A. TÌNH HÌNH KINH TẾ.

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước 9 tháng đầu năm 2001 tăng 7% so với 9 tháng năm 2000, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,2%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,7%; khu vực dịch vụ tăng 6,6%. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu đề ra cho cả năm là tăng 7,5%, nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng 6,4% của 9 tháng đầu năm 2000. Tốc độ tăng của khu vực công nghiệp và xây dựng cũng như của khu vực dịch vụ đều tăng tương đối cao đã góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2001. Trong 7% tăng trưởng thì khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,8%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,7%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,5%.
Nếu những tháng tới, các cấp, các ngành triển khai có hiệu qủa các giải pháp Chính phủ đề ra, phấn đấu đưa tổng sản phẩm quý IV tăng 7,4% thì cả năm 2001 tổng sản phẩm trong nước sẽ tăng 7,1%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,7%; khu vực dịch vụ tăng 6,6%.
Do kinh tế tăng trưởng và công tác thu có tiến bộ nên tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 85,3% dự toán cả năm. Trong tổng thu, có một số khoản đã vượt mức dự toán cả năm như: Thu từ liên doanh dầu khí đạt 104,9%; thuế trị giá gia tăng hàng nhập khẩu đạt 111,4%. Nhiều khoản thu lớn cũng đạt mức cao so với dự toán cả năm: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu đạt 82,2%; thu từ kinh tế quốc doanh đạt 73,5%; thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 73,1%. Tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 70,6% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 66,8%, chi thường xuyên đạt 75,1%; chi trả nợ và viện trợ đạt 71,1%.
2. Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản.
a. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp năm 2001 có sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Nhiều địa phương đã chuyển diện tích gieo trồng lúa năng suất thấp sang trồng cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản. Riêng Bạc Liêu chuyển gần 40 nghìn ha và Cà Mau chuyển 15 nghìn ha sang nuôi tôm. Do vậy, diện tích gieo trồng lúa cả năm chỉ đạt 7500,4 nghìn ha, bằng 97,8% năm 2000, trong đó lúa đông xuân 3056,9 nghìn ha, bằng 101,5%; lúa hè thu 2197,1 nghìn ha, bằng 95,8%; lúa mùa 2246,4 nghìn ha, bằng 95,2%. Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 42,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với năm 2000; sản lượng đạt 31,9 triệu tấn, giảm trên 0,6 triệu tấn. Nếu tính thêm 2,1 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 34 triệu tấn.
Nhu cầu thực phẩm tăng nhanh đã khuyến khích chăn nuôi phát triển. Theo báo cáo chăn nuôi của các địa phương, đến giữa tháng 9, đàn trâu có 2913,7 nghìn con, tăng 16,5 nghìn con so cùng kỳ năm 2000 (+0,6%); đàn bò 4201,4 nghìn con, tăng 73,6 nghìn con (+1,8%); đàn lợn 20711,4 nghìn con, tăng 517,6 nghìn con (+2,6%); đàn gia cầm 209,4 triệu con, tăng 13,2 triệu con (+6,8%).
b. Lâm nghiệp
Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2001 theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 6067,6 tỷ đồng, bằng năm 2000. Trồng cây lâm nghiệp cả năm ước tính đạt 194 nghìn ha; khai thác gỗ đạt 2419,7 nghìn m3. Tồn tại lớn nhất trong sản xuất lâm nghiệp trong 9 tháng là, mặc dù các cấp, các ngành và chính quyền các địa phương đã tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng nhưng tình trạng vi phạm lâm luật, chặt phá rừng và cháy rừng vẫn tiếp tục diễn ra. Trong 9 tháng cả nước đã có trên 1,2 nghìn ha rừng bị cháy và 2,3 nghìn ha bị chặt phá, chủ yếu tập trung ở Đắk Lắk với 1162,5 ha rừng bị cháy và 1090 ha rừng bị chặt phá.
c. Thuỷ sản
Giá trị sản xuất thuỷ sản năm 2001 theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 24880 tỷ đồng, tăng 15,5% so với năm 2000, trong đó nuôi trồng 10610 tỷ đồng, tăng 35,2%; khai thác 14270 tỷ đồng, tăng 4,2%. Sản lượng thuỷ sản cả năm ước tính đạt 2408 nghìn tấn, tăng 8% so với năm 2000, trong đó cá 1735,6 nghìn tấn, tăng 5,4%; tôm 250,1 nghìn tấn, tăng 30,9%; thuỷ sản khác 422,3 nghìn tấn, tăng 7,7%.
3. Công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng 15,8% và 9 tháng tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước (Quí I tăng 14,4%; quí II tăng 13,9%; quí III tăng 15,1%). Dự kiến quí IV tăng 14,5% và do vậy ước tính sơ bộ cả năm 2001 tăng 14,5%. Trong đó:
– Doanh nghiệp Nhà nước 9 tháng tăng 12,4%, dự kiến cả năm tăng 12%. Mặc dù có một số ngành thuộc DNNN đang có khó khăn về nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, sản xuất tăng chậm hoặc giảm như: Sản xuất đường, may mặc, sản xuất các sản phẩm từ da và giầy dép, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, nhưng bù lại có nhiều ngành sản xuất thuận lợi, tăng trưởng cao như: Điện tăng trên 14%; thép tăng 21%; chế biến sữa tăng trên 40%; hoá chất dân dụng tăng từ 20 đến 40%; vật liệu xây dựng cao cấp tăng từ 15 đến 40%; trang thiết bị nội thất tăng gần 50%…
– Khu vực ngoài quốc doanh 9 tháng tăng 19,4%, dự kiến cả năm tăng 19,5%, trong đó doanh nghiệp tư nhân tăng 19%, kinh tế hỗn hợp tăng 45%, hộ cá thể tăng 5%. Khu vực ngoài quốc doanh có tốc độ tăng cao nhất, chủ yếu do tăng thêm năng lực sản xuất từ các doanh nghiệp mới thuộc loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Sản xuất của những thành phần này tăng nhanh, tập trung ở ngành chế biến thuỷ sản, chế biến một số hàng nông sản xuất khẩu (chè, rau quả …), sản xuất đồ gỗ cao cấp, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại…
– Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 9 tháng tăng 13,8%, dự kiến cả năm tăng 14,2% (do quí IV khai thác dầu và khí có triển vọng tăng cao hơn quí III). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 9 tháng tăng không cao chủ yếu do ảnh hưởng của khai thác dầu quí III thấp (+1,2%) và của một số ngành khác như: Dệt, may mặc, sản xuất thuốc trừ sâu, nhưng lại có nhiều ngành sản xuất ổn định, tăng trưởng cao như: Chế biến thuỷ sản xuất khẩu tăng trên 100%; sản xuất thuốc chữa bệnh tăng trên 30%; hoá chất dân dụng tăng từ 22 đến 25%; sản xuất xi măng tăng 40,3%; lắp ráp ô tô tăng 44,5%; sản xuất các sản phẩm bằng kim loại tăng trên 35%; sản xuất xe đạp gấp trên 21 lần…
Diễn biến 9 tháng đầu năm cho thấy, tình hình sản xuất của ngành công nghiệp tương đối ổn định. Qua điều tra xu thế của 1154 doanh nghiệp vừa và lớn ở 10 tỉnh, thành phố trọng điểm đã thể hiện xu hướng trên khá rõ nét. Cụ thể là có tới 26% số doanh nghiệp cho rằng tình hình kinh doanh quý III khá hơn quý II, chỉ có 8% cho rằng xấu hơn, trong đó, những ngành có tốc độ tăng cao cũng là những ngành có tỷ lệ các doanh nghiệp trả lời sản xuất tốt hơn như: Sản xuất các sản phẩm từ kim loại tăng 35,5%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 40,8%; sản xuất giường tủ, bàn ghế tăng 31,1%; sản xuất thiết bị vận tải tăng 34,6%… Khi được hỏi về khối lượng sản phẩm chủ yếu sản xuất ra thì cũng có tới 37,2% doanh nghiệp trả lời là tăng lên, chỉ có 16,5% doanh nghiệp trả lời giảm đi. Tuy nhiên, có tình hình không thuận lợi là số lượng đơn đặt hàng trong nước tăng 1,3% nhưng số lượng đơn đặt hàng ngoài nước giảm 2,2%; mức tồn kho tăng 5,5% và 22,9% số doanh nghiệp đã phải tăng chi phí sản xuất, trong khi đó chỉ có 3,9% doang nghiệp giảm được chi phí. Có tới 15% doanh nghiệp bán giá thấp hơn bình thường để tiêu thụ sản phẩm; 5% bán cao hơn và 80% bán ở mức giá bình thường.
Về triển vọng 3 hoặc 6 tháng tới, theo ý kiến doanh nghiệp thì nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh vẫn tiếp tục xu hướng tốt hơn vì 26,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng thêm lao động, chỉ có 9,4% doanh nghiệp giảm bớt; 45% số doanh nghiệp dự kiến tình hình sản xuất tốt hơn, chỉ có 6,3% trả lời xấu đi. Có tới 55,8% doanh nghiệp sẽ đầu tư mở rộng và đổi mới công nghệ sản xuất. Được hỏi về tình hình tài chính thì có 21,2% doanh nghiệp cho là tốt hơn; 6,6% trả lời xấu đi; 22,2% doanh nghiệp cho rằng chính sách vay vốn là dễ dàng thuận tiện; 15,9% cho là vẫn còn khó khăn.
Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp hiện đang có khối lượng sản phẩm tồn kho tương đối lớn là: Sắt thép tồn 25 vạn tấn, trong đó Tổng Công ty Thép tồn ở khâu sản xuất và khâu kinh doanh 17,6 vạn tấn, các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài tồn 6,2 vạn tấn; phân bón tồn 26 vạn tấn, trong đó supe lân 15,7 vạn tấn; phân lân nung chảy 2,8 vạn tấn; NPK 6,7 vạn tấn; Tổng Công ty Xi măng tồn kho 81,8 vạn tấn, gấp 2 lần cùng kỳ năm trước, trong đó xi măng 25,4 vạn tấn, gấp 1,2 lần, clanhke 56,4 vạn tấn, gấp 3 lần.
4. Đầu tư và Xây dựng.
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung thuộc ngân sách Nhà nước 9 tháng đạt trên 16,9 nghìn tỷ đồng, bằng 70,5% kế hoạch năm, trong đó trung ương 11,2 nghìn tỷ đồng, bằng 73,3%; địa phương 5,7 nghìn tỷ đồng, bằng 65,6%. Dự kiến cả năm nguồn vốn này thực hiện được 24,4 nghìn tỷ đồng, đạt 101,6% kế hoạch, trong đó trung ương 15,6 nghìn tỷ đồng, đạt 101,8%, địa phương 8,8 nghìn tỷ đồng, đạt 101,3%.
Trong 9 tháng, ngành điện đã hoàn thành và hoà vào lưới điện quốc gia 1375 MW, trong đó chủ yếu là công suất mới tăng của các nhà máy thuỷ điện Yaly, Hàm Thuận, Đa Mi và nhiệt điện Phú Mỹ I, hoàn thành 544 km đường dây 220KV; 345 km đường dây 100 KV và nhiều trạm biến thế với tổng công suất là 1400 MVA. Ngành giao thông vận tải hoàn thành nhiều công trình quan trọng như: 12 cầu trên quốc lộ I, quốc lộ 18 và quốc lộ 19, trong đó có cầu Sông Phan, Phú Quới, Lộc Hà, Ngân Sơn, Hoà Bình, Đại Yên, Long Xuyên… Khánh thành cảng Cần Thơ, cảng Vũng Áng; thông xe kỹ thuật các tuyến đường Hà Nội-Lạng Sơn, Vinh- Đông Hà, Thường Tín- Cầu Giẽ, Biểu Nghi- Bãi Cháy; nâng cấp nhiều cầu đường sắt và thông xe cầu vượt nam Chương Dương.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 20 tháng 9 năm 2001 đã cấp giấy phép cho 336 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 1941 triệu USD, tăng 41,8% về số dự án và tăng 218% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Các dự án được cấp giấy phép trong 9 tháng vừa qua tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 263 dự án và 1594,6 triệu USD, chiếm 78,3% về số dự án và 82,2% về số vốn đăng ký. Theo địa phương thì các dự án được cấp giấp phép tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ: Thành phố Hồ Chí Minh 125 dự án với số vốn đăng ký 485,8 triệu USD; Bình Dương 78 dự án với 13,3 triệu USD; Đồng Nai 27 dự án với 129 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu 4 dự án với 834,8 triệu USD. Thành phố Hà Nội cũng có 27 dự án với số vốn đăng ký 146,2 triệu USD.
Khó khăn lớn hiện nay trong xây dựng cơ bản vẫn là tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, nhất là giải phóng mặt bằng cho các công trình giao thông và các công trình ở các thành phố lớn, điển hình là sự chậm trễ trong việc giải phóng mặt bằng của đoạn cuối đường Pháp Vân-Văn Điển, cầu vượt Khê Hồi, các nút giao thông cầu vượt quốc lộ 5, đoạn Cầu Diễn quốc lộ 32. Riêng tuyến đường Nội Bài-Bắc Ninh còn 4 km và tuyến Bắc Ninh-Chí Linh còn 5 km cũng chưa được giải toả do dân chưa chấp nhận đền bù.

5. Vận tải và Bưu chính, Viễn thông.
Vận chuyển hành khách 9 tháng 2001 ước tính đạt 637,6 triệu lượt hành khách và 21856,3 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5% về khối lượng vận chuyển và tăng 7% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 107,7 triệu tấn và 31054,1 triệu tấn.km, tăng 5,9% về tấn và 9,4% về tấn.km.
Hoạt động vận tải nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đi lại của dân cư, nhưng chất lượng phục vụ còn hạn chế. Đáng lo ngại nhất là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn tiếp tục xảy ra với mức độ lớn. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia thì 8 tháng đầu năm trên phạm vi cả nước đã xảy ra 16777 vụ tai nạn giao thông, làm chết 6603 người và làm bị thương 19067 người.
Hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh. Trong 9 tháng đầu năm số máy điện thoại thuê bao đã tăng thêm 711 nghìn chiếc, đạt 85% kế hoạch năm và tăng 14% so với 9 tháng đầu năm 2000, đưa tổng số máy điện thoại của cả nước lên gần 4 triệu máy; đăng ký sử dụng internet thêm 26843 thuê bao, đạt 66% kế hoạch và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 9 tháng đầu năm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông ước tính đạt 11538 tỷ đồng, đạt 76% kế hoạch năm và tăng 18% so với 9 tháng đầu năm 2000.

6. Thương mại, Giá cả và Du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng ước tính đạt 174,3 nghìn tỷ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 30,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,5% và tăng 8,1%; khu vực kinh tế cá thể 114,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,9% và tăng 7%; khu vực tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 28,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,6% và tăng 13,9%. Trong những tháng tới, tình hình kinh doanh thương nghiệp có triển vọng khá, lượng hàng hoá có thể tiêu thụ nhiều hơn nên ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ cả năm 2001 đạt 238,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2000, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước 43,4 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6%; khu vực kinh tế cá thể 157,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5%; các khu vực còn lại 37,2 nghìn tỷ đồng và tăng 14,5%. Kinh doanh thương nghiêp cả năm chiếm 71% tổng mức và tăng 9,2% so với năm 2000; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,6% và tăng 12,3%; hoạt động dịch vụ, du lịch lữ hành và các cơ sở trực tiếp bán lẻ 16,4% và tăng 4,1%.
Khách quốc tế đến nước ta 9 tháng đầu năm ước tính đạt gần 1,8 triệu lượt người, tăng 8,6% so với 9 tháng đầu năm 2000, trong đó khách đến với mục đích du lịch 999 nghìn lượt người, tăng 13,7%; đi công việc 313 nghìn lượt người, tăng 12,1%; thăm thân nhân 388 nghìn lượt người, tăng 12,2% và mục đích khác 73 nghìn lượt người, giảm 43,4%. Ước tính năm 2001, lượng khách quốc tế đến nước ta đạt trên 2,3 triệu người, tăng 8,4% so với năm 2000, trong đó khách du lịch, nghỉ ngơi chiếm 55,6% tổng số khách và tăng 13,3%; đi công việc chiếm 20,2%, tăng 12%; thăm thân nhân chiếm 19,3%, tăng 11,8%; mục đích khác chiếm 4,9% và giảm 37,8%.
Sau nhiều tháng ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2001 đã tăng 0,5% so với tháng trước với tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,6%; nhóm may mặc, giầy dép và mũ nón; dược phẩm và y tế; văn hoá, thể thao và giải trí tăng 0,7%; giáo dục tăng 0,8%; thiết bị và đồ dùng gia đình; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,1%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,2%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,3%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,4%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,4%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm giảm 0,9%; dược phẩm, y tế giảm 1,3%; phương tiện đi lại bưu điện giảm 1%; giáo dục tăng 3,3% các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng trên dưới 1%. Sau 1 năm, tức là so với tháng 9/2000, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,7%. Trong 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu, ngoài nhóm dược phẩm, y tế giảm 1,7% và phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,3%, các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác đều tăng, trong đó giáo dục tăng 4,2%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 3,7%; thiết bị và dồ dùng gia đình tăng 2,2%; lương thực, thực phẩm tăng 0,4%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,5%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng 1,2-1,5%. Chỉ số giá vàng tăng 1,4% so với tháng trước; tăng 2% so với tháng 12/2000 và giảm 0,3% so với tháng 9/2000; các chỉ tiêu tương ứng của đô la Mỹ là tăng 0,8%; tăng 3,3% và tăng 6,2%.

Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng ước tính đạt 11656 triệu USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 6340 triệu USD, tăng 12,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 5316 triệu USD, tăng 8%. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm nay thấp hơn tốc độ tăng 28,8% của 9 tháng năm 2000 chủ yếu do giá xuất khẩu nhiều mặt hàng giảm sút hoặc ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước nên một số mặt hàng xuất khẩu về lượng tuy tăng nhưng giá trị lại giảm hoặc tăng chậm: Gạo tăng 16,5% về lượng, nhưng về giá trị giảm 1,3%; tương tự, cà phê tăng 40,6% và giảm 18,7%; hạt tiêu tăng 51,4% và giảm 39,5%; lạc tăng 4,9% và giảm 4,6%; hạt điều tăng 26,1% và giảm 12,9%; dầu thô tăng 17,1% về lượng, nhưng giá trị chỉ tăng 6%; tương ứng, cao su tăng 8,7% và tăng 0,4%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng giá trị xuất khẩu giảm so với kỳ trước cũng làm cho kim ngạch xuất khẩu tăng chậm như điện tử, máy tính giảm 18,8%; hàng thủ công, mỹ nghệ giảm 8,7%; chè giảm 24,4%. Tuy nhiên, một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn vẫn giữ được mức tăng trưởng khá như: Rau quả tăng 62,8%; hải sản tăng 32,3%; dệt may tăng 8,8%. Trong những tháng cuối năm, giá một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục ở mức thấp, đồng thời thị trường xuất khẩu có thể sẽ gặp khó khăn do một số nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU đang bị suy giảm. Do vậy, kim ngạch xuất khẩu cả năm 2001 ước tính chỉ đạt 16 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 8993 triệu USD, tăng 17,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 7007 triệu USD, tăng 2,9%. Một số mặt hàng có giá xuất khẩu giảm nên ước tính giá trị xuất khẩu năm 2001 sẽ tiếp tục giảm sút như: Gạo tuy tăng 6,4% về lượng, nhưng giá trị giảm 8,5%; cà phê tăng 22,6% về lượng, nhưng giá trị giảm 24,2%; dầu thô tăng 10,2% về lượng, giá trị giảm 1,5%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng sẽ đạt giá trị xuất khẩu lớn và tăng cao so với năm 2000 là: Hải sản đạt 1800 triệu USD, tăng 21,7%; dệt may 2150 triệu USD, tăng 13,6%; rau quả 330 triệu USD, tăng 54,5%.
Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt 11778 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 8237 triệu USD, tăng 1,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 3541 triệu USD, tăng 15,2%. Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng tăng không cao, trước hết là do một số mặt hàng nhập khẩu giảm mạnh: Phân bón giảm 29,1% về lượng và giảm 28,8% về giá trị; giá trị nhập khẩu điện tử, máy tính, linh kiện giảm 21,7%; thuốc trừ sâu giảm 10%; vải giảm 18,8%. Tuy nhiên, nhiều mặt hàng là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước đạt tốc độ tăng khá so với 9 tháng năm 2000: Sắt thép tăng 39,1% về lượng và tăng 20,9% về giá trị; bông tăng 43,2% và tăng 41,7%; sợi dệt tăng 16,6% và tăng 6,4%; giá trị nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 26,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 7,3%; hoá chất tăng 9,3%; sản phẩm hoá chất tăng 15,4%. Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2001 ước tính đạt 16,3 tỷ USD, tăng 4,2% so với năm 2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 11650 triệu USD, tăng 3,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 4650 triệu USD, tăng 6,8%. Các mặt hàng nhập khẩu tăng cao cả về lượng và giá trị so với năm 2000 là: Sắt thép tăng 36% về lượng và tăng 16% về giá trị; ô tô tăng 72,3% và tăng 64,7%; bông tăng 43% và tăng 48,6%. Trong khi đó, giá trị nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện giảm 20,6%; phân bón giảm 24,6%; vải giảm 19,1%; thuốc trừ sâu giảm 19,6%; xăng dầu giảm 2,8%. Nhập siêu 9 tháng 122 triệu USD, bằng 1% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1897 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1775 triệu USD. Ước tính năm 2001 nhập siêu 300 triệu USD, bằng 1,9% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2657 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 2357 triệu USD.

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI.
1. Đời sống dân cư.
Do sản xuất phát triển và giá cả ổn định nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện. Nhiều doanh nghiệp duy trì và phát triển được sản xuất nên có thêm điều kiện tăng lương và các khoản thu nhập ngoài lương cho người lao động. Do vậy, ước tính thu nhập bình quân mỗi tháng năm 2001 của một lao động trong khu vực Nhà nước đạt 889,6 nghìn đồng, tăng 20,8% so với thu nhập bình quân mỗi tháng năm 2000, trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1156,4 nghìn đồng/người/tháng, tăng 18,1%; lao động địa phương quản lý đạt 698,4 nghìn đồng/người/tháng, tăng 24,2%. Năm ngành có mức thu nhập bình quân mỗi tháng trên 1 triệu đồng là: Công nghiệp khai thác 1565,4 nghìn đồng, tăng 30,3%; điện nước 1576 nghìn đồng, tăng 10,5%; giao thông vận tải 1478,2 nghìn đồng, tăng 17%; tín dụng 1413,1 nghìn đồng, tăng 16,1% và tư vấn đầu tư 1496,1 nghìn đồng, tăng 22,9%.
Ở nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt tuy vẫn xảy ra nhưng quy mô nhỏ và giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tại thời điểm thiếu đói giáp hạt cao nhất là tháng 4 nhưng cả nước chỉ có 252,6 nghìn hộ với 1168 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, bằng 70% cả về số hộ và số nhân khẩu so với tháng 4 năm 2000. Đến giữa tháng 6 năm 2001, số hộ thiếu đói chỉ còn 47,6 nghìn hộ, chiếm 0,41% tổng số hộ nông nghiệp với 235 nghìn nhân khẩu, chiếm 0,43% tổng số nhân khẩu nông nghiệp. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, trong 9 tháng vừa qua các địa phương đã huy động được nhiều nguồn trợ giúp với tổng số tiền 19 tỷ đồng và 5536 tấn lương thực.
Công tác chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách tiếp tục được quan tâm đúng mức. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã xác nhận thêm 13621 đối tượng thuộc diện chính sách ưu đãi. Tính đến nay, có 1120 nghìn người được trao huân huy chương kháng chiến đã được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo Pháp lệnh 19 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Trong 9 tháng đầu năm, nhiều địa phương còn làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa như: Ninh Bình trích 529 triệu đồng làm qùa tặng cho các gia đình chính sách; Bình Dương xây dựng và sửa chữa 397 căn nhà tình nghĩa, trị giá trên 6 tỷ đồng, tặng 75 sổ tiết kiệm với tổng số tiền 55,7 triệu đồng, tìm kiếm và qui tập 111 hài cốt liệt sỹ; Bình Phước cũng đã xây dựng 177 căn nhà tình nghĩa với tổng trị giá 2,8 tỷ đồng và tặng 41 sổ tiết kiệm; Thái Bình xây dựng và tu bổ được 552 nhà tình nghĩa…
2. Văn hoá.
Công tác văn hoá thông tin 9 tháng đầu năm 2001 tập trung vào các hoạt động chào mừng những ngày lễ lớn, đặc biệt là chào mừng thành công của Đại hội Đảng lần thứ IX và Quốc khánh 2 tháng 9, tạo nên đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa rộng khắp. Liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc “Mùa xuân dâng Đảng” đã thu hút gần 500 diễn viên quần chúng của 14 đơn vị trong cả nước biểu diễn các tác phẩm sân khấu về đề tài cách mạng, ca ngợi những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhiều đoàn nghệ thuật đã đến vùng sâu, vùng xa phục vụ đồng bào như: Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam đi biểu diễn phục vụ đồng bào Tây Nguyên; Đoàn Ca múa nhạc nhẹ biểu diễn ở Quảng Ninh; Nhà hát Tuổi Trẻ biểu diễn tại Hoà Bình; Liên đoàn Xiếc Việt Nam diễn ở miền Trung… Các trung tâm văn hoá thể thao các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Giang, Lai Châu, Thái Nguyên cũng đã tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao phục vụ nhân dân địa phương, nhất là nhân dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào các dân tộc ít người. Đoàn ca múa nhạc dân tộc Yên Bái đã biểu diễn 79 buổi, trong đó 30 buổi phục vụ vùng cao; đoàn chèo biểu diễn 80 buổi, trong đó 15 buổi phục vụ vùng cao. Đoàn nghệ thuật Lạng Sơn biểu diễn 31 buổi, phục vụ 16,3 nghìn lượt người xem, trong đó có 9 buổi phục vụ vùng sâu, vùng xa. Lai Châu cũng đã phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa 2739 buổi chiếu phim, đạt 88% kế hoạch cả năm.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh, điển hình là Hà Nội, Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Nam Định, Thái Bình, Đà Nẵng, An Giang, Quảng Ninh, Thanh Hoá… Tính đến cuối tháng 8, cả nước đã có 7421 câu lạc bộ gia đình văn hoá. Các cơ quan, trường học, đơn vị bộ đội ở hầu hết các địa phương đều đã đăng ký xây dựng cơ quan, công sở văn minh, gia đình văn hoá. Tính chung các địa phương đã chi 26,6 tỷ đồng cho hoạt động văn hoá thông tin cơ sở. Công tác thanh tra văn hoá cũng được triển khai tích cực. Trong 8 tháng đầu năm, ngành văn hoá đã thu giữ 34,3 nghìn đĩa hình, đĩa nhạc và 23,5 nghìn băng video lưu hành trái phép, đồng thời xử phạt hành chính trên 1067 triệu đồng.
3. Giáo dục.
Thi tốt nghiệp phổ thông các cấp đã được tiến hành trên phạm vi cả nước với kết quả đạt được như sau: Cấp tiểu học có 1918,2 nghìn học sinh dự thi với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,26%; trung học cơ sở 1175,8 nghìn học sinh dự thi, tỷ lệ tốt nghiệp 95,24%; trung học phổ thông 649,2 nghìn học sinh dự thi, tỷ lệ tốt nghiệp 93,32%.
Khai giảng năm học 2001-2002 cả nước đã có khoảng 2,6 triệu trẻ em 0-5 tuổi đến các lớp mầm non, tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước; 9,5 triệu học sinh tiểu học, giảm 3,58%; 6,3 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 5,69%; 2,3 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 4,95%. Việc thực hiện chương trình phổ cập giáo dục quốc gia cũng đang được các địa phương tiếp tục triển khai tích cực. Những địa phương đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến nay, đã có 10 tỉnh được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Đà Nẵng, Hải Dương, Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên và Hải Phòng. Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã công nhận Hà Nội và Đà Nẵng đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở.
4. Y tế.
Trong 9 tháng, một số dịch bệnh tuy vẫn phát sinh nhưng nhìn chung chỉ ở diện hẹp và với mức độ thấp. Từ đầu năm đến ngày 18/9/2001 cả nước có 6137 lượt người bị mắc bệnh thương hàn; 10104 lượt người bị sởi; 26164 lượt người sốt xuất huyết và 189840 lượt người bị sốt rét. Riêng số người bị nhiễm HIV/AIDS được phát hiện tiếp tục gia tăng. Theo báo cáo của Bộ Y tế, cũng đến thời điểm 18/9/2001 cả nước đã phát hiện được 39845 người bị nhiễm HIV, trong đó có 5955 bệnh nhân AIDS (Trong số này có 3247 bệnh nhân đã bị chết).

TỔNG CỤC THỐNG KÊ