Trong 9 tháng vừa qua, tình hình kinh tế-xã hội nước ta chịu tác động của nhiều yếu tố không thuận. Trong khi sức cạnh tranh của nhiều ngành và của nền kinh tế còn nhiều hạn chế thì giá cả của hầu hết các loại vật tư nguyên liệu đầu vào nhập khẩu trên thị trường thế giới liên tục tăng hoặc đứng ở mức cao; thiên tai, dịch bệnh lại xảy ra ở nhiều địa phương trên địa bàn cả nước. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các địa phương khắc phục khó khăn, triển khai thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đã được đề ra nên kinh tế -xã hội nước ta trong 9 tháng năm 2008 vẫn phát triển ổn định, nhiều ngành, lĩnh vực then chốt đã thu được kết quả tích cực tạo điều kiện cho sự phát triển trong các tháng tới.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2008 ước tính tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,57%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,09%; khu vực dịch vụ tăng 7,23%. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng vừa qua tuy thấp hơn mức tăng cùng kỳ của một số năm gần đây và chưa đạt mức tăng 7% đề ra cho cả năm 2008, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm mà nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng như trên là một kết quả quan trọng và rất đáng phấn khởi.

Tốc độ tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994

%

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trướcĐóng góp vào tăng trưởng  (điểm phần trăm)
9 tháng năm 20069 tháng năm 20079 tháng năm 2008
TỔNG SỐ7,848,166,526,52
Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản3,413,223,570,64
Khu vực công nghiệp, xây dựng9,7810,077,092,95
Khu vực dịch vụ8,068,527,232,93

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng trưởng của ngành nông nghiệp đạt 3,05%, cao hơn mức 2,2% của cùng kỳ năm trước do vụ lúa đông xuân và hè thu năm nay được mùa. Khu vực công nghiệp và xây dựng chịu ảnh hưởng lớn do giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng cao, hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn nên công nghiệp chế biến là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhưng chỉ tăng 11,45%, thấp hơn mức tăng 12,64% của 9 tháng năm trước; công nghiệp khai thác giảm 4,69%; xây dựng giảm 0,33% (9 tháng năm 2007 tăng 10,14%). Các ngành dịch vụ nhìn chung tăng chậm hoặc thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2007, trong đó thương nghiệp chiếm tỷ trọng 3,9% của toàn ngành dịch vụ nhưng chỉ tăng 6,31% so với mức tăng 8,27% của 9 tháng năm 2007; khách sạn nhà hàng tăng 8,89% so với mức tăng 12,73% của cùng kỳ năm trước; các ngành dịch vụ khác cũng tăng chậm, hầu hết có tốc độ tăng thấp hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm trước.

2. Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2008 ước tính đạt 90,5% dự toán năm (cùng kỳ năm trước đạt 68,6% dự toán cả năm), trong đó thu nội địa đạt 84,8%; thu từ dầu thô đạt 86%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 111%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 83% dự toán cả năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 75%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 77,7%; thuế thu nhập từ người có thu nhập cao đạt 105,6%; thu phí xăng dầu đạt 68,3%; thu phí, lệ phí đạt 72,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2008 ước tính đạt 78% dự toán năm (cùng kỳ năm trước đạt 66,6%), trong đó chi đầu tư phát triển đạt 68,6% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 64,8%); chi sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương) đạt 77,7%; chi trả nợ và viện trợ đạt 75,8%.

3. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng theo giá thực tế ước tính đạt 422,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó khu vực Nhà nước 162,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,4% tổng vốn và tăng 8%; khu vực ngoài Nhà nước 118,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 28% và giảm 9,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 141,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,6% và tăng 165%.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính 65,8 nghìn tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch năm, trong đó vốn Trung ương quản lý đạt 20,7 nghìn tỷ đồng, đạt 62,3%; vốn địa phương quản lý đạt 45,1 nghìn tỷ đồng, đạt 69,4%. Khối lượng vốn thực hiện của các Bộ, Ngành và địa phương nhìn chung đạt thấp: Bộ Xây dựng 90 tỷ đồng, chỉ đạt 25,6% kế hoạch năm; Bộ Giao thông Vận tải 3,7 nghìn tỷ đồng, đạt 58,7%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 759,2 tỷ đồng, đạt 67,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 303,9 tỷ đồng, đạt 68,9%. Các địa phương có tiến độ giải ngân nhanh là: Lâm Đồng đạt 95,2% kế hoạch năm; Quảng Trị đạt 89,3%; Thái Nguyên 86,1%; Yên Bái 84,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu 81,1%.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt kết quả khá cao. Trong tháng 9/2008 cả nước có 113 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký 9,9 tỷ USD, nâng tổng số dự án cấp mới từ đầu năm đến 22/9/2008 lên 885 dự án với tổng vốn đăng ký 56,3 tỷ USD, trong đó lĩnh vực công nghiệp và xây dựng 32,3 tỷ USD, chiếm 57,5% tổng vốn đăng ký; lĩnh vực dịch vụ 23,7 tỷ USD, chiếm 42,1%. Nếu tính cả 855,7 triệu USD vốn đăng ký tăng thêm của 225 dự án cấp phép các năm trước thì tổng vốn đăng ký 9 tháng cả nước là 57,1 tỷ USD, gấp gần 5 lần so với cùng kỳ năm 2007; vốn thực hiện đạt 8,1 tỷ USD, bằng 14,2% vốn đăng ký và tăng 37,3% so với 9 tháng 2007.

Vốn đăng ký tăng cao chủ yếu do nhiều dự án lớn được cấp giấy phép như: Dự án Công ty TNHH thép Vinashin-Lion của Ma-lai-xi-a có số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD; Dự án Công ty gang thép Hưng Nghiệp Formosa của Đài Loan 7,9 tỷ USD; Dự án Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn-Thanh Hóa của Nhật Bản và Cô-oét liên doanh 6,2 tỷ USD; Dự án Công ty TNHH New City Việt Nam 4,3 tỷ USD; Dự án Hồ Tràm của Ca-na-đa trên 4,2 tỷ USD.

Trong 9 tháng vừa qua, trong số 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép đầu tư trực tiếp cho các đối tác nước ngoài thì Ninh Thuận dẫn đầu với 9,8 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Bà Rịa-Vũng Tàu 9,3 tỷ USD, chiếm 16,6%; thành phố Hồ Chí Minh gần 8 tỷ USD, chiếm 14,2%; Hà Tĩnh 7,9 tỷ USD, chiếm 14%; Thanh Hóa 6,2 tỷ USD, chiếm 11%; Phú Yên 4,3 tỷ USD, chiếm 7,7%; Kiên Giang 2,3 tỷ USD, chiếm 4,1%.

Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Ma-lai-xi-a là nhà đầu tư lớn nhất với 14,9 tỷ USD, chiếm 26,4% tổng vốn đăng ký; Đài Loan 8,6 tỷ USD, chiếm 15,3%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, chiếm 12,9%; Bru-nây 4,4 tỷ USD, chiếm 7,8%; Ca-na-đa 4,2 tỷ USD, chiếm 7,5%; Xin-ga-po 4 tỷ USD, chiếm 7,2%.

Số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài thời gian gần đây tăng nhanh. Điều đó cho thấy, mặc dù tình hình kinh tế trong nước vẫn còn khó khăn nhưng nước ta vẫn là điểm đến khá tin cậy và hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế.

Việc thu hút vốn ODA tiếp tục xu hướng tích cực. Từ đầu năm đến ngày 23/9/2008 nguồn vốn này đã được hợp thức hoá thông qua các hiệp định ký kết với các nhà tài trợ đạt 1826 triệu USD, gồm có viện trợ không hoàn lại 184 triệu USD, vốn vay 1642 triệu USD. Số vốn ODA giải ngân 9 tháng đạt 1415 triệu USD, bằng 74,5% kế hoạch giải ngân cả năm 2008, trong đó viện trợ không hoàn lại đạt 188 triệu USD, vốn vay đạt 1227 triệu USD.

4. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 144,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm nông nghiệp đạt 103,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8%; lâm nghiệp đạt 4,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5%; thuỷ sản đạt 36,2 nghìn tỷ đồng, tăng 7,91%. Tình hình sản xuất cụ thể như sau:

Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng 9, cả nước đã thu hoạch 1,8 triệu ha lúa hè thu, đạt 76,3% diện tích gieo cấy với năng suất ước tính đạt 47,8 tạ/ha và sản lượng đạt 11,3 triệu tấn (so với vụ hè thu năm trước năng suất tăng 1,8 tạ/ha, sản lượng tăng 1,13 triệu tấn), trong đó đồng bằng sông Cửu Long 9,2 triệu tấn (tăng 86,1 vạn tấn). Tính chung sản lượng lúa đông xuân và hè thu năm nay ước tính đạt 29,6 triệu tấn, tăng 2,4 triệu tấn so với năm trước. Hiện nay, cả nước đã cơ bản kết thúc gieo cấy lúa mùa, diện tích gieo trồng ước tính đạt 2004 nghìn ha, giảm 3,3 nghìn ha so với vụ mùa trước chủ yếu do mưa lũ tại các tỉnh miền núi phía Bắc, duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ làm một số diện tích gieo cấy bị hỏng.

Nếu những tháng cuối năm, vụ mùa không bị ảnh hưởng bởi thời tiết và sâu bệnh thì sản lượng có thể đạt gần 9 triệu tấn và sản lượng lúa cả năm ước tính đạt 38,6 triệu tấn, tăng 2,6 triệu tấn so với năm 2007. Do sản lượng lúa tăng cao nên mặc dù các ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo đã thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ đẩy mạnh thu mua lúa cho nông dân nhưng lúa hàng hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn tồn đọng lớn.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tuy bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và rét đậm, rét hại đầu năm ở nhiều địa phương phía Bắc nhưng nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và triển khai kịp thời công tác khắc phục hậu quả trong phòng chống dịch nên chăn nuôi vẫn duy trì được xu hướng phát triển. Đàn trâu cả nước không giảm; đàn bò tăng 3-4%; đàn lợn tăng 1%; đàn gia cầm tăng 6-7%. Dịch bệnh trên gia súc, gia cầm cơ bản đã được khống chế. Tính đến ngày 23/9/2008, trong cả nước chỉ còn tỉnh Bến Tre có dịch cúm gia cầm; tỉnh Hà Tĩnh có dịch lở mồm long móng và tỉnh Cà Mau có dịch bệnh tai xanh chưa qua 21 ngày. Tuy nhiên, hiện nay hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình còn phổ biến nên cần đề phòng dịch bệnh gia súc, gia cầm tái bùng phát.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung 9 tháng ước tính đạt 150,3 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 165,1 triệu cây, giảm 0,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2435,3 nghìn m3, tăng 4,3%. Công tác bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường, các dự án khuyến nông, lâm theo các Chương trình quốc gia được triển khai và thực hiện tốt tại các địa phương nên hiện tượng cháy rừng và chặt phá rừng 9 tháng đã giảm nhiều. Trong 9 tháng, cả nước có 2417,8 ha rừng bị thiệt hại, bằng 44,3% cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 1033,6 ha, bằng 24,3% cùng kỳ năm trước.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 3408,5 nghìn tấn, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: nuôi trồng 1828,5 nghìn tấn, tăng 20,9%; khai thác 1580 nghìn tấn, tăng 0,1%. Sản lượng thuỷ sản 9 tháng tăng chủ yếu là do những tháng đầu năm giá các loại thuỷ sản nói chung và giá cá tra, cá ba sa tăng cao đã khuyến khích ngư dân nhiều địa phương mở rộng diện tích nuôi và đẩy mạnh đầu tư thâm canh. Tại thời điểm cuối tháng 6/2008 diện tích nuôi cá tra của An Giang đạt 1400 ha, tăng 20,6% so với thời điểm cuối năm 2007; Cần Thơ 1200 ha, tăng 22,1%; Vĩnh Long 450 ha, tăng 13,2%; Bến Tre trên 360 ha, gấp 5 lần. Do phát triển ồ ạt và tự phát nên những tháng vừa qua sản lượng cá tra đến kỳ thu hoạch tăng đột biến, tồn đọng lớn. Vừa qua Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo ngân hàng cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản vay vốn với lãi suất thấp để thu mua cá tra cho các hộ. Tuy đến nay lượng cá tra tồn đọng ở các địa phương đồng bằng sông Cửu Long cơ bản đã được giải quyết nhưng sẽ ảnh hưởng lớn đến sản lượng thuỷ sản những tháng cuối năm vì nhiều hộ đã thu hẹp diện tích nuôi trồng.

5. Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2008 gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào tăng mạnh, nguồn vốn kinh doanh hạn chế do lãi suất cho vay của ngân hàng luôn ở mức cao. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 theo giá so sánh 1994 tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: kinh tế Nhà nước tăng 6,4%; kinh tế ngoài Nhà nước tăng 19,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,5% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 9,8%).

Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 493,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước[1]. Trong ba ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp khai thác đạt 26,1 nghìn tỷ đồng, giảm 3,5% chủ yếu do sản lượng dầu thô tiếp tục giảm và sản lượng than khai thác tăng chậm; công nghiệp chế biến đạt 440 nghìn tỷ đồng, tăng 17,5%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước đạt 27,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14%. Sản xuất công nghiệp của các khu vực kinh tế 9 tháng năm nay đều tăng thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2007, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 6,4% (Trung ương quản lý tăng 9%; địa phương quản lý giảm 1,7%); kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,9% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 5,8%; các ngành khác tăng 20,4%).

Trong số các địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn, một số địa phương đạt tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung là: Vĩnh Phúc tăng 32,6%; Bình Dương tăng 23,8%; Đồng Nai tăng 18,6%; Hải Phòng tăng 18%; Hải Dương tăng 16,3%; Phú Thọ tăng 16,1%. Một số địa phương tăng thấp hơn mức tăng chung như: Cần Thơ tăng 15,1%; Hà Nội tăng 14%; Quảng Ninh tăng 13,7%; Đà Nẵng tăng 13,6%; Khánh Hòa tăng 13,5%; TP. Hồ Chí Minh tăng 12,8%; riêng Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 1,6%.

Những sản phẩm công nghiệp đạt mức tăng cao so với 9 tháng năm trước là: Xe tải tăng 72,2%; xe chở khách tăng 67,4%; máy giặt tăng 38,2%; sữa bột tăng 29,4%; tủ lạnh, tủ đá tăng 26,7%; thủy hải sản chế biến tăng 24,6%; ti vi tăng 23,9%; quần áo người lớn tăng 22,7%; xà phòng giặt tăng 20,3%; biến thế điện tăng 19,8%. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều sản phẩm có tốc độ tăng thấp, thậm chí giảm như: Giầy thể thao tăng 14%; nước máy thương phẩm tăng 12,4%; điện sản xuất tăng 12,3%; giấy, bìa tăng 11,6%; xi măng tăng 10,9%; xe máy tăng 7,8%; dầu thô khai thác giảm 7,6%; điều hòa nhiệt độ giảm 3,6%; phân hóa học giảm 1,8%; thép tròn giảm 1%.

6. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 694,4 nghìn tỷ đồng, tăng 30,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm nay tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp đạt 571,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 82,3% tổng số và tăng 30,5%; khách sạn, nhà hàng đạt 79,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4%, tăng 25,7%; dịch vụ đạt 34,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 5% và tăng 30,9%; du lịch đạt 9,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3%, tăng 45,2%.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 9/2008 tăng 0,18% so với tháng trước, là mức tăng thấp nhất trong vòng 17 tháng gần đây và cũng là mức tăng thấp nhất so với mức tăng tháng 9 của các năm từ 2004 đến nay1. Giá tiêu dùng tháng 9 tăng chậm lại, một mặt do giá trên thị trường thế giới của một số hàng hoá nước ta nhập khẩu đã giảm và sản xuất nông nghiệp trong nước được mùa, nhưng yếu tố quan trọng nhất là do những nỗ lực của các cấp, các ngành trong việc thực hiện 8 nhóm giải pháp của Chính phủ. Tuy nhiên, trong 9 tháng vừa qua giá hàng hoá và dịch vụ đã tăng với tốc độ cao. Giá tiêu dùng tháng 9/2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 21,87%; so với cùng kỳ năm trước tăng 27,9%. Giá tiêu dùng bình quân 9 tháng 2008 so với 9 tháng năm 2007 tăng 22,76%.

Giá vàng tháng 9/2008 so với tháng trước giảm 6,36%; so với tháng 12 năm trước tăng 9,03%, so với cùng kỳ năm trước tăng 28,58%. Giá đô la Mỹ giảm 0,75% so với tháng trước; tăng 3% so với tháng 12/2007; tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2008 ước tính đạt 5,3 tỷ USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm trước, nhưng giảm 11,9% so với tháng trước do lượng và giá xuất khẩu của một số mặt hàng giảm; trong đó dầu thô giảm 279 nghìn tấn, kim ngạch giảm 394 triệu USD; hàng dệt may giảm 101 triệu USD; giày dép giảm 72 triệu USD; gạo tuy tăng 39 nghìn tấn nhưng kim ngạch giảm 39 triệu USD; thuỷ sản giảm 33 triệu USD.

Tính chung 9 tháng năm 2008, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 48,6 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 21,9 tỷ USD, tăng 44,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 17,8 tỷ USD, tăng 28,1%; dầu thô đạt 8,8 tỷ USD, tăng 52%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 9 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 32,7%, nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 44,5%; nhóm hàng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 22,8%.

Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng trong 9 tháng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Đến nay đã có 10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: Dầu thô đạt 8,8 tỷ USD, tăng 52%; hàng dệt may đạt 6,8 tỷ USD, tăng 20,2%; giày dép đạt 3,4 tỷ USD, tăng 18,2%; thuỷ sản đạt 3,3 tỷ USD, tăng 21,9%; gạo đạt 2,4 tỷ USD, tăng 89,7%; sản phẩm gỗ đạt 2 tỷ USD, tăng 19,4%; điện tử, máy tính đạt 1,9 tỷ USD, tăng 25,5%; cà phê đạt 1,6 tỷ USD, tăng 9,6%; cao su đạt 1,3 tỷ USD, tăng 33,6%; than đá đạt 1,1 tỷ USD, tăng 55,5%. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng cao chủ yếu vẫn do yếu tố giá xuất khẩu tăng, đặc biệt giá một số mặt hàng tăng liên tục trong 7 tháng đầu năm. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng (Dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè) và trị giá tái xuất hàng hoá thì tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng năm 2008 chỉ tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước.

Hàng hoá xuất khẩu 9 tháng sang các thị trường lớn đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường Mỹ đạt giá trị cao nhất với 8,5 tỷ USD, tăng 17% (Hàng dệt may đạt 3,8 tỷ USD; sản phẩm gỗ 780 triệu USD; giày dép 730 triệu USD; dầu thô 660 triệu USD); thị trường ASEAN đạt 8,4 tỷ USD, tăng 42%; EU đạt 7,8 tỷ USD, tăng 21% (hàng dệt may 1,2 tỷ USD, giày dép 1,9 tỷ USD); Ôx-trây-li-a đạt 3,5 tỷ USD, tăng 67%; Trung Quốc 3,3 tỷ USD, tăng 43%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2008 ước tính đạt 5,8 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước và giảm 7,6% so với tháng 8/2008. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm so với tháng trước là: Xăng dầu, sắt thép, sữa, chất dẻo, máy móc thiết bị, ô tô; trong đó xăng dầu giảm 308 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 96 triệu USD.

Tính chung kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 9 tháng ước tính đạt 64,4 tỷ USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 43 tỷ USD, tăng 53,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,4 tỷ USD, tăng 39,5%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 9 tháng, tư liệu sản xuất chiếm 90,7%; hàng tiêu dùng chiếm 5,7%.

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do lượng và giá nhập khẩu đều tăng cao. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của 5 mặt hàng (xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo và giấy) thì tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 9 tháng năm 2008 ước tính đạt 58 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm trước.

Hàng hoá nhập khẩu từ các nước ASEAN vẫn chiếm tỷ trọng lớn và tăng với tốc độ cao, ước tính 9 tháng đạt 15,7 tỷ USD, chiếm 24,4% tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu, tăng 70% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là Trung Quốc 12 tỷ USD, chiếm 18,6% và tăng 44,6%; EU 4,1 tỷ USD, chiếm 6,4% và tăng 13,8%. Một số thị trường khác tuy thị phần không lớn nhưng cũng có tốc độ tăng cao như Mỹ tăng 80%; Nhật Bản tăng 51%; Hàn Quốc tăng 50%; Đài Loan tăng 45%.

Nhập siêu những tháng gần đây đã giảm nhanh1. Nhập siêu hàng hóa 9 tháng là 15,8 tỷ USD, tăng 86% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,6% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu.

Vận tải

Vận chuyển hành khách 9 tháng năm 2008 ước tính đạt 1393,6 triệu lượt khách và 60,4 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước, tăng 8,2% về lượt khách và tăng 7,3% về lượt khách.km; bao gồm vận tải Trung ương đạt 26,4 triệu lượt khách và 16,4 tỷ lượt khách.km, tăng 16,4% về lượt khách và tăng 8% về lượt khách.km; vận tải địa phương đạt 1367,2 triệu lượt khách và 44 tỷ lượt khách.km, tăng 8,1% về lượt khách và tăng 7% về lượt khách.km.

Vận chuyển hành khách đường bộ đạt cao nhất với 1253,3 triệu lượt khách và 41,9 tỷ lượt khách.km so với cùng kỳ năm trước, tăng 8,8% về lượt khách và tăng 7,4% về lượt khách.km; gồm có đường sông đạt 119,2 triệu lượt khách và 2,4 tỷ lượt khách.km, tăng 3% và tăng 3,2%; đường sắt đạt 8,8 triệu lượt khách và 3,4 tỷ lượt khách.km, giảm 2,3% về số lượt khách và giảm 4,3% về số lượt khách.km; đường hàng không đạt 8 triệu lượt khách và 12,4 tỷ lượt khách.km, tăng 14,1% về lượt khách và tăng 11,6% về lượt khách.km.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển 9 tháng năm nay ước tính đạt 434,9 triệu tấn, 128,6 tỷ tấn.km, tăng 11,5% về tấn và tăng 42% về tấn.km so với cùng kỳ năm 2007; gồm có vận tải hàng hóa đường bộ 9 tháng đạt 308,6 triệu tấn và 16,3 tỷ tấn.km, tăng 12,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 24,1% về khối lượng luân chuyển so với 9 tháng năm trước; vận tải đường biển đạt 39 triệu tấn và 104,8 tỷ tấn.km, tăng 30% và tăng 50% do năng lực vận chuyển tăng 60 vạn tấn; đường sông đạt 80,7 triệu tấn và 4 tỷ tấn.km, tăng 3,2% và tăng 3,6%; đường sắt 6,5 triệu tấn và 3,2 tỷ tấn.km, giảm 3,3% và tăng 11,8%.

Du lịch

Khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng ước tính đạt 3,3 triệu lượt người, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng khách đến với mục đích du lịch đạt 2 triệu lượt người, tăng 4,3%; khách đến vì công việc đạt 661,6 nghìn lượt người, tăng 37,4%; khách đến thăm thân nhân đạt 414,1 nghìn lượt người, giảm 9,1%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không là 2,5 triệu lượt người, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2007; đường bộ 666 nghìn lượt người, tăng 28%; đường biển 124 nghìn lượt người, giảm 6,6%.

Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến lớn vẫn duy trì được mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Trung Quốc 509,5 nghìn lượt người, tăng 21%; Mỹ 332,8 nghìn lượt người, tăng 6%; Đài Loan 245,9 nghìn lượt người, tăng 3,3%; Thái Lan 142 nghìn lượt người, tăng 17,5%; Ma-lai-xi-a 127,3 nghìn lượt người, tăng 16,5%; Xin-ga-po 115,9 nghìn lượt người, tăng 21,5%. Bên cạnh đó, một số nước tuy có lượng khách đến đông nhưng giảm so với cùng kỳ năm trước như: Hàn Quốc 359,6 nghìn lượt người, giảm 0,7%; Nhật Bản 298,5 nghìn lượt người, giảm 2,6%; Pháp 137,4 nghìn lượt người, giảm 2,7%; Cam-pu-chia 106,9 nghìn lượt người, giảm 7,5%.

Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển tháng 9 ước tính đạt 1,9 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao 9 tháng năm 2008 lên 16,8 triệu thuê bao, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2007. Tính đến cuối tháng 9/2008, ước tính cả nước có 68,6 triệu thuê bao điện thoại, trong đó Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông đạt 37,7 triệu thuê bao (10 triệu thuê bao điện thoại cố định và 27,7 triệu thuê bao điện thoại di động). Mạng lưới bưu chính trên phạm vi cả nước hiện nay đã có 19,2 nghìn điểm phục vụ, trong đó trên 8 nghìn điểm bưu điện-văn hoá xã với bán kính phục vụ bình quân mỗi điểm là 2,35 km.

Số thuê bao internet phát triển tháng 9 ước tính đạt 128,7 nghìn thuê bao, 9 tháng đạt 1073,5 nghìn thuê bao, tăng 25,5% so với 9 tháng năm trước, nâng tổng số thuê bao internet đến cuối tháng 9/2008 lên 6,3 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông đạt 3,6 triệu thuê bao. Số người sử dụng internet đến cuối tháng 9/2008 ước tính 20,5 triệu người. Doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 9 tháng ước tính đạt 48,6 nghìn tỷ đồng, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông đạt 35 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6%. Trong tổng doanh thu thuần nêu trên, doanh thu viễn thông đạt 32 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6%; doanh thu bưu chính 1,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,1%.

II. XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư 9 tháng năm 2008 bị ảnh hưởng đáng kể do giá tiêu dùng vẫn đứng ở mức cao và thiên tai liên tiếp xảy ra. Tính từ đầu năm đến 20/9/2008, cả nước có 867,3 nghìn lượt hộ với 3608,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. So với cùng kỳ năm 2007, số lượt hộ thiếu đói tăng 61,4% và lượt nhân khẩu thiếu đói tăng 60,6%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, các cấp, các tổ chức đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 3 vạn tấn lương thực và hàng chục tỷ đồng.

Để hỗ trợ đồng bào phát triển kinh tế và thoát nghèo, Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai nhiều chương trình, dự án, trong đó có Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa. Trong 9 tháng năm 2008, Chương trình 135 giai đoạn II  đã đạt được một số kết quả quan trọng: Uỷ ban Dân tộc đã rà soát đối tượng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 69/2008/QĐ-TTg ngày 28/5/2008 về phê duyệt bổ sung danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư và danh sách xã thoát khỏi diện đầu tư của Chương trình 135. Tính đến nay cả nước có 1946 xã (kể cả 107 xã sẽ thoát khỏi diện đầu tư của Chương trình từ năm 2009 theo QĐ 69/2008/QĐ-TTG) và 3149 thôn đặc biệt khó khăn của xã khu vực II thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II. Trong đó có 1864 xã, 3015 thôn đặc biệt khó khăn thuộc ngân sách Trung ương đầu tư; 82 xã và 134 thôn đặc biệt khó khăn thuộc ngân sách địa phương đầu tư.

Tổng số vốn đầu tư của Chương trình 135 năm 2008 là 3867,4 tỷ đồng, trong đó 1942 tỷ đồng đã được phân bổ cho các địa phương từ đầu năm. Giá trị thực hiện các công trình, dự án thuộc Chương trình 135 trong 6 tháng đầu năm là 1625 tỷ đồng, đạt 43,6% kế hoạch, trong đó đã đầu tư xây dựng 2780 công trình với số vốn thực hiện ước tính 1170 tỷ đồng; Dự án Phát triển sản xuất 161 tỷ đồng; Dự án đào tạo cán bộ 55 tỷ đồng; Chính sách hỗ trợ học sinh con hộ nghèo 239 tỷ đồng.

2. Giáo dục và đào tạo

Giáo dục

Theo số liệu sơ bộ, trong 2 đợt thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2008, cả nước có 886,7 nghìn học sinh tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 86,6%, cao hơn tỷ lệ 80,4% của năm học trước. Các địa phương có tỷ lệ tốt nghiệp cao là: Hải Dương 98,5%; Thái Bình 97,8%; Nam Định 97,6%; Quảng Ninh 97,2% và Hà Nội 96,8%. Cũng trong kỳ thi này, cả nước có 103,6 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học bổ túc văn hoá, đạt tỷ lệ 67,4%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 44,5% của kỳ thi năm trước.

Để nâng cao chất lượng dạy và học, ngành Giáo dục đã liên tục mở các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, do đó tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của các cấp năm học 2007-2008 đều tăng so với năm học 2006-2007. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của nhà trẻ chiếm 79,6% tổng số giáo viên nhà trẻ; mẫu giáo chiếm 94,3%; tiểu học chiếm 97,3%; trung học cơ sở chiếm 97,4% và trung học phổ thông chiếm 97,5%. Phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng đạt được kết quả nhất định. Tính đến tháng 6/2008, cả nước có 1380 trường mầm non (chiếm 11,2% tổng số trường hiện có) đạt chuẩn quốc gia; 4359 trường tiểu học (chiếm 29,2%) và 824 trường trung học cơ sở (chiếm 8,4%).

Tình trạng học sinh bỏ học tuy đã được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm nhưng vẫn tiếp tục diễn ra. Theo báo cáo của 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, số học sinh tiểu học bỏ học năm học 2007-2008 chiếm 0,64% số học sinh tiểu học; trung học cơ sở chiếm 2,33% và trung học phổ thông chiếm 3,39%. Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ học sinh bỏ học cao nhất với 2,69% ở cấp tiểu học; 7,34% ở cấp trung học cơ sở và 14,7% ở cấp trung học phổ thông; tiếp đến là vùng đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ học sinh bỏ học của 3 cấp lần lượt là 1,18%, 4,81% và 5,38%. Những địa phương có tỷ lệ học sinh trung học phổ thông bỏ học trên 10% là: Gia Lai 17,76%; Lâm Đồng 13,4%; Điện Biên 11,41%.

Đào tạo

Trong kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2008, cả nước có 311 trường đại học, cao đẳng và học viện tổ chức thi tuyển. Tính chung cả ba đợt thi đã có 1,66 triệu lượt thí sinh dự thi, tăng 21,3% so với năm 2007. Chỉ tiêu tuyển sinh đại học và cao đẳng năm nay cũng tăng so với năm trước. Theo số liệu chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số tuyển mới vào hệ chính quy năm 2008 của hệ đại học là 234 nghìn sinh viên, tăng 12,1% so với năm trước; hệ cao đẳng 191,5 nghìn sinh viên, tăng 25,6%. Đến nay nước ta đã đạt mức 188 sinh viên đại học, cao đẳng/1vạn dân, đạt 94% mục tiêu quốc gia năm 2010.

3. Y tế và chăm sóc sức khoẻ dân cư

Từ đầu năm đến cuối tháng 9 vừa qua, cả nước có 48,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 21,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 49 trường hợp đã tử vong; 4,8 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, giảm 10,8%; 4,6 nghìn trường hợp tiêu chảy cấp, trong đó 770 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả; 550 trường hợp viêm não vi rút, 8 trường hợp tử vong. Trong tháng 9 cũng đã phát hiện thêm 1,1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV tính từ ca phát hiện đầu tiên đến nay lên 173 nghìn trường hợp, trong đó 69 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 41 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đã được các cấp, các ngành quan tâm nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện rõ rệt. Trong tháng 9 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 19 vụ ngộ độc thực phẩm tại 14 tỉnh, thành phố, làm hơn 300 trường hợp phải nhập viện. Tính chung 9 tháng năm 2008, đã có 6,7 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 49 người đã tử vong. Thời gian qua, Bộ Y tế đã phối hợp với các Bộ, Ngành tổ chức nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra, qua đó đã phát hiện nhiều trường hợp vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nổi bật là hiện tượng sản phẩm sữa chứa độc tố melamine gây nguy hiểm cho người tiêu dùng nhất là trẻ em.

Vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn còn rất nặng nề gây bức xúc trong cộng đồng dân cư. Qua các vụ việc vừa phát hiện cho thấy một số doanh nghiệp vi phạm hết sức nghiêm trọng với các biện pháp kỹ thuật khá tinh vi. Thực trạng này cần được xã hội nghiêm khắc phê phán, cần phải tăng cường quản lý chặt chẽ hơn nữa, đồng thời cần có chế tài xử phạt nghiêm khắc và giám sát quyết liệt.

4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong 9 tháng năm 2008, ngành Văn hóa Thông tin đã tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin, báo chí chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc và các sự kiện quan trọng của đất nước. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tiếp tục được duy trì và đã nhận được sự quan tâm, nhiệt tình hưởng ứng của đông đảo tầng lớp dân cư.

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng không ngừng phát triển với nội dung ngày càng phong phú. Trong 9 tháng, ngành thể dục thể thao đã phối hợp với các ngành khác tổ chức thành công nhiều hoạt động thể dục, thể thao như: Giải trẻ Võ thuật cổ truyền toàn quốc lần thứ IX; Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ VII với sự tham gia của 8 nghìn vận động viên tranh tài ở 17 môn thi đấu và nhiều giải thể thao quần chúng khác.

Trong hoạt động thể thao thành tích cao, ngành Thể dục thể thao đang tích cực chuẩn bị để tổ chức Đại hội thể thao Châu Á trong nhà lần thứ 3 năm 2009 tại Việt Nam và nhiều giải thi đấu trong và ngoài nước khác. Từ đầu năm đến nay, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tổ chức thành công 111 giải thi đấu thể thao thành tích cao trong nước và cử vận động viên tham dự nhiều giải thi đấu khác ở nước ngoài, giành được 460 huy chương các loại, trong đó 3 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ tại giải Thể hình vô địch Châu Á; 1 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ tại giải Điền kinh ngôi sao Châu Á; 13 HCV, 9 HCB, 10 HCĐ tại giải Điền kinh học sinh Châu Á. Tại Olympic Bắc Kinh 2008, đoàn thể thao Việt Nam đã giành được 1 HCB môn cử tạ hạng 56kg, đứng vị trí thứ 71/202 nước tham gia.

5. Tai nạn giao thông 

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các địa phương đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp nhằm hạn chế tai nạn giao thông nên tình hình trật tự an toàn giao thông đã có chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông giảm đáng kể. Tính chung 8 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8518 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7741 người và làm bị thương 5562 người. So với cùng kỳ năm 2007, số vụ tai nạn giảm 14,3%; số người chết giảm 13,5%; số người bị thương giảm 26,9%. Bình quân một ngày trong 8 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 34,9 vụ tai nạn giao thông; làm chết 31,7 người và làm bị thương 22,8 người. So với 8 tháng đầu năm 2007, bình quân một ngày giảm 6 vụ, số người chết giảm 5 người và số người bị thương giảm 8 người.

6. Thiệt hại do thiên tai

Trong 9 tháng năm 2008, thiên tai xảy ra ở nhiều địa phương, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo đánh giá sơ bộ và chưa tính thiệt hại của cơn bão số 6 thì thiên tai đã làm 286 người chết và mất tích, trong đó Lào Cai có 92 người; Yên Bái 45 người. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 2728 tỷ đồng (Lào Cai 953 tỷ đồng, Yên Bái 473 tỷ đồng), tăng 192 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục hậu quả, lãnh đạo các địa phương đã khẩn trương triển khai công tác cứu trợ nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất của dân. Các hộ bị thiệt hại được trợ cấp 406 tỷ đồng và 913 tấn gạo cùng các nhu yếu phẩm cần thiết khác.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta 9 tháng năm 2008 tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do những tác động bất lợi cả ở trong và ngoài nước nhưng nhờ sự lãnh đạo, điều hành quyết liệt của Đảng, Chính phủ, sự nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành, các địa phương nên kinh tế phát triển ổn định. Tổng sản phẩm trong nước tăng 6,52% so với 9 tháng năm 2007; thu ngân sách đạt tỷ lệ cao; sản xuất nông nghiệp được mùa; lạm phát đã bắt đầu được kiềm chế; hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn ODA đạt được kết quả vượt trội; một số vấn đề xã hội đã được giải quyết có kết quả, an sinh xã hội được bảo đảm. Kết quả đạt được trong 9 tháng vừa qua bước đầu đã khẳng định những giải pháp mà Chính phủ đã đề ra và chỉ đạo quyết liệt trong thời gian vừa qua là phù hợp với thực tế và đang phát huy tác dụng tích cực.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế-xã hội những tháng cuối năm còn gặp nhiều khó khăn: Tiến độ giải ngân các công trình, dự án chậm; nhập siêu tuy đã giảm nhưng vẫn còn lớn; giá cả trên thị trường thế giới biến động khó lường; giá cả nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước sau một thời gian liên tục tăng đến nay tuy chững lại nhưng đã ở mức cao, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư. Trong khi đó nhiệm vụ còn lại rất nặng nề. Muốn đạt mục tiêu Quốc hội đề ra cho cả năm 2008 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 7% thì 3 tháng cuối năm phải tăng trên 8%. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2008, các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị phải tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả kết luận số 25-KL/TW ngày 5/8 của Bộ Chính trị và các giải pháp mà Chính phủ đã đề ra; trong đó cần chú trọng một số vấn đề sau:

Một là, chỉ số giá tiêu dùng đã có xu hướng giảm rõ rệt nhưng giá cả đã ở mức cao và những tháng cuối năm vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng giá trở lại. Do đó kiềm chế lạm phát vẫn phải được ưu tiên hàng đầu. Cần có cơ chế tạo quỹ hàng hoá dự trữ đối với các mặt hàng thiết yếu để kịp thời phục vụ trong những tháng áp Tết có đột biết lớn về cung-cầu hàng hoá, dịch vụ.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nhằm phát triển nguồn hàng cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tăng cường sản xuất sản phẩm công nghiệp có giá trị tăng thêm cao và các mặt hàng ta đang có thế mạnh; tập trung thực hiện bằng được chỉ tiêu khai thác 16 triệu tấn dầu khí; không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới; giám sát chặt chẽ cơ cấu hàng xuất, nhập khẩu, tiếp tục hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu, tăng cường khai thác mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt xuất khẩu gạo và các loại nông, lâm, thủy sản chế biến.

Ba là, tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ theo hướng bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và dân cư; đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ sản xuất kinh doanh cá thể dễ dàng trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để đầu tư phát triển sản xuất; cùng với việc triển khai chủ trương của Chính phủ đình hoãn các công trình chưa thật cần thiết hoặc kém hiệu quả, tiếp tục tháo gỡ các thủ tục về đầu tư xây dựng và làm tốt công tác giải phóng mặt bằng để nhanh chóng giải ngân đưa các công trình trọng điểm quốc gia đi vào hoạt động.

Bốn là, tăng cường quản lý giá chặt chẽ, nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của công tác chống buôn lậu, chống hàng gian, hàng giả, hàng kém chất lượng; tuyệt đối không để các doanh nghiệp lợi dụng yếu tố khó khăn để đầu cơ, nâng giá hàng hoá và dịch vụ; thực hiện nghiêm Công văn số 5159/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh việc thu mua tiêu thụ hết lúa, gạo vụ hè thu 2008 ở đồng bằng sông Cửu Long. Có cơ chế để các doanh nghiệp mua hết lượng thủy sản nuôi trồng và đánh bắt của nhân dân.

Năm là, làm tốt công tác dự báo để đối phó kịp thời với những diễn biến bất lợi của thời tiết có thể xảy ra nhằm hạn chế tối đa thiệt hại; thực hiện hiệu quả  công tác phòng trừ dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và chỉ đạo triển khai để các cơ chế chính sách, kinh phí hỗ trợ của nhà nước nhanh chóng đến với người dân được thụ hưởng; đồng thời tăng cường hơn nữa vai trò và trách nhiệm của cộng đồng trong việc chăm lo công tác chính sách xã hội, từng bước nâng cao đời sống dân cư.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] 9 tháng năm 2007 tăng 17,1%; 9 tháng năm 2006 tăng 16,8% và 9 tháng năm 2005 tăng 16,5%

1 Giá tiêu dùng tháng 9/2004 tăng 0,3%; tháng 9/2005 tăng 0,8%; tháng 9/2006 tăng 0,3%; tháng 9/2007 tăng 0,5%.

1 Từ mức nhập siêu 3,2 tỷ USD tháng 4 đã giảm xuống còn 1,9 tỷ USD  tháng 5; 728 triệu USD tháng 6;

753 triệu USD tháng 7; 258 triệu USD tháng 8 và 500 triệu USD tháng 9.