A- TÌNH HÌNH KINH TẾ

Sơ bộ ước tính, tổng sản phẩm trong nước 9 tháng tăng 6,4% so với 9 tháng 1999, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,7%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,5%; khu vực dịch vụ tăng 5,4%. Dự kiến quý IV/2000 tăng 7,4% (Quý I tăng 5,6%; quý II tăng 6,7%; quý III tăng 6,8%) thì tổng sản phẩm trong nước cả năm  2000 tăng 6,7% so với năm 1999, trong đó tốc độ tăng của 3 khu vực tương ứng lần lượt là: 4,0%; 9,9% và 5,5%. Nếu so với các nước trong khu vực thì tăng trưởng kinh tế nước ta vào loại khá. (Theo Tạp chí ASIAWEEK 14/7/2000, dự kiến năm 2000 kinh tế Trung Quốc tăng 7,5%; Ấn Độ tăng 7,1%; Malaxia tăng 7,4%; Hàn Quốc tăng 8,3%; Singapore tăng 6,5%; Philipin tăng 3,4%; Thái Lan tăng 5,3%; Inđônêxia tăng 3,8% và Nhật Bản tăng 1,3%).

Mức đóng góp vào tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước của các khu vực kinh tế năm 2000 có sự chuyển biến theo hướng: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 1,2% năm 1999 xuống còn 1,0% năm 2000; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 2,6% lên 3,4% và khu vực dịch vụ tăng từ 1,0% lên 2,3%, chứng tỏ nền kinh tế đang hướng vào sự tăng trưởng ổn định và những biện pháp phát triển kinh tế-xã hội mà Chính phủ đề ra đầu năm đã phát huy tác dụng tích cực.

Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các khu vực

%

199819992000
                   

                     CHUNG

 

5,8

 

4,8

 

6,7

– Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản0,91,21,0
– Công nghiệp và xây dựng2,72,63,4
– Dịch vụ2,21,02,3

Sản xuất lương thực

Mặc dù phải đối phó với hạn cục bộ ở các tỉnh phía bắc, mưa bão ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và lũ lụt sớm ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhưng sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nói chung và sản xuất lương thực nói riêng vẫn được đánh giá là năm  tiếp tục đạt kết quả khá.

Vụ đông xuân cả nước gieo cấy 3012,0 nghìn ha, tăng 4,3% so với vụ đông xuân trước, trong đó phía bắc 1162,0 nghìn ha, tăng 3,6%; phía nam 1850,0 nghìn ha, tăng 4,7%. Theo báo cáo chính thức của các địa phương, sản lượng lúa  đông xuân năm nay đạt 15,6 triệu tấn, tăng 10,3% so với vụ đông xuân năm 1999, trong đó phía bắc 6,2 triệu tấn, tăng 11,8%; phía nam  9,4 triệu tấn, tăng 9,4%.

Vụ hè thu gieo cấy 2297,8 nghìn ha, giảm 43,4 nghìn ha so với vụ hè thu trước, trong đó các tỉnh Bắc Trung Bộ gieo cấy 146,8 nghìn ha, tăng gần 6 nghìn ha; các tỉnh phía nam 2151,0 nghìn ha, giảm 49,3 nghìn ha, bằng 97,8% so với vụ hè thu 1999. Lũ lụt lớn và sớm ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm mất trắng khoảng 40 nghìn ha và hàng trăm nghìn ha bị gặt ép chạy lũ nên năng suất lúa hè thu cả nước bình quân chỉ đạt 37,2 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 8,5 triệu tấn, giảm trên 214 nghìn tấn (-2,4%) so với vụ hè thu trước.

Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước ước tính đạt 2363,5 nghìn ha, giảm 60 nghìn ha so với vụ mùa trước, chủ yếu do nhiều địa phương đồng bằng sông Cửu Long đã chuyển diện tích lúa mùa sang gieo xạ lúa đông xuân. Năng suất lúa mùa năm nay ước tính đạt 36,4 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha và sản lượng ước tính 8,6 triệu tấn, tăng trên 69 nghìn tấn so với vụ mùa trước

Tính chung lại, sản lượng lúa của cả ba vụ năm nay đạt 32,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn (4,2%) so với 1999 (Lúa đông xuân tăng 1,5 triệu tấn; lúa hè thu giảm 214 nghìn tấn; lúa mùa tăng 69 nghìn tấn). Nếu từ nay đến cuối vụ, thời tiết diễn biến thuận lợi thì năng suất và sản lượng lúa mùa miền bắc có khả năng còn đạt cao hơn. Nếu tính thêm 3,0 triệu tấn màu quy thóc thì tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2000 ước tính đạt 35,7 triệu tấn, tăng 1,4 triệu tấn (4,2%) so với năm 1999 và tiếp tục là năm có sản lượng cao nhất từ trước tới nay. Nếu tính theo quy định mới, sản lượng lương thực có hạt

cả năm đạt 34,6 triệu tấn, tăng 1434 nghìn tấn (4,3%) so với năm 1999.

Kết quả sản xuất lương thực một số năm

      Nghìn tấn

19951996199719981999Ước tính 2000
SẢN LƯỢNG LƯƠNG THỰC QUY THÓC 

27570,9

 

29217,9

 

30618,1

 

31853,9

 

34259,3

 

35690,8

– Miền Bắc10575,510927,212015,012093,013183,013964,5
– Miền Nam16995,418290,718603,119760,921076,321726,3
TĂNG GIẢM SO VỚI NĂM TRƯỚC1372,41647,01400,21235,82405,41431,5
– Miền Bắc692,7351,71087,878,01090,0781,5
– Miền Nam617,71295,3312,41157,81315,4650,0

Chăn nuôi gia súc, gia cầm

Theo báo cáo điều tra chăn nuôi của các địa phương, đến 1/10/2000 đàn trâu có 3,0 triệu con, tăng 0,3% so với 1/10/1999; đàn bò 4,2 triệu con, tăng 2,0%; đàn lợn 19,5 triệu con, tăng 3,4%; đàn gia cầm  197,3 triệu con, tăng 9,1%; sản lượng thịt hơi các loại xuất chuồng 1,8 triệu tấn, tăng 6,3%.

Lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng tập trung cả năm ước tính đạt 232 nghìn ha, tăng hơn 2000 ha so với năm 1999, chủ yếu nhờ đẩy mạnh chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. Diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh đạt 39,4 nghìn ha, tăng 4,5%. Diện tích rừng chăm sóc 300 nghìn ha, bằng 83%. Diện tích rừng khoán khoanh nuôi bảo vệ 2 triệu ha, bằng 60% so với năm 1999. Diện tích rừng bị cháy, bị phá 3123 ha, giảm 35% so với năm trước.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản cả năm ước tính đạt 2,1 triệu tấn, tăng 100 nghìn tấn so với năm 1999, chủ yếu do tăng sản lượng thuỷ sản khai thác xa bờ (Cá tăng 5,1%; tôm tăng 8,1%). Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước tính đạt 513 nghìn tấn, tăng trên 6% so với năm 1999, trong đó cá 353,5 nghìn tấn; tôm 66 nghìn tấn, tăng 5,2% và 14% so với năm 1999. 

Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng ước tính tăng 15,4% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,5% (Trung ương quản lý tăng 11,1%; địa phương quản lý tăng 15,2%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,0%.

Những ngành tăng nhanh có tác động mạnh tới tốc độ tăng cao của toàn ngành công nghiệp là: Chế biến thuỷ sản tăng 29,4%; Rượu bia, thuốc lá tăng từ 10-26%; Sản xuất đường mật tăng 15,8%; Dệt, may, da, giầy dép tăng từ 16-19%; Vật liệu xây dựng tăng từ 26-38%; Thép cán tăng 14%; Sản xuất ô tô, xe máy tăng từ 73-108%; Sản xuất các sản phẩm bằng kim loại tăng từ 18-31%; Sản xuất ti vi và các sản phẩm điện tử tăng trên 30%; Điện phát ra tăng 12%.

Ước tính cả năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,5% so với năm 1999 và là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1996 tới nay. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp năm nay tương đối đồng đều ở cả 3 khu vực: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,4% (Trung ương tăng 10,9%; địa phương tăng 15,2%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3%.

Sở dĩ sản xuất công nghiệp tăng khá cao là do các nguyên nhân chủ yếu sau: 

Các chính sách của Nhà nước hướng vào doanh nghiệp mà trực tiếp nhất là Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/1/2000 đã khuyến khích khu vực tư nhân và cá thể mở rộng sản xuất, làm thay đổi cả tổ chức sản xuất kinh doanh của khu vực này theo hướng tập trung liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp và hàng chục vạn hộ cá thể làm vệ tinh. Ở hầu hết các thành phố và các tỉnh công nghiệp trọng điểm số doanh nghiệp sở hữu tư nhân đều tăng. Theo số liệu thống kê  chưa đầy đủ cả nước đã có gần 800 doanh nghiệp mới đi vào sản xuất  làm cho khu vực này có tốc độ tăng nhanh nhất và cao nhất so với các khu vực khác.

– Chủ trương kích cầu đầu tư XDCB thông qua các công trình kiên cố hoá kênh mương, làm đường nông thôn với hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm (Tỉnh, huyện cấp xi măng, sắt thép; nhân dân góp công lao động) đã tác động tích cực đến những ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và phục vụ xây dựng như: Xi măng, sắt thép, gạch lát, sứ vệ sinh…

– Sự phục hồi kinh tế của các nước trong khu vực đã tạo thị trường cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu tăng nhanh như: Dầu thô, điện tử, máy tính, dệt may, giầy dép, hải sản, thủ công mỹ nghệ… Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một vài năm trước hoạt động cầm chừng thì nay cũng đã đẩy mạnh được sản xuất. 

Chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư cho một số chương trình của Nhà nước như chương trình 1 triệu tấn đường, chương trình phát triển nguồn điện… đã tạo điều kiện cho các ngành đường mật, sản xuất động cơ điện, sản xuất máy biến thế… đạt tốc độ tăng trưởng cao.

– Trong những thời gian qua, Nhà nước đã áp dụng một số biện pháp chống buôn lậu và gian lận thương mại; nhiều doanh nghiệp đã cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa giá thành về mức hợp lý nên đã được người tiêu dùng chấp nhận. Do vậy một số mặt hàng như đồ điện tử, ô tô, xe máy, đồ nhựa, giày dép, quần áo may sẵn, xà phòng, thuốc đánh răng, đồ sứ xây dựng, bia, nước giải khát, vải lụa…đã giành lại được thị phần trong nước.

Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp so với năm trước của một số năm

(Tính theo giá so sánh 1994 – %)

Chia ra
Toàn ngànhKhu vực  doanhKhu vựcKhu vực có
công nghiệpnghiệpngoàivốn đầu tư
Nhà nướcquốc doanhnước ngoài
199614,211,911,421,7
199713,810,89,523,2
199812,17,96,723,3
199910,54,88,520,0
Ước tính 200015,512,418,817,3

Xây dựng cơ bản

Vốn đầu tư XDCB phần ngân sách Nhà nước 9 tháng ước thực hiện được 13136,8 tỷ đồng, bằng 68,3% kế hoạch năm, trong đó trung ương đạt 9037,4 tỷ đồng, bằng 69,8% kế hoạch năm; địa phương đạt 4099,4 tỷ đồng, bằng 65,0% kế hoạch năm. Dự kiến cả năm 2000 đạt 19391,5 tỷ đồng, bằng 100,7% kế hoạch năm, trong đó trung ương 13084,8 tỷ đồng, bằng 101,1% kế hoạch năm; địa phương 6306,7 tỷ đồng, bằng 100,0% kế hoạch năm. Ngoài ra 9 tháng Bộ Công nghiệp, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng còn thực hiện được 10480 tỷ đồng bằng các nguồn vốn khác.

Trong 9 tháng đã hoàn thành được một số công trình và khối lượng công việc lớn như: Đắp gần 2,5 triệu m3 đê, đạt 100% kế hoạch năm; ngành điện đã đưa 2 tổ máy thuỷ điện Ya Ly và 2 tổ máy thuỷ điện Sông Hinh hoạt động hoà vào lưới điện quốc gia; ngành giao thông vận tải đã hoàn thành cầu Mỹ Thuận và cầu Bình Điền 2.

Thương mại – Giá cả

Hoạt động thương mại và dịch vụ trong nước năm nay tuy chưa sôi động bằng những năm 1997 về trước, nhưng đã có sự phát triển khá hơn so với hai năm 1998 và 1999. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng ước tính tăng 7,6% so với năm 1999 và ước tính cả năm tăng 7,9%.

Sau nhiều tháng liên tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 đã nhích lên, tăng 0,1% so với tháng trước, nhưng đến tháng này lại giảm  0,2% so với tháng 8. Tính chung 9 tháng chỉ số giá tiêu dùng giảm 1,7% so với tháng 12/1999, trong đó nhóm hàng lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống giảm 3,6% (Lương thực giảm 10,5%; thực phẩm giảm 1,0%); nhóm hàng may mặc, giày dép và mũ nón giảm  0,3%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,1%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại đều tăng tuy mức tăng không cao. Giá đô la Mỹ tháng 9/2000 so với tháng 9/1999 tăng 1,4%; so với tháng 12/1999 tăng 0,9% và so với tháng 8/2000 tăng 0,3%.

Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng ước tính đạt 10489 triệu USD, tăng 28,0% so cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 11,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu mỏ và khí đốt) tăng 54,4%. Ước tính cả năm kim ngạch xuất khẩu đạt 14000 triệu USD, trong đó xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 5,7%, của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 44,2%, trong đó dầu mỏ và khí đốt tăng 67,4%; các sản phẩm khác tăng 25,5%. Nhìn chung hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước năm nay đã có nhiều cố gắng khai thông mở rộng thị trường nên khối lượng của nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ước tính năm 2000 đã tăng khá cao so với năm 1999 như: Thuỷ sản tăng 33,9%; cà phê tăng 36,9%; hạt tiêu tăng 8,0%; cao su tăng 5,7%; hạt điều tăng 29,4%; lạc tăng 44,1% nhưng do giá xuất khẩu nhiều mặt hàng giảm như gạo giảm bình quân 40 USD/tấn; giá cà phê, hạt điều, thuỷ sản cũng giảm nên kim ngạch xuất khẩu của của các doanh nghiệp trong nước chỉ tăng 5,7% so với năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng ước tính đạt 11002 triệu USD, tăng 33,3% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 35,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 28,7%. Ước tính cả năm kim ngạch nhập khẩu đạt 14800 triệu USD, tăng 27,3% so với năm 1999, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 29,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,2%.

Cán cân thương mại năm nay ước tính chỉ nhập siêu  800 triệu  USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 2650 triệu USD, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu 3450 triệu USD. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước phải mua trên thị trường khối lượng ngoại tệ tương đối lớn để bảo đảm nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư và hàng tiêu dùng. Vì vậy, Nhà nước cần quan tâm chỉ đạo sát sao để tránh xảy ra căng thẳng về cung cầu ngoại tệ,dẫn tới biến động lớn về tỷ giá giữa đồng USD và đồng Việt Nam trong những tháng cuối năm.

B- CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 

Đời sống dân cư 

Do sản xuất kinh doanh phát triển, nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh  khắc phục được một số khó khăn; mặt khác Nhà nước và các địa phương đã có nhiều biện pháp chăm lo đời sống người lao động và các đối tượng chính sách nên đời sống các tầng lớp dân cư cơ bản ổn định, không có biến động lớn. Trên cơ sở kết quả điều tra hộ gia đình năm 1999, ước tính tỷ lệ hộ nghèo năm 2000 của các vùng như sau:

Tỷ lệ hộ nghèo chia theo vùng và khu vực (%)

ChungThành thịNông thôn
1999Ước tính 20001999Ước tính 20001999Ước tính 2000
Chung13,311,44,63,816,014,3
Vùng Tây Bắc và Đông Bắc17,115,35,54,719,817,9
Đồng bằng sông Hồng7,65,93,93,28,77,3
Bắc Trung Bộ19,317,48,87,121,520,2
Duyên hải Nam Trung Bộ14,013,67,16,016,415,8
Tây Nguyên21,320,17,86,726,625,0
Đông Nam Bộ5,24,43,83,07,46,2
Đồng bằng sông Cửu Long10,28,75,44,311,79,9

Tuy nhiên vẫn còn tình trạng thiếu việc làm, thu nhập của người lao động thấp và không ổn định như: Công ty cơ khí Cẩm Phả, Tổng công ty Cơ khí năng lượng (Quảng Ninh) hàng tháng vẫn có trên 300 công nhân không có việc làm. Nông dân một số tỉnh bị thiệt hại do thiên tai, tuy đã được hỗ trợ khắc phục nhưng đời sống và sản xuất vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hiện tượng thiếu đói giáp hạt vẫn xẩy ra rải rác ở một số địa phương, tuy quy mô không lớn.

Tình hình thiếu đói giáp hạt

Số hộ thiếu đóiSố khẩu thiếu đói
Tổng số

(Hộ)

Trong đó: Gay gắt

(Hộ)

Tỷ lệ so với hộ nông

nghiệp

(%)

Tổng số

(Người)

Trong đó: Gay gắt (Người)Tỷ lệ so với khẩu nông nghiệp

(%)

Tháng 660703171800,5300168907320,6
Tháng 778670221980,74227361334800,8
Tháng 860042213720,53037751126640,6

Hoạt động văn hóa

Từ đầu năm đến nay, nhiều hoạt động văn hoá thông tin diễn ra sôi nổi, đa dạng qua việc tổ chức các ngày lễ lớn của dân tộc, đặc biệt là tổ chức thành công hoạt động diễu binh, diễu hành kỷ niệm Quốc khánh 2/9. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước. Nhiều tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo phong trào, lập kế hoạch triển khai xuống cơ sở xã, phường, thị trấn, khu dân cư.

Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh các hoạt động dịch vụ văn hoá và kinh doanh văn hoá phẩm, Bộ Văn hóa và Thông tin đã phối hợp với các ngành hữu quan đẩy mạnh công tác kiểm tra các cơ sở dịch vụ và kinh doanh văn hóa phẩm. Riêng 8 tháng đầu năm đã kiểm tra 33514 lượt cơ sở dịch vụ và kinh doanh văn hóa phẩm, phát hiện hơn 8000 vụ sai phạm, tạm đình chỉ 1170 cơ sở, thu giữ 1175 giấy phép hành nghề, thu giữ 120194 băng hình, 84054 đĩa các loại, 30 tấn sách, báo, ấn phẩm, 690 đầu video, tivi, 16 máy đánh bạc, phạt vi phạm hành chính 3024,9 triệu đồng.

Hoạt động thể dục, thể thao 

Công tác TDTT được đẩy mạnh nhằm thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng vì sức khỏe nhân dân, phục vụ các ngày lễ lớn của đất nước và nâng cao thành tích TDTT của Việt Nam. Phong trào thể thao quần chúng có bước phát triển mới. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong cả nước nhân ngày thể thao Việt Nam 27/3 đã được các địa phương hưởng ứng tích cực. Cho đến nay đã có 60/61 tỉnh, thành phố đã tổ chức lễ phát động phong trào này và có khoảng 12% dân số tham gia luyện tập thể thao thường xuyên.

Công tác giáo dục thể chất và luyện tập ngoại khóa  trong nhà trường được duy trì và có tiến bộ: Trên 60% số trường đảm bảo chương trình giáo dục thể chất có chất lượng, 15% số trường có phong trào ngoại khoá.

Để có đủ lực lượng tham gia Olympic Sydney 2000, SEA Games 21 (2001), Asiad 14 (2002) và đặc biệt là SEA Games 22 (2003) được tổ chức tại Việt Nam, các chương trình thể thao quốc gia đang khẩn trương tiến hành đào tạo và huấn luyện vận động viên cho các đội tuyển quốc gia. Từ đầu năm đến nay, tại Việt Nam đã tổ chức 120 giải thi đấu cấp quốc gia và 12 giải thi đấu quốc tế, 20 đoàn thể thao tham gia thi đấu quốc tế và 11 giải quốc tế mở rộng. Tại các giải thi đấu quốc tế, các VĐV Việt Nam đã giành được 57 huy chương (30 vàng, 15 bạc và 12 đồng), phá 15 kỷ lục quốc gia, 8 VĐV được phong kiện tướng và đại kiện tướng quốc tế.

Giáo dục 

Tổng kết năm học 1999-2000

 Năm học 1999-2000 là năm học cuối cùng thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển KT-XH 1996-2000, năm học thứ ba triển khai NQTW2 của Đảng về “ Định hướng chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000″. Toàn ngành giáo dục đã nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ năm học 1999-2000 với  kết quả thi tốt nghiệp như sau:

Năm học 1998-1999Năm học 1999-2000
Số

dự thi

(Học sinh)

Số

tốt nghiệp

(Học sinh)

Tỷ

lệ tốt nghiệp

(%)

Số

dự thi

(Học sinh)

Số

tốt nghiệp

(Học sinh)

Tỷ

lệ tốt nghiệp

(%)

Tiểu học1758318173568598,71779450176125299,0
Trung học cơ sở1121768102914391,71162773109237894,0
Phổ thông trung học41873937455689,552034245532487,5

Tình hình khai giảng năm học 2000-2001 

Học sinh mầm non: Cả nước có khoảng 2,7 triệu số trẻ từ 0-5 tuổi đến lớp, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. 

Học sinh phổ thông:

– Tiểu học: Cả nước có 9958 nghìn học sinh, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

– Trung học cơ sở: Cả nước có khoảng 5964 nghìn học sinh, tăng 3,4% so cùng kỳ năm trước. Số học sinh tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học lên trung học cơ sở là 1673 nghìn em, chiếm 95% số học sinh tốt nghiệp tiểu học. Tỷ lệ này tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước.

– Trung học phổ thông: Cả nước có khoảng 2198 nghìn học sinh, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học lên trung học phổ thông là 874 nghìn học sinh, chiếm 80% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, tăng 5,8% so cùng kỳ năm trước. 

Giáo viên 

Số lượng giáo viên các cấp đều tăng, nhưng so với định mức thì vẫn thiếu:

– Tiểu học: Cả nước có khoảng 355 nghìn giáo viên, so với quy định thiếu 14 nghìn giáo viên.

– Trung học cơ sở : Cả nước có khoảng 232,3 nghìn giáo viên, so với quy định thiếu 36 nghìn giáo viên

– Trung học phổ thông: Cả nước có khoảng 72 nghìn giáo viên, so với quy định thiếu 21 nghìn giáo viên.

Trước tình hình thiếu giáo viên, nhiều đia phương đã phải vận động giáo viên dạy thêm giờ, thêm ca, và ký hợp đồng dạy với giáo viên đã nghỉ hưu.

Xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học 

Theo báo cáo tổng kết năm học 1999-2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến 11/7/2000 cả nước đã cơ bản hoàn thành phổ cập tiểu học và chống mù chữ, trong đó có 8 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương,  Hưng Yên và Đà Nẵng.

Y tế

Công tác phòng chống dịch bệnh:

Tình hình mắc một số bệnh dịch trên phạm vi cả nước nhìn chung giảm so với cùng kỳ năm trước, thể hiện ở biểu số liệu dưới đây:

9 tháng 20009 tháng 1999
Số mắc (Ca)Số chết (Người)Số mắc (Ca)Số chết (Người)
Thương hàn5275111152013
Sốt xuất huyết11191422413850
Sốt rét168418100208325101

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Theo báo cáo của Bộ Y tế đến 20/9/2000, cả nước có 24006 người nhiễm HIV, trong đó TP. Hồ Chí Minh có 6039 người bị nhiễm. Số bệnh nhân AIDS là 3896 người, số bệnh nhân tử vong do AIDS là 2030 người. Riêng tháng 8/2000 đã phát hiện thêm 1499 người bị nhiễm, tháng 9/2000 phát hiện thêm  865 người bị nhiễm.

Vệ sinh an toàn thực phẩm: Ngộ độc thực phẩm vẫn tiếp tục xảy ra do ăn rau quả có nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, thịt gia súc bị bệnh, thực phẩm ôi thiu,… Theo báo cáo của các Cục Thống kê, 8 tháng cả nước có gần 600 vụ với 3586 lượt người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó có 24 người chết.

An toàn giao thông và trật tự xã hội

Theo báo cáo của UBATGTQG, 8 tháng đầu năm đã xẩy ra 15370 vụ tai nạn giao thông, tăng 5,4% so cùng kỳ năm trước, làm  chết 5247 người, tăng 9,6% và 16919 người bị thương, tăng 4,3%. Tai nạn giao thông chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ với 96,7% số vụ.

Trật tự xã hội:  Theo báo cáo của một số địa phương, đến nay số vụ án được phát hiện như sau:

Số vụ phát hiện trong 8 tháng đầu năm 2000

Số tỉnh báo cáoSố vụ
Vụ án kinh tế336367
Vụ án hình sự3925146
Mua bán và sử dụng trái phép ma tuý376069
Mại dâm371038

TỔNG CỤC THỐNG KÊ