Năm 2001 là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2001-2005, đồng thời cũng là năm tạo tiền đề vật chất và tinh thần triển khai chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Do vậy, Quốc hội đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2001 với 11 chỉ tiêu chủ yếu là:
1. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,5%;
2. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,5%;
3. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14%;
4. Giá trị các ngành dịch vụ tăng 7%;
5. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16%;
6. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 30% tổng sản phẩm trong nước;
7. Lạm phát không quá 5%;
8. Tạo việc làm mới cho khoảng 1,4 triệu lao động;
9. Đào tạo nghề cho 840 nghìn người;
10. Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn mới xuống còn 16%(*);
11. Giảm tỷ lệ sinh 0,05%.
Trên cơ sở số liệu thực hiện 5 tháng và ước tính tháng 6, Tổng cục Thống kê khái quát diễn biến tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm, trong đó có kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kế hoạch nêu trên như sau:

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ.
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2001 tăng 7,1% so với 6 tháng đầu năm 2000, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,9%; khu vực dịch vụ tăng 6,7%. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm nay tuy thấp hơn mục tiêu đề ra cho cả năm là tăng 7,5%, nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng 4,3% trong 6 tháng đầu năm 1999 và tăng 6,2% trong 6 tháng đầu năm 2000.

Do kinh tế tăng trưởng và công tác thu ngân sách có tiến bộ nên tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng ước tính đạt 54,2% dự toán cả năm và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các khoản thu từ sản xuất kinh doanh đều đạt trên dưới 50% dự toán cả năm và tăng hơn cùng kỳ năm trước: Thu từ kinh tế Nhà nước đạt 47,4% và tăng 3%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 66,3% và tăng 13,7% (Riêng thu từ dầu thô đạt 70,3% và tăng 15,7 %); thu thuế xuất, nhập khẩu đạt 51,3% và tăng 18%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng ước tính đạt 44,7% dự toán cả năm và tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 36,3% và tăng 22,7%; chi cho giáo dục và đào tạo đạt 50,8% và tăng 4,4%; chi bảo đảm xã hội đạt 50,6% và tăng 10,4%; chi cho y tế đạt 50,3% và tăng 4,4%; chi cho sự nghiệp kinh tế đạt 50,6% và tăng 10,5%; chi giải quyết tiền lương đạt 50,5% và tăng 23,4%; chi trả nợ trong nước đạt 59,7% và tăng 68,4%. Bội chi ngân sách 6 tháng ước tính bằng 10,9% tổng số thu; bằng 9,8% tổng số chi và được bù đắp bằng nguồn vay, trong đó vay trong nước bù đắp 82,4% tổng mức bội chi; vay nước ngoài bù đắp 17,6% còn lại.

Tính chung chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm giảm 0,7% so với tháng 12/2000, nhưng trong các nhóm hàng hoá và dịch vụ chỉ có lương thực giảm 5,7%, phương tiện đi lại và bưu điện giảm 1,2%, những nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại đều tăng 0,2 – 1,8%. Nếu so với mức giá tháng 6/2000, tức là sau một năm, chỉ số giá tiêu dùng chỉ giảm 0,3% và cũng tập trung vào giá hai nhóm hàng hoá và dịch vụ là giá lương thực giảm 6%; giá phương tiện đi lại và bưu điện giảm 1,2%; còn giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ khác phần lớn tăng 1-2%: Giá đồ uống và thuốc lá tăng 2,4%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,7%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,1%; dược phẩm và y tế tăng 1,5%; giáo dục tăng 3,9%; văn hoá, thể thao giải trí tăng 0,4%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 2,8%.
Tuy nhiên, qua số liệu chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2001 so với tháng 12/2000 cũng như so với tháng 6/2000 nổi lên vấn đề giá lương thực bị giảm sút mạnh. Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và bức xúc vì liên quan đến đời sống của hàng triệu nông dân, nhất là nông dân vùng chuyên canh lúa đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.

2. Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản.

a. Nông nghiệp.
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm là gieo cấy và thu hoạch lúa đông xuân. Theo báo cáo của các địa phương, vụ đông xuân này miền Bắc đã gieo cấy được 1176,4 nghìn ha, tăng 14 nghìn ha so với vụ đông xuân trước. Năng suất lúa đông xuân miền Bắc ước tính đạt 53,1 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2000, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 60 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; vùng Bắc Trung Bộ đạt 49,7 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha. Do tăng cả về diện tích gieo cấy và năng suất nên sản lượng lúa đông xuân vụ này của miền Bắc ước tính đạt 6,3 triệu tấn, tăng 91,9 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước.
Các địa phương phía Nam gieo cấy được 1879,6 nghìn ha, tăng 28,8 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2000, nhưng thời tiết cuối vụ không thuận nên năng suất bình q uân chỉ đạt 49,2 tạ/ha, giảm 1,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long giảm 2,2 tạ/ha (An Giang giảm 5,4 tạ/ha; Kiên Giang giảm 4,8 tạ/ha; Vĩnh Long giảm 4 tạ/ha; Trà Vinh giảm 9,6 tạ/ha). Do năng suất thấp nên sản lượng lúa đông xuân vụ này của các địa phương phía Nam chỉ đạt 9,2 triệu tấn, giảm 176,2 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước.
Như vậy, tính chung sản lượng lúa đông xuân vụ này của cả nước đạt 15,5 triệu tấn, giảm 84,3 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2000. Nếu tính cả 1 triệu tấn ngô thì sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm nay đạt 16,5 triệu tấn, tuy giảm 26,7 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước nhưng vẫn là vụ đông xuân đạt sản lượng tương đối cao.

Để giúp nông dân, nhất là nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long tiêu thụ hết lúa hàng hoá, ngày 6/3/2001 Chính phủ đã có Quyết định số 233/QĐ-TTg và ngày 10/4/2001 có Quyết định số 397/QĐ-TTg về các giải pháp liên quan đến việc mua tạm trữ và đẩy mạnh xuất khẩu gạo; ngày 24/5/2001 Chính phủ lại có Nghị quyết số 05/2001/NQ-CP bổ sung một số giải pháp điều hành kế hoạch năm 2001, trong đó có những giải pháp về mặt hàng lúa gạo. Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực, đến ngày 30/4/2001 ngành lương thực đã hoàn thành kế hoạch mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo.
Cùng với việc khẩn trương thu hoạch lúa đông xuân cuối vụ, các địa phương còn đẩy manh gieo cấy lúa hè thu, gieo trồng ngô, khoai lang, sắn, rau đậu và cây công nghiệp ngắn ngày. Tính đến trung tuần tháng 6, cả nước đã gieo cấy được gần 1,9 triệu ha lúa hè thu, bằng 96,4% so với cùng kỳ năm trước (Trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1,5 triệu ha, bằng 93,9%); 503,8 nghìn ha ngô, bằng 93,3%; 198,1 nghìn ha khoai lang, bằng 97%; 207,3 nghìn ha sắn, bằng 105,5%; 382,7 nghìn ha đậu, bằng 106,6%; 176,3 nghìn ha lạc, bằng 99,4%; 69,4 nghìn ha đậu tương, bằng 112,5%; 35,9 nghìn ha mía, bằng 180,8% và 22,8 nghìn ha thuốc lá, bằng 116,3%.
Do trồng trọt, nhất là sản xuất lương thực đạt kết quả khá, tạo thêm nguồn thức ăn cho chăn nuôi và giá thực phẩm tương đối ổn định nên đã khuyến khích nông dân đầu tư phát triển chăn nuôi, trước hết là chăn nuôi gia súc và gia cầm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2001, đàn lợn của cả nước đạt 11,9 triệu con, tăng 496 nghìn con so với thời điểm 1/4/2000.
Khó khăn lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp hiện nay là tình hình tồn đọng nông sản hàng hoá và giá nông sản xuống thấp. Việc mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo tuy đã nâng giá thóc vùng đồng bằng sông Cửu Long cuối tháng 5 tăng 100-150 đồng/kg so với tháng 4, nhưng nhìn chung giá lúa của vùng này vẫn chưa cao hơn giá sàn, giá phổ biến mới đạt 1250-1300 đồng/kg; giá thóc vùng đồng bằng sông Hồng cũng chỉ đạt 1500-1700 đồng/kg. Giá cà phê loại I vẫn đứng ở mức thấp, khoảng 5800-6000 đồng/kg. Giá chè búp tươi hiện nay chỉ đạt trên dưới 2000 đồng/kg, giảm 8-9% so với cùng kỳ năm trước.
b. Lâm nghiệp.
Sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm có những mặt tiến bộ, nhất là việc huy đông vốn khoanh nuôi và chăm sóc rừng. Riêng vốn ngân sách 6 tháng đầu năm đã cấp cho chương trình 5 triệu ha rừng 150 tỷ đồng, đạt 44,8% kế hoạch năm và tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong 6 tháng đầu năm, trồng rừng tập trung của cả nước đạt 83,1 nghìn ha; khoanh nuôi và chăm sóc đạt 279,8 nghìn ha; trồng cây phân tán đạt 199,1 triệu cây. Ngoài ra, các đơn vị kinh tế Nhà nước còn khai thác được 194 nghìn m3 gỗ các loại.
Tồn tại lớn nhất trong sản xuất lâm nghiệp là mặc dù các cấp, các ngành và chính quyền các địa phương đã tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng nhưng tình trạng vi phạm lâm luật, chặt phá rừng và cháy rừng vẫn tiếp tục diễn ra. Trong 6 tháng đầu năm, Lâm Đồng đã phát hiện và xử lý 364 vụ khai thác rừng trái phép; 135 vụ đốt rừng; 531 vụ mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép, gồm 352 m3 gỗ tròn, 297 m3 gỗ xẻ; 1,2 tấn nhựa thông; 230 kg thịt động vật rừng… Đắk Lắk cũng phát hiện được 37 vụ chặt phá rừng trái phép với tổng diện tích rừng bị phá lên tới 868 ha; Quảng Bình phát hiện 406 vụ vi phạm, tịch thu 525 m3 gỗ, 1456 lít dầu de và 6040 kg động vật sống; Ninh Thuận phát hiện 484 vụ vi phạm, phạt tiền 203 triệu đồng, tịch thu 122 m3 gỗ tròn và 226 m3 gỗ xẻ; Bình Phước phát hiện 505 vụ vận chuyển lâm sản trái phép và 192 vụ phá rừng làm nương rẫy.

c. Thuỷ sản.
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tiếp tục phát triển mạnh. Sản lượng thuỷ sản các loại đánh bắt trong 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1168 nghìn tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 861 nghìn tấn, tăng 8,7%; tôm 97 nghìn tấn, tăng 9,4%. Trong tổng sản lượng thuỷ sản đánh bắt nêu trên, sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 299 nghìn tấn, chiếm 25,5% và tăng 10,8% so với 6 tháng đầu năm 2000; thuỷ sản khai thác tự nhiên 869 nghìn tấn, chiếm 74,5% và tăng 8,3%, (Riêng khai thác biển 725 nghìn tấn, tăng 9,8%).
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tăng nhanh chủ yếu là do ngư dân vùng ven biển đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ, đồng thời chương trình đánh bắt hải sản xa bờ ở một số địa phương bước đầu đã phát huy hiệu quả. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến nay đã đạt 630 nghìn ha, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi tôm 350 nghìn ha, tăng 20%; nuôi cá 272 nghìn ha, tăng 6%. Do diện tích nuôi trồng thuỷ sản phát triển trên diện rộng nên tình trạng thiếu cá giống và tôm giống đang xảy ra ở nhiều nơi. Riêng tôm giống ước tính thiếu khoảng 3-4 tỷ con. Việc kiểm định giống cũng như việc hướng dẫn nông dân kỹ thuật chọn giống, xử lý nước và chăm sóc thuỷ sản nuôi trồng chưa được chú ý đúng mức nên những tháng vừa qua dịch bệnh thuỷ sản đã phát sinh ở nhiều địa phương, gây thiệt hại tương đối lớn. Riêng dịch bệnh tôm sú đã gây thiệt hại trên diện tích 500 ha nuôi tôm ở Quảng Nam; 273 ha ở Bình Định; 350 ha ở Phú Yên và 400 ha ở Vĩnh Long. Dịch bệnh tôm sú cũng gây thiệt hại cho nông dân Thừa Thiên-Huế khoảng 2 tỷ đồng.

Tính chung giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 68,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với 6 tháng đầu năm 2000, trong đó nông nghiệp đạt 51,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 75% giá trị sản xuất của khu vực này nhưng chỉ tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước; lâm nghiệp đạt 3 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,5% và tăng 3,9%; thuỷ sản đạt 14 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,5% và tăng 10,3%. Tình hình này cho thấy, nếu những tháng cuối năm không có các biện pháp đồng bộ và hiệu quả tháo gỡ những khó khăn cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nói chung và cho sản xuất nông nghiệp nói riêng thì cả năm khu vực này khó có khả năng đạt mức tăng trưởng 4,5% như mục tiêu đề ra đầu năm.
3. Công nghiệp.
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng ước tính tăng 14,1% so với 6 tháng năm 2000, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,5% (Trung ương quản lý tăng 12,7%; địa phương quản lý tăng 9%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 17,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,1% (Dầu mỏ và khí đốt tăng 17,6%; các doanh nghiệp khác tăng 14,1%). Như vậy, 6 tháng đầu năm nay sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng vào loại cao trong những năm gần đây.

Hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp lớn trong 6 tháng đầu năm nay đã đạt tốc độ tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước: Hải Phòng tăng 18%; Phú Thọ tăng 20,4%; Vĩnh Phúc tăng 20,4%; Quảng Ninh tăng 22,6%; Đà Nẵng tăng 18,4%; Khánh Hoà tăng 19,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 16,5%; Bình Dương tăng 33,6%; Đồng Nai tăng 14,2%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 16,1%; Cần Thơ tăng 22,2%. Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương đạt tốc độ tăng không cao, thậm chí còn giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: Hà Nội chỉ tăng 6,7% và Hải Dương giảm 1,2%.
Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống 6 tháng đầu năm nay vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng tương đối cao so với 6 tháng đầu năm 2000: Điện tăng 14,6%; than tăng 16,6%; dầu thô tăng 17,5%; thuỷ sản chế biến tăng 17%; giấy bìa tăng 13,7%; xi măng tăng 18,9%; gạch lát tăng 45,4%; thép cán tăng 22,9%; máy biến thế tăng 22,4%; quạt điện dân dụng tăng 42,7%; ô tô lắp ráp tăng 46,9%; xe máy lắp ráp tăng 17,3%. Bên cạnh đó, vẫn còn có những sản phẩm tăng chậm hoặc giảm sút so với 6 tháng đầu năm 2000 như: Vải lụa chỉ tăng 3,8%; quần áo dệt kim tăng 5,2%; ti vi lắp ráp tăng 7%; xút NaOH giảm 4,4%; đường mật giảm 23,7%.
Đáng chú ý là, tồn kho trong khâu sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp có xu hướng gia tăng, vượt mức bình thường. Sản xuất phân bón 6 tháng đầu năm nay tuy chỉ đạt 589,2 nghìn tấn, giảm 8,1% so với cùng kỳ năm trước nhưng lượng phân bón tồn kho tại các cơ sở sản xuất hiện nay đã lên tới 200 nghìn tấn, trong đó supe lân 157 nghìn tấn, lân nung chảy 40 nghìn tấn; xi măng và clinker tồn kho tại thời điểm cuối tháng 6 cũng lên tới 1167 nghìn tấn, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xi măng và clinker lò quay của Bộ Xây dựng tồn kho 527 nghìn tấn, tăng 33,4%.
Mặc dù sản xuất công nghiệp đang đứng trước một số khó khăn lớn nhưng hầu hết các doanh nghiệp vẫn muốn mở rộng sản xuất kinh doanh. Theo kết quả điều tra xu hướng tiến hành ở 1190 doanh nghiệp công nghiệp vừa và lớn vừa qua cho thấy, trong 6 tháng cuối năm có 30,3% số doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng thêm lao động, trong khi đó chỉ có 8,7% số doanh nghiệp sẽ giảm bớt lao động; 47,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ khá lên so với 5,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sẽ xấu đi; 52,8% số doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng khối lượng sản phẩm sản xuất cao hơn mức đã đạt được 6 tháng đầu năm, trong khi chỉ có 11% số doanh nghiệp dự kiến sẽ giảm mức sản xuất. Tình hình này cho thấy, nếu các cấp, các ngành và các địa phương có các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, trước hết là ổn định giá đầu vào và mở rộng được thị trường tiêu thụ thì cuối năm sản xuất công nghiệp có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 14% đã đề ra đầu năm.
4. Đầu tư và Xây dựng.
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng đầu năm ước tính đạt 66,7 nghìn tỷ đồng, bằng 44,4% kế hoạch đề ra, trong đó khu vực Nhà nước 37,2 nghìn tỷ đồng, đạt 43,5%; ngoài quốc doanh 17 nghìn tỷ đồng, đạt 46,7%; đầu tư trực tiếp của nước ngoài 12,5 nghìn tỷ đồng, đạt 44,3%.
Năm 2001, Nhà nước bố trí kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước tập trung đợt I là 20,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch đợt I năm 2000, trong đó trung ương quản lý 13,5 nghìn tỷ đồng; địa phương quản lý 7 nghìn tỷ đồng. Thực hiện 6 tháng của nguồn vốn này ước tính đạt 9,2 nghìn tỷ đồng, bằng 44,7% kế hoạch năm, trong đó trung ương 6,4 nghìn tỷ đồng, bằng 47%; địa phương 2,8 nghìn tỷ đồng, bằng 40,3%.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, 6 tháng đầu năm đã cấp giấy phép cho 200 dự án với tổng số vốn đăng ký 968,1 triệu USD, tăng 29,9% về số dự án và tăng 38,8% về số vốn đăng ký so với 6 tháng đầu năm 2000. Các dự án được cấp giấy phép trong 6 tháng vừa qua tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 157 dự án và 873,1 triệu USD, chiếm 78,5% về số dự án và 90,2% về số vốn đăng ký. Theo địa phương thì các dự án được cấp giấp phép tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ: Thành phố Hồ Chí Minh 73 dự án với số vốn đăng ký 205,1 triệu USD; Bình Dương 51 dự án với 75,4 triệu USD; Đồng Nai 19 dự án với 76,3 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu 3 dự án với 434,8 triệu USD. Thành phố Hà Nội cũng có 17 dự án với số vốn đăng ký 100,3 triệu USD. Đáng chú ý là vốn đăng ký bình quân của một dự án được cấp giấp phép trong 6 tháng đầu năm đã đạt trên 4,84 triệu USD so với mức bình quân 2,6 triệu USD/dự án trong 6 tháng đầu năm 2000, trong đó các dự án ngành công nghiệp đạt 5,56 triệu USD/dự án; ngành nông, lâm nghiệp đạt 1,42 triệu USD/dự án; các ngành khác đạt 2,39 triệu USD.
Từ đầu năm đến nay nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Thông xe kỹ thuật toàn bộ tuyến đường bộ Hà Nội-Lạng Sơn và đoạn Thường Tín-Cầu Giẽ; hoàn thành nút giao thông phía nam cầu Chương Dương; cầu cảng Cần Thơ 10 vạn tấn và các cầu Sông Phan, Phú Quới, Lộc Hà, Ngân Sơn, Sa Đéc, Thác Cát, Thuỷ Lợi; Yên Lập 1 và Yên Lập 2, Đại Yên, An Châu, Bảo Nhai; hoàn thành và hoà vào mạng lưới điện quốc gia 6 tổ máy của các nhà máy thuỷ điện Yaly, thuỷ điện Hàm Thuận, thuỷ điện Đa Mi và nhiệt điện Phú Mỹ với tổng công suất 1375 MW. Ngoài ra, còn hoàn thành 544 km đường dây 220 KV, 315 km đường dây 110 KV và các trạm biến thế với tổng công suất 1306 MVA; đắp được 2,1 triệu m3 đê, đạt 90% kế hoạch năm.
Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc triển khai các công trình và dự án đầu tư thuộc nguồn vốn trong nước cũng như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn ODA và các nguồn vốn khác là tiến độ giải phóng mặt bằng chậm, nhất là giải phóng mặt bằng cho các công trình giao thông và các công trình ở các thành phố lớn, điển hình là sự chậm trễ trong việc giải phóng mặt bằng của đoạn cuối đường Pháp Vân-Văn Điển, cầu vượt Khê Hồi, các nút giao thông cầu vượt quốc lộ 5, một số nút giao thông trên đường Hà Nội-Lạng Sơn và trên đường Biểu Nghi-Bãi Cháy…

5. Vận tải và Bưu chính, Viễn thông.
Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2001 ước tính đạt 429,1 triệu lượt hành khách và 14499,2 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 5% về khối lượng vận chuyển và tăng 6,9% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt 69,5 triệu tấn và 16287,7 triệu tấn.km, tăng 5,2% về tấn và 8,9% về tấn.km. Sở dĩ vận chuyển hành khách cũng như vận chuyển hàng hoá có khối lượng luân chuyển tăng nhanh hơn khối lượng vận chuyển là do cung độ vận chuyển dài hơn cùng kỳ năm trước, nhất là vận tải hàng không và vận tải biển.
Hoạt động vận tải tuy có tăng lên nhưng nhìn chung chất lượng phục vụ còn hạn chế. Đáng lo ngại nhất là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng nhìn chung tai nạn giao thông vẫn tiếp tục xảy ra với mức độ lớn. Theo số liệu của Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia thì 5 tháng đầu năm trên phạm vi cả nước đã xảy ra 10476 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4179 người và làm bị thương 11904 người khác.
Ngày 02/3/2001 Chính phủ đã có Nghị quết số 02/2001/NQ-CP về đẩy mạnh các biện pháp khắc phục tình trạng tai nạn và ùn tắc giao thông và quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy. Số liệu thống kê 177083 lượt người đi mô tô, xe máy qua 42 trạm thu phí giao thông của 32 tuyến quốc lộ cho thấy đã có 99166 lượt người đội mũ bảo hiểm, chiếm 56% tổng số lượt người đi mô tô, xe máy. Tỷ lệ này ở quốc lộ 10 là 81%; quốc lộ 5 là 65,6%; quốc lộ 22 là 25,3%; các quốc lộ khác 70-78%.

Hoạt động bưu chính, viễn thông vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh. Trong 6 tháng đầu năm số máy điện thoại thuê bao đã tăng thêm 480 nghìn chiếc, đạt 53,4% kế hoạch năm và tăng 29% so với 6 tháng đầu năm 2000; đăng ký sử dụng internet thêm 30 nghìn thuê bao, đạt 63,7% và tăng 30%. Doanh thu 6 tháng đầu năm của Tổng công ty bưu chính viễn thông ước tính đạt 8,2 nghìn tỷ đồng, bằng 47,8% kế hoạch năm và tăng 15% so với 6 tháng đầu năm 2000.

6. Thương mại và Du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2001 ước tính đạt 114,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với 6 tháng đầu năm 2000, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 19,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,4% và tăng 8,2%; khu vực kinh tế cá thể 74,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,7% và tăng 6,9%; các khu vực kinh tế tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 19,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,9% và tăng 15%. Kinh doanh thương nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức với 72%; khách sạn nhà hàng 12,2%; dịch vụ 4,8%; du lịch lữ hành 1% và các cơ sở trực tiếp bán lẻ 10%.
Những tháng đầu năm là mùa lễ hội, đồng thời ngành du lịch cũng đã cố gắng đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao dần chất lượng phục vụ nên hoạt động du lịch bước đầu đạt kết quả tương đối khá . Trong 6 tháng đầu năm khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 1,2 triệu người, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 655,3 nghìn người, tăng 11,1%; công việc 204 nghìn người, tăng 8,7%; thăm thân nhân 251,9 nghìn người, tăng 8,6% và mục đích khác 46,3 nghìn người, giảm 56,2%.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm ước tính đạt 7585 triệu USD, tăng 14,8% so với 6 tháng đầu năm 2000, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 4133 triệu USD, tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 3452 triệu USD, tăng 12,5%. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay thấp hơn tốc độ tăng 29,7% của 6 tháng đầu năm 2000 chủ yếu do giá của một số loại hàng hoá bị giảm sút nên nhiều mặt hàng 6 tháng đầu năm nay về lượng tuy tăng cao nhưng trị giá lại giảm hoặc tăng chậm so với cùng kỳ năm trước: Cà phê tăng 51,1% về lượng nhưng trị giá giảm 15,2%; hai chỉ tiêu tương ứng của hạt tiêu là tăng 40,2% và giảm 44,2%; hạt điều tăng 16,5% và giảm 14%; gạo tăng 34,5% và tăng 6,3%; than đá tăng 34,3% và tăng 9,6%. Ngoài ra, còn một số mặt hàng trị giá xuất khẩu giảm mạnh như điện tử và máy tính giảm 20,5%; hàng thủ công mỹ nghệ giảm 13,2%; giày dép giảm 3,7%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2001 đạt 7928 triệu USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 5718 triệu USD, tăng 7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 2210 triệu USD, tăng 13,6%. Một số mặt hàng có giá trị nhập khẩu giảm so với 6 tháng đầu năm 2000 là: Điện tử, máy tính và linh kiện giảm 19,4%; phân bón giảm 20,8%; vải giảm 15,2%; thuốc trừ sâu giảm 4,5%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng giảm 0,5%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao cả về lượng và giá trị so với 6 tháng đầu năm 2000 như: Sắt thép tăng 32,3% về lượng và tăng 18,8% về giá trị; sợi dệt tăng 20% và tăng 10,8%; bông tăng 33,7% và tăng 38,7%; ô tô gấp 2,5 lần và gấp 2,1 lần. Nhập siêu 6 tháng 343 triệu USD, bằng 4,5% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1585 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 1242 triệu USD.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI.
1. Lao động và việc làm.
Để giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở cả thành thị và nông thôn, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương đã triển khai nhiều chương trình và kế hoạch tạo việc làm như chương trình sắp xếp lao động và giải quyết việc làm bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước với mức dự toán bố trí cho cả năm là 150 tỷ đồng; chương trình đưa lao động đi xây dựng các vùng kinh tế mới; chương trình xuất khẩu lao động; kế hoạch đào tạo nghề cho 840 nghìn người theo chỉ tiêu Quốc Hội thông qua đầu năm… Thực hiện các chương trình và kế hoạch này, 6 tháng đầu năm vừa qua đã đào tạo nghề cho 350 nghìn lượt người, đạt 41,7% mục tiêu cả năm; sắp xếp 20,4 nghìn lượt người vào làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong nước; đưa 6,3 nghìn hộ với 32,2 nghìn nhân khẩu, trong đó có 17,9 nghìn lao động đi xây dựng các vùng kinh tế mới. Ngoài ra, trong 6 tháng còn đưa 2 vạn người đi lao động nước ngoài, chủ yếu đi Lào, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước vùng Trung Đông.

2. Đời sống dân cư.
Do sản xuất phát triển và giá cả ổn định nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện. Lao động trong khu vực hành chính đã được hưởng lương theo quy định tại Nghị định số 77/CP ngày 15/12/2000 của Chính phủ, nâng mức lương tối thiểu từ 180 nghìn đồng lên 210 nghìn đồng. Nhiều doanh nghiệp duy trì và phát triển được sản xuất nên có thêm điều kiện tăng lương và các khoản thu nhập ngoài lương cho người lao động. Do vậy, thu nhập bình quân mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm của một lao động trong khu vực Nhà nước đã đạt 852,2 nghìn đồng, tăng 15,9% so với thu nhập bình quân mỗi tháng cùng kỳ năm trước, trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1142,4 nghìn đồng/người/tháng, tăng 17%; lao động địa phương quản lý đạt 644,6 nghìn đồng/người/tháng, tăng 15,5%. Năm ngành có mức thu nhập bình quân mỗi tháng trên 1 triệu đồng là: Công nghiệp khai thác 1540,7 nghìn đồng, tăng 29,1%; điện nước 1566,9 nghìn đồng, tăng 10,9%; giao thông vận tải 1460,2 nghìn đồng, tăng 18%; tín dụng 1395,3 nghìn đồng, tăng 23,1% và tư vấn đầu tư 1421,7 nghìn đồng, tăng 19,9%.
Ở nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt tuy vẫn xảy ra nhưng quy mô nhỏ và giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tại thời điểm 20/6/2001, số hộ thiếu đói chỉ còn 47,6 nghìn hộ, chiếm 0,41% tổng số hộ nông nghiệp với 235 nghìn nhân khẩu, chiếm 0,43% tổng số nhân khẩu nông nghiệp. Để hỗ trợ các hộ trong diện thiếu đói khắc phục khó khăn, các địa phương đã huy động được nhiều nguồn trợ giúp với tổng số tiền 12,7 tỷ đồng và 3678 tấn lương thực.
Công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều hình thức. Các chương trình, dự án của trung ương, đặc biệt là chương trình 135 xoá đói giảm nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn đã góp phần làm cho sản xuất và đời sống của dân cư vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc ít người được cải thiện. Việc trợ giá, trợ cước cho các mặt hàng chính sách phục vụ đồng bào vùng núi dẻo cao được triển khai tích cực. Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn có chế độ ưu đãi cán bộ để họ yên tâm ở lại công tác. Theo báo cáo của Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, năm 2001 Nhà nước đã dành 1412 tỷ đồng cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, trong đó 800 tỷ đồng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; 200 tỷ xây dựng trung tâm cụm, xã; 170 tỷ đồng định canh, định cư; 240 tỷ đồng xây dựng vùng kinh tế mới; 50 tỷ đồng ổn định đời sống dân cư và 20 tỷ đồng hỗ trợ phát triển ngành nghề… Ước tính 6 tháng đầu năm, 250 nghìn lượt người đã được cấp 1100 tỷ đồng tín dụng ưu đãi từ ngân hàng người nghèo và từ các quỹ tín dụng của các đoàn thể cũng như của các tổ chức xã hội khác.
Công tác đền đáp người có công với cách mạng và gia đình chính sách, giúp đỡ và chăm sóc gia đình neo đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã trở thành phong trào sâu rộng. Trong 6 tháng đầu năm đã xác nhận thêm 1981 người được hưởng chế độ thương binh; 3454 người được hưởng chế độ liệt sĩ; làm thủ tục cho 897219 người được hưởng trợ cấp hoạt động kháng chiến một lần; xây mới 780 căn nhà tình nghĩa và sửa chữa, nâng cấp 1200 căn nhà khác cho đối tượng chính sách; trợ cấp 3,5 tỷ đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

3. Hoạt động văn hoá.
Công tác văn hoá thông tin những tháng đầu năm 2001 tập trung vào các hoạt động chào mừng những ngày lễ lớn, đặc biệt là chào mừng và tuyên truyền Đại hội Đảng lần thứ IX, tạo nên đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa rộng khắp. Liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc “Mùa xuân dâng Đảng” đã thu hút gần 500 diễn viên quần chúng của 14 đơn vị trong cả nước biểu diễn các tác phẩm sân khấu về đề tài cách mạng, ca ngợi những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhiều nhà hát đã đến vùng sâu, vùng xa phục vụ đồng bào như: Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam đi biểu diễn phục vụ đồng bào Tây Nguyên; Đoàn Ca múa nhạc nhẹ biểu diễn ở Quảng Ninh; Nhà hát Tuổi Trẻ biểu diễn tại Hoà Bình; Liên đoàn Xiếc Việt Nam diễn ở miền Trung… Cũng trong dịp này, Cục Văn hoá Thông tin Cơ sở đã phát hành 2 tranh cổ động với số lượng 40 vạn tờ và 3,5 vạn ảnh lãnh tụ. Nhiều lễ hội cũng đã được tổ chức tốt như: Lễ hội Đền Hùng 10/3 âm lịch thu hút hơn 50 vạn nhân dân tham dự; Lễ hội Chùa Hương, Tết cổ truyền Chol Chnam Thmây của đồng bào Khơ Mer ở Nam Bộ…
Công tác thanh tra văn hóa tiếp tục được đẩy mạnh. Trong 4 tháng đầu năm, ngành Văn hóa đã tiến hành kiểm tra 6136 lượt cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, phát hiện 1092 cơ sở vi phạm, đình chỉ hoạt động 26 cơ sở, phạt hành chính 1142 triệu đồng, thu giữ 74 đầu máy video, tivi, 13066 băng video, 55996 đĩa CD các loại, hơn 4 nghìn cuốn sách có nội dung xấu và quét xoá 2,1 nghìn m2 quảng cáo rao vặt không đúng qui định. Ngoài ra, ngành văn hoá còn phối hợp với công an và các ngành khác phát hiện 3854 vụ buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng ma tuý, 325 vụ mại dâm. Nhiều đối tượng nghiện hút, tiêm chích ma tuý đã được đưa đi cai nghiện. Hiện nay, đang có 8150 đối tượng được cai nghiện tại các trung tâm cai nghiện của Nhà nước và cai nghiện tại cộng đồng.
4. Công tác giáo dục.
Thi tốt nghiệp phổ thông các cấp đã được tiến hành trên phạm vi cả nước, trừ một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long được phép thi chậm 1 tháng. Theo kết quả sơ bộ, số học sinh tiểu học thi tốt nghiệp năm nay tăng 7% so với năm học trước và tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99%; số học sinh trung học cơ sở tăng 3,2% và tỷ lệ tốt nghiệp đạt 95,4%; phổ thông trung học tăng 17,1% và đạt 92,4%.

Việc thực hiện chương trình phổ cập giáo dục quốc gia cũng đang được các địa phương tiếp tục triển khai tích cực. Những địa phương đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công nhận Hà Nội đạt tiêu chuẩn này và đang xét để công nhận một số tỉnh, thành phố khác là: Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng và Đà Nẵng.
5. Công tác y tế.
Trong 6 tháng đầu năm một số dịch bệnh vẫn phát sinh nhưng nhìn chung chỉ ở diện hẹp và với mức độ thấp. Từ đầu năm đến ngày 19/6/2001 cả nước có 3138 lượt người bị mắc bệnh thương hàn; 8155 lượt người bị sởi; 8726 lượt người sốt xuất huyết và 126577 lượt người bị sốt rét. Riêng số người bị nhiễm HIV/AIDS được phát hiện tiếp tục gia tăng. Trong 6 tháng cả nước đã phát hiện thêm 3059 người bị nhiễm HIV, trong đó có 393 bệnh nhân AIDS, nâng số người được phát hiện nhiễm HIV của cả nước lên 36445 người, trong đó 5574 người bị AIDS (Trong số này có 3014 bệnh nhân đã bị chết).
Tóm lại, tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm có nhiều mặt tiếp tục diễn biến theo chiều hướng tích cực. Nhiều chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đã đạt mức tăng tương đối cao so với 6 tháng đầu năm 2000: Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,1%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,1%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 7,6%; tổng mức lưu chuyển ngoại thương tăng 11,7%, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng 14,8%; thu ngân sách Nhà nước đạt 54,2% dự toán cả năm và là tỷ lệ cao trong những năm gần đây. Tuy nhiên, một số khó khăn lớn vẫn còn đang tồn tại, nổi bật là khó khăn về thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá; sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của các sản phẩm công nghiệp nói riêng vẫn còn yếu; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục. Trong khi đó, kinh tế khu vực cũng như kinh tế thế giới đang trong tình trạng suy giảm, chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến diễn biến kinh tế-xã hội 6 tháng cuối năm của nước ta. Tình hình này đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương phải có những giải pháp đồng bộ và nỗ lực cao thì mới hoàn thành được nhiệm vụ kế hoạch năm 2001 mà Quốc hội đã đề ra đầu năm.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ