay đã có 55/61 tỉnh, thành phố thành lập Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Công tác quản lý Nhà nước về phát hành ấn phẩm, văn hóa phẩm cũng được tăng cường. Trong năm qua, Thanh tra ngành Văn hóa kiểm tra 51138 lượt cơ sở, thu 141 nghìn đĩa CD, trên 40 tấn sách báo, tranh ảnh, văn hóa phẩm có nội dung xấu. Để tăng cường công tác quản lý trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đã cấp 5028 nghìn tem đĩa CD và Video; 49 giấy phép sản xuất; 108 giấy phép công diễn; 5465 thẻ hành nghề biểu diễn và duyệt 479 chương trình lưu diễn.

Phong trào thể dục thể thao quần chúng năm 2000 cũng đã được mở rộng và đi vào chiều sâu theo hướng xã hội hóa. Ngành Thể dục Thể thao đã phát động cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Tỷ lệ số người tham gia rèn luyện thân thể thường xuyên đạt 12% so với dân số. Hoạt độnggiáo dục thể chất và luyện tập ngọai khóa trong trường học được duy trì. Hầu hết các trường đều tổ chức Hội khỏe Phù Đổng. Kết quả chung kết Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ 5 có 3500 vận động viên tham gia, lập 76 kỷ lục, 206 vận động viên đạt tiêu chuẩn vận động viên cấp I và kiện tướng. Ngoài ra trong năm ngành Thể dục Thể thao còn tổ chức các giải thi đấu quốc gia và quốc tế tại Việt Nam, đồng thời đưa các vận động viên nước ta đi thi đấu tại nước ngoài. Trong các giải thi đấu này, vận động viên nước ta đã đoạt 98 huy chương vàng, 93 huy chương bạc và 96 huy chương đồng. Hiện nay, ngành thể thao đang gấp rút hoàn thành các thủ tục để triển khai xây dựng khu Liên hợp Thể thao Quốc gia, phục vụ cho SEAGAMES 22 tổ chức tại Việt Nam vào năm 2003.

Do sản xuất kinh doanh phát triển, giá hàng hoá ổn định, Nhà nước và các địa phương, các đơn vị đã có nhiều chủ trương, biện pháp chăm lo đời sống người lao động và các đối tượng chính sách, đẩy mạnh chương trình xóa đói giảm nghèo nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung đã được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo năm 2000 đã giảm so với năm 1999.

Tuy nhiên đời sống nông dân, nhất là nông dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Hiện tượng thiếu đói giáp hạt vẫn xảy ra rải rác ở một số địa phương tuy quy mô không lớn.

Năm nay đời sống các tầng lớp dân cư ở nhiều vùng còn bị ảnh hưởng lớn bởi trong năm thiên tai đã liên tiếp xảy ra gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản. Tổng hợp báo cáo của các tỉnh, thành phố, cả nước có 694 người bị chết do thiên tai, trong đó có 320 trẻ em. Riêng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã có 448 người chết, trong đó có 319 trẻ em. Tổng trị giá thiệt hại về vật chất ước tính khoảng 4800 tỷ đồng, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thiệt hại 3730 tỷ đồng.

Để giúp nhân dân vùng bị thiên tai nhanh chóng khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, Chính phủ và các cấp, các ngành cũng như đồng bào trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã tiến hành các hoạt động cưú trợ kịp thời và thiết thực. Riêng các địa phươg đồng bằng sông Cửu Long đến cuối tháng 10 năm 2000 đã được 209 tỷ đồng cứu trợ, trong đó 196 tỷ đồng tiền mặt; 13 tỷ đồng là lương thực, thực phẩm, vật dụng phục vụ đời sống và phương tiện sản xuất. Hoạt động cứu trợ này đã giúp 388 nghìn lượt hộ dân cư vùng đồng bằng sông Cửu Long khắc phục thiên tai, trong đó 49 nghìn hộ được cấp xuồng, lưới để đánh bắt thuỷ sản và hải sản.

Việc bảo vệ môi trường bước đầu đã được các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương quan tâm nên trong năm 2000 cũng đã thu được một số kết quả nhất định. Sau nhiều năm thực hiện chủ trương bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng nên tỷ lệ che phủ của rừng đã tăng từ 28,8% năm 1998 lên 33,0% năm 1999. Tuy nhiên, tình trạng khai thác trái phép vẫn xẩy ra nên tỷ lệ rừng giàu vẫn có xu hướng giảm. Trung bình hàng năm, diện tích rừng trồng mới khoảng 200 nghìn ha, nhưng chỉ tính riêng diện tích rừng tự nhiên bị phá và bị cháy đã lên tới 150 nghìn ha. Chặt phá rừng bừa bãi là một trong những nguyên nhân gây ra lũ lụt liên tiếp xảy ra trong những năm vừa qua.

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước và môi trường không khí đang có xu hướng gia tăng và đáng lo ngại. Theo kết quả quan trắc năm 1999 của Cục Môi trường, chất lượng nước ở hầu hết các sông thuộc các tỉnh phía Bắc chỉ đạt tiêu chuẩn nước mặt loại B, trong đó một số đoạn sông Hồng, sông Cầu, sông Tam Bạc và sông Cấm đang bị ô nhiễm nặng. Một số sông ở các tỉnh phía Nam bị axít hoá như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ Đông với nồng độ pH tương ứng lần lượt là 3,8 mg/l; 4,0 mg/l và 5,0 mg/l. Nước ngầm ven biển và nước ngầm ở các đô thị đều bị ô nhiễm và có nơi bị ô nhiễm nặng. Các thông số như nồng độ chất rắn lơ lửng, nitơrát gấp từ 2 đến 20 lần trị số tiêu chuẩn cho phép. Nồng độ bụi một số khu dân cư bên cạnh nhà máy, đường giao thông lớn đã vượt trị số cho phép từ 1,5 đến 3 lần. Ở các đô thị, thu gom và xử lý chất thải rắn đang là vấn đề bức xúc. Khối lượng chất thải rắn đô thị tăng từ 19 nghìn tấn/ngày đêm năm 1997 lên 25 nghìn tấn/ngày đêm hiện nay.

Tóm lại, trong năm 2000 tình hình kinh tế – xã hội nước ta đã diễn biến theo chiều hướng tích cực, hầu hết các chỉ tiêu đã tăng cao so với năm 1999, trong đó nhiều chỉ tiêu đã đạt và vượt mức mà Quốc hội thông qua đầu năm.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ