Những biến động bất lợi của nền kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 2008 cùng với thiên tai, dịch bệnh xảy ra trong nước đã và đang tác động tiêu cực đến kinh tế-xã hội nước ta. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; đồng thời, với sự tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và sự nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn của các cấp, các ngành, các địa phương nên tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm vẫn phát triển ổn định, nhiều vấn đề bức xúc đã được giải quyết tích cực.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2008 ước tính tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7%; khu vực dịch vụ tăng 7,6%. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm nay tuy thấp hơn mức tăng cùng kỳ một số năm gần đây, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, kinh tế nhiều nước trong khu vực và trên thế giới suy giảm thì nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng như trên là một cố gắng rất lớn.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994

%

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trướcĐóng góp vào tăng trưởng  (điểm phần trăm)
6 tháng đầu năm 20066 tháng đầu năm 20076 tháng đầu năm 2008
TỔNG SỐ7,367,916,506,50
Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản3,112,903,040,57
Khu vực công nghiệp, xây dựng9,159,887,002,85
Công nghiệp9,419,968,302,78
Khu vực dịch vụ7,788,407,603,08

2. Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2008 đạt 60,6% dự toán năm; trong đó thu nội địa đạt 56,7%, thu từ dầu thô đạt 64,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 67,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 53,9% dự toán năm, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 46,9%, thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 55,3%, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 70,2%, thu phí xăng dầu đạt 49,7%, thu phí và lệ phí đạt 54,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2008 đạt 51,8% dự toán năm; trong đó chi đầu tư phát triển đạt 45,9% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 44,9%), chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương) đạt 52,8%, chi trả nợ và viện trợ đạt 54%.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2008 theo giá so sánh 1994 đạt 93,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm nông nghiệp đạt 68,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4%; lâm nghiệp đạt 3,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% và thuỷ sản đạt 21,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7%.

Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước đạt 3011,7 nghìn ha, tăng 23,4 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2007. Các địa phương phía Bắc đầu vụ bị rét đậm kéo dài nên chỉ gieo cấy được 1128,2 nghìn ha, giảm 12,7 nghìn ha (Đồng bằng sông Hồng giảm 4,9 nghìn ha, miền núi phía Bắc giảm 6,2 nghìn ha). Các địa phương phía Nam gieo sạ 1883,5 nghìn ha, tăng 36,1 nghìn ha, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 1526,5 nghìn ha, tăng 20 nghìn ha. Nhờ đẩy mạnh thâm canh, tập trung chống sâu bệnh và thời tiết cuối vụ lại tương đối thuận đối với sự sinh trưởng của cây lúa nên năng suất lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 59,9 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước.

Do tăng cả diện tích gieo cấy và năng suất nên sản lượng lúa đông xuân năm nay ước tính đạt 18 triệu tấn, tăng trên 1 triệu tấn so với vụ đông xuân 2007; bao gồm các địa phương phía Bắc đạt 6,5 triệu tấn, tăng 33,9 vạn tấn và các địa phương phía Nam đạt 11,5 triệu tấn, tăng 66,4 vạn tấn; riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 9,8 triệu tấn, tăng 71 vạn tấn. Một số tỉnh có năng suất và sản lượng tăng khá là: Long An năng suất tăng 1,9 tạ/ha, sản lượng tăng 7,6 vạn tấn; Kiên Giang năng suất tăng 6,0 tạ/ha, sản lượng tăng 19,1 vạn tấn; Sóc Trăng năng suất tăng 9,0 tạ/hạ, sản lượng tăng 11,8 vạn tấn; Hậu Giang năng suất  tăng 8,9 tạ/ha, sản lượng tăng 8,6 vạn tấn.

Nhiều cây trồng khác của vụ đông xuân năm nay đã cơ bản thu hoạch xong, trong đó sản lượng ngô đạt 2,3 triệu tấn, tăng 4,4% so với vụ đông xuân trước; khoai lang đạt 855 nghìn tấn, giảm 14%; đậu tương 123,3 nghìn tấn, giảm 8,1%; lạc 399,8 nghìn tấn, tăng 8,5%; rau các loại 6438,7 nghìn tấn, tăng 2,8%.

Tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương phía Nam đã xuống giống 1806 nghìn ha lúa hè thu, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 1585 nghìn ha, tăng 5%. Diện tích gieo cấy lúa hè thu của các địa phương phía Nam năm nay lớn hơn vụ hè thu năm trước do giá lương thực đang đứng ở mức cao, kích thích nông dân mở rộng diện tích gieo sạ. Tuy nhiên, cần lưu ý ngăn chặn tình trạng chuyển ồ ạt diện tích vườn cây trái sang trồng lúa đang diễn ra ở một số địa phương.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/4/2008, đàn lợn cả nước có 25,6 triệu con, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Dịch tai xanh và các bệnh truyền nhiễm khác xuất hiện cùng với tình trạng giá thức ăn gia súc tăng cao đã làm cho đàn lợn tại một số tỉnh giảm mạnh như: Hậu Giang giảm 29,1%; Khánh Hoà giảm 28,8%; Long An giảm 25,7%; Đà Nẵng giảm 22,2%; Hải Phòng giảm 21,2%; Sóc Trăng giảm 21%; Thừa Thiên-Huế giảm 17,1%; Hải Dương giảm 12%; Bắc Kạn giảm 10,7%. Cũng tại thời điểm 01/4/2008, đàn bò cả nước có 6,5 triệu con, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm 228 triệu con, tăng 6% do thời gian qua dịch cúm gia cầm tuy xuất hiện nhưng không lan trên diện rộng như những năm trước nên nông dân tích cực đầu tư nhằm khôi phục và phát triển đàn. Tính đến ngày 19/6/2008, các địa phương còn dịch bệnh gia súc, gia cầm chưa qua 21 ngày là: Dịch cúm gia cầm ở Quảng Ngãi; dịch tai xanh ở lợn tại Thái Nguyên, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Sóc Trăng.

Lâm nghiệp

Tổng diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng ước tính đạt 98,4 nghìn ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán đạt 109,8 triệu cây, giảm 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1403,2 nghìn m3, tăng 1,1%; sản lượng củi khai thác 11756,4 nghìn ste, tăng 0,9%.

Công tác bảo vệ rừng tuy đã được các cấp, các ngành quan tâm và kiểm soát chặt chẽ nhưng tình trạng chặt phá rừng vẫn tiếp tục xảy ra. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 3614 vụ chặt phá rừng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước và làm thiệt hại trên 1245 ha, tăng 105,7%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá nhiều là: Bình Phước 622 ha; Lâm Đồng 138 ha; Kon Tum 88 ha; Tây Ninh 67 ha. Trong 6 tháng đầu năm đã xảy ra 228 vụ cháy rừng, làm cháy 937 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 61,8% về số vụ và giảm 74,7% về diện tích rừng bị cháy. Tuy nhiên, vẫn có một số địa phương diện tích rừng bị cháy tương đối lớn như: Lạng Sơn 207 ha, Đồng Tháp 178 ha, Gia Lai 62 ha.

Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 2124 nghìn tấn, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm nuôi trồng đạt 1045,1 nghìn tấn, tăng 25,9%; khai thác đạt 1078,9 nghìn tấn, giảm 0,3%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 6 tháng tăng khá, trong đó: cá nuôi đạt 837,7 nghìn tấn, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước; tôm nuôi 125,7 nghìn tấn, tăng 3,6%. Nguyên nhân của sự tăng nhanh này là do những tháng cuối năm 2007 giá cá tra và một số thuỷ sản tăng cao nên nhiều địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đã mở rộng diện tích nuôi, trong đó An Giang 1392 ha, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2007; Cần Thơ 1189 ha, tăng 22,1%; Vĩnh Long 450 ha, tăng 13,2%; Bến Tre 363 ha, gấp 5 lần. Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1078,9 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 989,8 nghìn tấn, giảm 0,5% (cá 751,7 nghìn tấn, giảm 0,4%; tôm 50,1 nghìn tấn, giảm 4,8%).

Hiện nay, hoạt động của ngành thủy sản đang đứng trước một số khó khăn lớn là: sản lượng cá tra nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long  đang còn khoảng 120 nghìn tấn đã tới thời kỳ thu hoạch nhưng các doanh nghiệp chế biến chưa ký hợp đồng thu mua; mặc dù Chính phủ đã có chủ trương cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản vay 1 nghìn tỷ đồng để thu mua cá tra tồn đọng, nhưng nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn sử dụng nguồn vốn này vì các mặt hàng cá tra xuất khẩu của nước ta đang bị giảm giá trên thị trường thế giới và lãi suất vay liên tục tăng cao; đối với khai thác, nhất là khai thác biển, tuy thời tiết thuận lợi hơn năm trước nhưng giá xăng dầu, chi phí nhân công và nhiều chi phí khác tăng cao nên số lượng tàu thuyền nằm bờ vẫn còn nhiều.

4. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6/2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 6,6%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,8% (dầu mỏ và khí đốt giảm 4,1%, các sản phẩm khác tăng 21,1%).

Tính chung 6 tháng đầu năm nay, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2007, bao gồm: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 6,9% (trung ương quản lý tăng 9,5%, địa phương quản lý giảm 0,8%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 22,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,4% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,9%, các sản phẩm khác tăng 20,1%).

Trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 89,3% và đạt tốc độ tăng cao với 18,1% so với cùng kỳ năm trước đã góp phần chủ yếu làm tăng giá trị sản xuất công nghiệp; ngành công nghiệp khai thác mỏ giảm 4,2% do sản lượng dầu thô giảm 7,9% và sản lượng than sạch đạt 22,4 triệu tấn, tăng 8% (thấp hơn mức tăng 12,4% của 6 tháng đầu năm 2007); sản xuất, phân phối điện, ga và nước tăng 14%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung là: Xe tải tăng 103,4%; xe chở khách tăng 89,6%; máy giặt tăng 52%; tivi tăng 34%; tủ lạnh, tủ đá tăng 26,9%; sữa bột tăng 23,3%; dầu thực vật tinh luyện tăng 23,1%; quần áo người lớn tăng 21,4%; thủy hải sản chế biến tăng 21,2%; điều hòa nhiệt độ tăng 17,7%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm quan trọng khác có tốc độ tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất điện tăng 15,5%; xi măng tăng 13,2%; than sạch tăng 8%; thép tròn tăng 6,7%; sơn hoá học tăng 5,9%; phân hóa học tăng 3,9%; khí đốt thiên nhiên giảm 4,7%; dầu thô giảm 7,9%.

Nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn vẫn duy trì được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Các tỉnh có mức tăng cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Vĩnh Phúc tăng 32,6%; Hải Dương tăng 28,1%; Bình Dương tăng 24,9%; Hà Tây tăng 24,6%; Đồng Nai tăng 20,7%; Hải Phòng tăng 18,2%; Phú Thọ tăng 17,7%. Tuy nhiên hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt tốc độ tăng 15,7% và 13,3%; riêng Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 2,7% do sản lượng dầu thô khai thác giảm.

5. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện 6 tháng đầu năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 265,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn khu vực Nhà nước đạt 106,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 40% tổng số vốn thực hiện và tăng 15,2%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 80 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,1% và tăng 15,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 79,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,9% và tăng 37,7%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 39,1 nghìn tỷ đồng, bằng 39,8% kế hoạch năm; vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý đạt 11,9 nghìn tỷ đồng, bằng 35,9% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1907,2 tỷ đồng, bằng 30,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 952,2 tỷ đồng, bằng 57,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 495,3 tỷ đồng, bằng 44,2%; Bộ Y tế 391,8 tỷ đồng, bằng 42%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 173,3 tỷ đồng, bằng 39,3%; Bộ Công Thương 104,1 tỷ đồng, bằng 43,9%; Bộ Xây dựng đạt 63,5 tỷ đồng, bằng 18,1%.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện 27,2 nghìn tỷ đồng, đạt 41,8% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có số vốn lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh 3,1 nghìn tỷ đồng, đạt 35,4% kế hoạch năm; Hà Nội 2,3 nghìn tỷ đồng, đạt 38,4%; Đà Nẵng 1,3 nghìn tỷ đồng, đạt 53,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu 1,0 nghìn tỷ đồng, đạt 51,8%; Nghệ An 658 tỷ đồng, đạt 47,3%; Hải Phòng 554 tỷ đồng, đạt 39,3%; Lâm Đồng 538,9 tỷ đồng, đạt 68,3%; Quảng Trị 512,9 tỷ đồng, đạt 66,4%.

Thực hiện Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều hành kế hoạch đầu tư XDCB và chi tiêu ngân sách năm 2008 phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát, tính đến ngày 28 tháng 5 năm 2008 đã có 28 Bộ, Ngành, 43 địa phương, 8 tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước tiến hành rà soát các dự án sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đã đình hoãn và ngừng triển khai 618 dự án với tổng số vốn kế hoạch năm 2008 là 1450 tỷ đồng, giảm tiến độ thực hiện 377 dự án với tổng số vốn 2533 tỷ đồng.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục tăng cao. Tính từ đầu năm đến 20/6/2008 có 478 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép với số vốn đăng ký 30,9 tỷ USD, tuy giảm 29,5% về số dự án nhưng tăng 324,3% về số vốn so với cùng kỳ năm 2007. Nếu tính cả 661,2 triệu USD cấp bổ sung của 158 lượt dự án đã được cấp phép trước đây thì tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu năm đạt 31,6 tỷ USD, gấp hơn 3,7 lần so với cùng kỳ năm trước, vượt xa con số 21,3 tỷ USD đầu tư nước ngoài vào Việt Nam của cả năm 2007. Số vốn đăng ký cao chủ yếu do nhiều dự án lớn được cấp giấy phép như: Dự án Công ty gang thép Hưng nghiệp Formosa do tập đoàn Formosa của Đài Loan có số vốn đăng ký gần 7,9 tỷ USD; dự án Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn-Thanh Hoá của Nhật Bản và Cô-oét liên doanh có số vốn đăng ký 6,2 tỷ USD; dự án Hồ Tràm của Ca-na-đa trên 4,2 tỷ USD. Mức vốn đăng ký bình quân một dự án đạt 64,7 triệu USD (cùng kỳ năm ngoài là 10,8 triệu USD một dự án).

Trong số 478 dự án mới được cấp phép, khu vực công nghiệp và xây dựng có 298 dự án với số vốn đăng ký 17,2 tỷ USD, chiếm 62,3% tổng số dự án và chiếm 55,4% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 155 dự án với 13,6 tỷ USD, chiếm 32,4% tổng số dự án và chiếm 44% tổng số vốn; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 25 dự án với 167,3 triệu USD, chiếm 5,3% số dự án và chiếm 0,6% tổng số vốn.

Trong 6 tháng đầu năm đã có 38 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép mới, trong đó Hà Tĩnh có số vốn đăng ký lớn nhất với 7,9 tỷ USD, chiếm 25,5% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Thanh Hóa 6,2 tỷ USD, chiếm 20%; Bà Rịa-Vũng Tàu 5,6 tỷ USD, chiếm 18%; thành phố Hồ Chí Minh 3,4 tỷ USD, chiếm 11%; Đồng Nai 1,8 tỷ USD, chiếm 5,8%; Kiên Giang 1,6 tỷ USD, chiếm 5,3%; Bắc Ninh 1 tỷ USD, chiếm 3,3%; Hà Nội 661,5 triệu USD, chiếm 2,1%; Cần Thơ 539,2 triệu USD, chiếm 1,7%; Bình Dương 485 triệu USD, chiếm 1,6%.

Trong số các quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Đài Loan dẫn đầu về vốn đăng ký với 8,2 tỷ USD, chiếm 26,4% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Nhật Bản với 7,1 tỷ USD, chiếm 23%; Ca-na-đa 4,2 tỷ USD, chiếm 13,7%; Xin-ga-po 3,6 tỷ USD, chiếm 11,5%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 2,7 tỷ USD, chiếm 8,8%; Ma-lai-xi-a 1,6 tỷ USD, chiếm 5,1%; Hoa Kỳ 1,4 tỷ USD, chiếm 4,4%.

Tổng số vốn ODA được ký kết tính đến ngày 19/6/2008 đạt 1313 triệu USD, bằng 71% cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn vay 1217 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại 96 triệu USD. Giải ngân vốn ODA 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1100 triệu USD, bằng 58% kế hoạch năm, bao gồm: vốn vay 970 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại 130 triệu USD. Trong số các dự án sử dụng vốn vay, các dự án thuộc ngành điện, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn có tiến độ giải ngân nhanh hơn tiến độ của các dự án trong lĩnh vực phát triển đô thị, y tế, giáo dục, tài chính ngân hàng.

6. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 447,3 nghìn tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng 8% (thấp hơn mức tăng 15% của cùng kỳ năm trước, do giá cả tăng và đứng ở mức cao đã hạn chế tiêu dùng trong dân). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng khu vực kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng lớn nhất với 56% và tăng 33,7% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tư nhân chiếm 29,1%, tăng 36,1%; kinh tế tập thể tăng 34,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 33,4%; kinh tế Nhà nước tăng 3,1%. Nếu phân theo ngành kinh doanh thì thương nghiệp chiếm 82,4%, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 11,2%, tăng 25,5%; dịch vụ tăng 30,9%; du lịch lữ hành tăng 45,3%.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 6/2008 đã tăng chậm lại, ở mức tăng 2,14% so với tháng trước. Đây là tháng có mức tăng thấp nhất trong 6 tháng đầu năm nay[1], nhưng vẫn là mức tăng cao nhất so với chỉ số giá tháng 6 của một số năm gần đây[2]. Trong các nhóm hàng hoá và dịch vụ, giá lương thực tháng 6 năm 2008 tuy tăng thấp hơn nhiều so với mức tăng 22,19% của tháng trước nhưng vẫn là nhóm hàng có mức tăng cao nhất với 4,29%. Các nhóm hàng hoá, dịch vụ có giá tăng thấp hơn mức tăng của tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 1,07%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,92%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,4%. Giá nhóm hàng phương tiện đi lại, bưu điện giữ mức tăng 0,35%, trong đó bưu chính viễn thông giảm 0,1%. Các nhóm hàng hoá, dịch vụ có giá tăng cao hơn mức tăng của tháng 5/2008 gồm: Thực phẩm tăng 3,05%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,93%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,28%; dược phẩm, y tế tăng 0,66%; giáo dục tăng 0,67%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,96%.

So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tăng 18,44% (cùng kỳ năm trước tăng 5,2%), trong đó các nhóm hàng hoá có giá tăng cao là: Lương thực tăng 59,44%; thực phẩm tăng 21,83%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 14,34%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 10,58%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng từ 2,12% đến 8,21%. So với giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2007, giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 20,34% (cùng kỳ năm trước tăng 7%).

Giá vàng và đô la Mỹ 6 tháng đầu năm nay tăng giảm không ổn định. Giá vàng tháng 1 và 2 tăng cao so với tháng trước, đặc biệt tăng mạnh vào tháng 3 ở mức 18,46%; tháng 4 và tháng 5 giảm nhẹ; tháng 6 tăng 4,36%; so với tháng 12/2007 tăng 16,27% và so với cùng kỳ năm trước tăng 41,01%. Giá đô la Mỹ giảm trong các tháng 1, 2 và 3; tăng trên 1% trong tháng 4, 5 và tháng 6 tăng cao ở mức 4,69% so với tháng trước. Giá đô la Mỹ tháng 6 năm 2008 so với tháng 12/2007 tăng 5,02% và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,89%.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 6/2008 ước tính đạt 5,5 tỷ USD, giảm 4,4% so với tháng trước và tăng 32,9% so với cùng kỳ năm 2007. Tính chung 6 tháng năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 29,7 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 12,8 tỷ USD, tăng 29,1%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 11,3 tỷ USD, tăng 27,4%; dầu thô đạt 5,6 tỷ USD, tăng 49%. Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng tăng cao một phần do khối lượng xuất khẩu của nhiều hàng hoá tăng, mặt khác do giá xuất khẩu của những mặt hàng chủ lực liên tục tăng. Bình quân 6 tháng đầu năm 2008 giá dầu thô xuất khẩu tăng 69,5%; giá than đá tăng 68,4%; giá gạo tăng 88%; giá cà phê tăng 40,4%; giá cao su tăng 33,7%. Sự tăng giá của 5 mặt hàng xuất khẩu trên đã làm cho kim ngạch xuất khẩu 6 tháng tăng khoảng 3,8 tỷ USD. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá này thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng tăng 15,1%.

Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ năm 2007, trong đó 8 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD là: dầu thô đạt 5,6 tỷ USD, tăng 49% so với cùng kỳ năm trước; hàng dệt may đạt 4,1 tỷ USD, tăng 17,7%; giày dép đạt 2,3 tỷ USD, tăng 16,9%; thủy sản đạt 1,9 tỷ USD, tăng 14%; gạo đạt 1,5 tỷ USD, tăng 99%; sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 20,4%; điện tử máy tính đạt 1,2 tỷ USD, tăng 32,4%; cà phê đạt 1,2 tỷ USD, giảm 4,1%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng 6/2008 ước tính đạt 6,8 tỷ USD, giảm 11,3% so với tháng trước và tăng 33,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2008, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước tính đạt 44,5 tỷ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 30,6 tỷ USD, tăng 69,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,9 tỷ USD, tăng 42,7%. Kim ngạch nhập khẩu tăng cao ngoài yếu tố do tăng khối lượng nhập khẩu còn do yếu tố tăng giá. Trong 6 tháng đầu năm giá xăng dầu nhập khẩu tăng 61,8%, giá sắt thép tăng 29,8%, giá phân bón tăng 96%, giá giấy tăng 11,8%, giá chất dẻo tăng 15,4%. Sự tăng giá của 5 mặt hàng này đã làm cho kim ngạch nhập khẩu tăng thêm trên 4,1 tỷ USD (tương ứng với mức tăng 14,9% so với kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2007). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá này thì kim ngạch nhập khẩu 6 tháng tăng 45,7%.

Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng lớn vẫn là máy móc thiết bị; nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất. Trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng ước tính đạt 7 tỷ USD, tăng 45,5% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu 6,8 triệu tấn, tương đương 5,9 tỷ USD, tuy chỉ tăng 4,4% về lượng nhưng do giá tăng 61,8% nên kim ngạch tăng 68,9%; sắt thép đạt 4,6 tỷ USD, tăng 118,1%, trong đó phôi thép 1,3 tỷ USD, tăng 181%; vải 2,3 tỷ USD, tăng 20,3%; điện tử, máy tính và linh kiện 1,8 tỷ USD, tăng 43%; chất dẻo 1,5 tỷ USD, tăng 38,8%; nguyên phụ liệu dệt, may, da 1,2 tỷ USD, tăng 16,2%; phân bón 1 tỷ USD, tăng 130,9%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu 1 tỷ USD, tăng 84,1%; hoá chất 930 triệu USD, tăng 41%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ 594 triệu USD, tăng 24%; giấy 403 triệu USD, tăng 44,9%. Riêng lượng ô tô nhập khẩu 6 tháng đầu năm nay tuy tăng 413,9% về lượng và tăng 354,5% về kim ngạch nhưng đã có xu hướng giảm do thuế nhập khẩu tăng.

Nhập siêu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 14,8 tỷ USD, bằng 49,8% kim ngạch xuất khẩu, tăng 184,6% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn 0,7 tỷ USD so với mức nhập siêu của cả năm 2007. Tuy nhiên, trong những tháng gần đây nhập siêu đã giảm nhanh, từ mức nhập siêu 3,28 tỷ USD tháng 3 và 3,2 tỷ USD tháng 4 đã giảm xuống còn 1,91 tỷ USD trong tháng 5 và 1,3 tỷ USD trong tháng 6. Mặt khác, nhập siêu chủ yếu là nhập nguyên, nhiên vật liệu từ thị trường các nước trong khu vực, còn đối với các thị trường khác như EU, Mỹ nước ta vẫn duy trì được mức xuất siêu. Trong 5 tháng đầu năm 2008, nước ta xuất siêu sang thị trường EU 1,9 tỷ USD, tăng 26,6% so với xuất siêu cùng kỳ năm 2007; xuất siêu sang thị trường Mỹ 3,3 tỷ USD, tăng 10%.

Xuất, nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 7,8 tỷ USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2007, gồm có xuất khẩu dịch vụ 3,4 tỷ USD, tăng 16,1%; nhập khẩu dịch vụ đạt 4,4 tỷ USD, tăng 30%.

Vận tải

Trong 6 tháng đầu năm 2008, khối lượng hành khách vận chuyển ước tính đạt 899,1 triệu lượt khách và 41,5 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,8% về lượt khách và tăng 11,2% về lượt khách.km. Các đơn vị vận tải do trung ương quản lý vận chuyển 16,6 triệu lượt khách và đạt 10,1 tỷ lượt khách.km, tăng 8,9% về lượt khách và tăng 9,4% về lượt khách.km; các đơn vị vận tải do địa phương quản lý vận chuyển 882,5 triệu lượt khách và đạt 31,4 tỷ lượt khách.km, tăng 10,9% về lượt khách và tăng 11,8% về lượt khách.km. Vận chuyển và luân chuyển hành khách ở hầu hết các ngành đều tăng so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: hàng không tăng 14,3% về lượt khách và tăng 11,8% về lượt khách.km; đường bộ tăng 11,7% về lượt khách và tăng 12,8% về lượt khách.km; đường biển tăng 5,1% và tăng 6,2%; đường sông tăng 3% và tăng 6%; riêng đường sắt giảm 3,7% về lượt khách và giảm 4,6% về lượt khách.km.

Vận chuyển hàng hóa 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 207,3 triệu tấn và 78,4 tỷ tấn.km, tăng 10% về số tấn và tăng 37,9% về số tấn.km so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hoá do trung ương quản lý tăng 20,3% về số tấn và tăng 52,5% về số tấn.km. Vận tải hàng hoá do địa phương quản lý tăng 8,9% về số tấn và tăng 12,3% về số tấn.km. Vận chuyển hàng hóa ở tất cả các ngành vận tải đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển, gồm có: đường biển tăng cao nhất với 23,5% về số tấn và tăng 43,5% về số tấn.km; đường bộ tăng 9% về số tấn và tăng 18,6% về số tấn.km; đường sông tăng 7,6% về số tấn và tăng 7,8% về số tấn.km; đường sắt tăng 1,9% về số tấn và tăng 11,9% về số tấn.km; hàng không tăng 7% về số tấn và tăng 4% về số tấn.km.

Du lịch

Khách quốc tế đến Việt Nam 6 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt gần 2,3 triệu lượt người, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch đạt 1,4 triệu lượt người, tăng 6%; đến vì công việc 430 nghìn lượt người, tăng 39,7%; thăm thân nhân 293,8 nghìn lượt người, giảm 4,9%. Trong các loại phương tiện, chủ yếu khách đến bằng đường không với 1,8 triệu lượt người, tăng 6,5%; đến bằng đường bộ 434,3 nghìn lượt người, tăng 21,6%; khách đến bằng đường biển 91 nghìn lượt người, giảm 12,4%.

Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ hàng năm có lượng khách đến nước ta nhiều, một số nước và vùng lãnh thổ vẫn giữ tốc độ tăng cao là: Thái Lan tăng 52,9%; Xin-ga-po tăng 29,8%; Ma-lai-xi-a tăng 24,8%; Đài Loan tăng 8,2%; Đức tăng 6,9%; Pháp tăng 6,5%. Tuy nhiên, một số nước khác có lượng khách đến 6 tháng đầu năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước như Trung Quốc giảm 8,6%; Hàn Quốc giảm 6,6%; Căm-pu-chia giảm 5,6%; Hoa Kỳ giảm 3,8%; Nhật Bản giảm 3,6%; Anh giảm 1,7%.

Bưu chính, viễn thông

Tính đến hết tháng 6/2008, cả nước có 61,8 triệu thuê bao, trong đó 6 tháng đầu năm có hơn 9,9 triệu thuê bao điện thoại mới. Số thuê bao internet phát triển mới 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 756 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao tính đến hết tháng 6/2008 lên 6 triệu thuê bao. Tổng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 33 nghìn tỷ đồng, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 22,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%.

II. XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Trong 6 tháng đầu năm 2008, thu nhập bình quân một tháng của lao động khu vực Nhà nước đạt 2,3 triệu đồng, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước; gồm có: lao động khu vực Nhà nước do trung ương quản lý đạt 2,7 triệu đồng, tăng 12,5%; lao động khu vực Nhà nước địa phương quản lý đạt 2,1 triệu đồng, tăng 31,2%. Tuy nhiên, trừ một số ngành có thu nhập cao còn thu nhập thực tế của phần lớn lao động trong khu vực Nhà nước chưa được cải thiện đáng kể. Đối với khu vực nông thôn, tuy được mùa và giá cả lương thực, thực phẩm tăng nhưng giá tiêu dùng tăng cao nên đời sống vẫn còn rất khó khăn, nhất là đối với những hộ có thu nhập thấp ở vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang, vùng biên giới và vùng đồng bào các dân tộc ít người.

Tính đến thời điểm 20/6/2008 cả nước có 102,3 nghìn lượt hộ với 452,5 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 0,9% tổng số hộ nông nghiệp và chiếm 0,9% tổng số nhân khẩu nông nghiệp, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. So với cùng kỳ năm trước, số lượt hộ thiếu đói tăng 55,3% và số lượt nhân khẩu thiếu đói tăng 59,8%.

Để bảo đảm an sinh xã hội, từ đầu năm đến nay, Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo và kêu gọi các cấp, các ngành và các tổ chức đoàn thể tổ chức tặng quà, trợ cấp cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội với số tiền và hiện vật trị giá hơn 333 tỷ đồng trong dịp Tết Nguyên đán. Ngoài ra còn hỗ trợ cho các gia đình có trâu, bò bị chết do rét và dịch bệnh; hỗ trợ ngư dân mua và đóng mới, thay đổi thiết bị tàu đánh bắt hải sản; hỗ trợ 50% giá một thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc các hộ cận nghèo có tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; cấp sách giáo khoa không thu tiền cho học sinh thuộc các gia đình chính sách.v.v. Để cứu đói, Chính phủ đã xuất 26,6 nghìn tấn lương thực dự trữ quốc gia và 10 tỷ đồng cấp cho các hộ trong diện thiếu đói, trong đó riêng tháng 6 hỗ trợ 3,6 nghìn tấn lương thực và 446 triệu đồng. Nhờ vậy số hộ thiếu đói tháng 6 đã giảm 43,7% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 41% so với tháng trước. Tình hình thiếu đói trong các tháng tiếp theo dự kiến sẽ giảm do hầu hết các địa phương đã thu hoạch lúa đông xuân và vụ đông xuân năm nay đạt năng suất và sản lượng cao.

2. Giáo dục

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông năm 2008 là kỳ thi thứ hai thực hiện cuộc vận động “hai không” của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chống tiêu cực trong thi cử và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đề thi năm nay đã bảo đảm tính khoa học và kiểm tra được kiến thức cơ bản cũng như phân loại được trình độ của học sinh; công tác coi thi, chấm thi được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ và đúng quy chế.

Kỳ thi này cả nước có 1024 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tăng 13% so với năm học trước. Theo báo cáo sơ bộ của 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đợt 1 đạt 75,96%, tăng 9% so với tỷ lệ tốt nghiệp của đợt 1 năm học trước, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ tốt nghiệp cao nhất với 84,6%; tiếp theo là vùng Đông Nam Bộ đạt 80,7% và vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 76,09%; Tây Bắc là vùng có tỷ lệ tốt nghiệp thấp nhất với 58,9%. Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ tốt nghiệp trên 90% là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình và Thành phố Hồ Chí Minh; các tỉnh có tỷ lệ tốt nghiệp dưới 50% là Cao Bằng (40,56%) và Bắc Kạn (43,18%). Cũng trong năm học này, khối bổ túc trung học phổ thông có 155 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp, tăng 3,6% so với kỳ thi năm trước, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 42,42%, tăng 16%. Số thí sinh bỏ thi trong kỳ thi tốt nghiệp năm nay là 8,7 nghìn thí sinh, tăng 40,72% so với kỳ thi năm trước, bao gồm 4,4 nghìn thí sinh trung học phổ thông và 4,3 nghìn thí sinh bổ túc trung học phổ thông.

Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đã được các địa phương tích cực triển khai. Tính đến 15/3/2008, cả nước có 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 39 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Tuy nhiên, tình trạng học sinh bỏ học vẫn là vấn đề cần được các cấp, các ngành và các địa phương tập trung quan tâm, giải quyết. Tính đến hết tháng 3/2008, cả nước có 147 nghìn học sinh bỏ học, bao gồm: 19 nghìn học sinh cấp tiểu học, chiếm 0,28% tổng số học sinh tiểu học giữa năm; 66 nghìn học sinh cấp trung học cơ sở, chiếm 1,14% số học sinh trung học cơ sở giữa năm; 62 nghìn học sinh cấp trung học phổ thông, chiếm 2,05% số học sinh trung học phổ thông giữa năm. Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng sông Cửu Long có số học sinh bỏ học nhiều, chiếm 2/3 tổng số học sinh bỏ học của cả nước. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là học lực của học sinh yếu kém gây tâm lý chán nản; nội dung và chương trình của nhiều bộ sách giáo khoa chưa phù hợp với trình độ học sinh miền núi, vùng sâu, vùng xa.

3. Tình hình dịch bệnh

Tính chung 6 tháng đầu năm nay, cả nước có 15,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 2,7 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút và 3,7 nghìn trường hợp tiêu chảy cấp (trong đó có 582 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả). Trong tháng 6 đã phát hiện thêm 2 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 22/6/2008 lên 168,6 nghìn người, trong đó 66,4 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 39,6 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đã được các cấp, các ngành quan tâm triển khai nhưng hiệu quả đạt được chưa cao. Trong 6 tháng đầu năm nay, các vụ ngộ độc thực phẩm vẫn liên tiếp xảy ra tại nhiều địa phương trên cả nước với hơn 4 nghìn trường hợp bị ngộ độc, trong đó 42 người đã tử vong. Đáng lưu ý là có vụ xảy ra với nhiều người cùng một lúc như vụ ngộ độc tại Công ty TNHH VMC Hoàng Gia (Tây Ninh) ngày 23 tháng 6 đã làm 1600 người bị ngộ độc.

4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong 6 tháng đầu năm 2008, ngành văn hóa thông tin đã tập trung thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ lớn của dân tộc như Giỗ tổ Hùng Vương, kỷ niệm ngày thành lập Đảng và ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại lễ Phật Đản Quốc tế.v.v.

Phong trào thể dục thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi, nhiều hoạt động trong nước được tổ chức thành công như Giải võ thuật cổ truyền toàn quốc lần thứ IX, chương trình phổ cập bơi phòng chống tai nạn cho trẻ em, chuẩn bị tổ chức các giải vật dân tộc, võ thuật cổ truyền, bóng đá nông dân.v.v. Ngoài ra, chuẩn bị tổ chức thành lập liên đoàn Vovinam thế giới và tổ chức giải Vovinam thế giới trong tháng 8 tại Việt Nam. Tại Para Games 4 tổ chức ở Thái Lan, đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam đã thi đấu xuất sắc và giành vị trí thứ 3 toàn đoàn với tổng số 187 huy chương, trong đó có 78 HCV; 66 HCB và 43 HCĐ.

Trong thể thao thành tích cao, ngành Thể dục thể thao đã tổ chức thành công 72 giải trong nước và đạt nhiều thành tích trong các giải thi đấu quốc tế được tổ chức trong và ngoài nước, trong đó giành 1 HCB, 1 HCĐ tại giải vô địch Taekwondo Châu Á tại Trung Quốc; 134 huy chương các loại tại giải Cờ vua các nhóm tuổi Đông Nam Á mở rộng lần thứ 9; 2 HCV, 5HCB và 4 HCĐ tại Giải điền kinh trẻ Đông Nam Á; 13 HCV, 6 HCB và 3 HCĐ tại giải Vô địch Châu Á Pencak Silat. Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị cho Olympic Bắc Kinh 2008 và Đại hội Thể thao Châu Á trong nhà lần thứ 3 được tổ chức tại Việt Nam năm 2009 cũng đang được thực hiện khẩn trương nhằm đảm bảo tiến độ.

5. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia, trong 5 tháng đầu năm 2008, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 5442 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4984 người và làm bị thương 3526 người. So với 5 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giao thông giảm 15,8%, số người chết giảm 14,9% và số người bị thương giảm 29,1%. Trong 5 tháng đầu năm nay, bình quân một ngày trên địa bàn cả nước xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và làm bị thương 23 người. So với 5 tháng đầu năm 2007, số vụ tai nạn giao thông bình quân một ngày giảm 7 vụ, số người chết giảm 6 người và số người bị thương giảm 10 người. Đây là bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục chỉ đạo, triển khai mạnh mẽ hơn nữa công tác này trên địa bàn cả nước.

6. Thiệt hại do thiên tai

Trong 6 tháng đầu năm nay, những đợt rét đậm, rét hại kéo dài, triều cường và lũ lớn xảy ra tại nhiều địa phương trên cả nước đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư. Ước tính tổng giá trị thiệt hại hơn 814 tỷ đồng, tăng 720 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2007; riêng đợt rét đậm, rét hại kéo dài vào đầu năm làm 200 nghìn ha lúa bị hư hỏng; 122 nghìn con trâu bò, 1 nghìn con lợn và 290 nghìn con gia cầm bị chết. Để giúp dân giảm bớt khó khăn, từng bước khắc phục thiệt hại và phục hồi sản xuất, các địa phương đã triển khai khẩn trương, kịp thời công tác hỗ trợ với tổng số tiền mặt cứu trợ hơn 199 tỷ đồng, trong đó 81,1 tỷ đồng được Chính phủ trích từ quỹ dự phòng, nhờ đó sản xuất và đời sống dân cư sớm đi vào ổn định.

Khái quát lại, mặc dù việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gặp nhiều khó khăn trên nhiều mặt, nhưng 6 tháng đầu năm 2008 nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 6,5% so với 6 tháng đầu năm 2007, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã bước đầu chậm lại. Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm, cả nước phải tập trung nguồn lực ưu tiên cho mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội mà nền kinh tế, xã hội đạt được những kết quả quan trọng nói trên là một thắng lợi lớn. Kết quả đó đã bước đầu khẳng định những giải pháp mà Chính phủ đề ra vừa qua là phù hợp với thực tế và đang phát huy hiệu quả; đồng thời cũng đã củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, sự điều hành của Chính phủ.

Trong những tháng cuối năm, tình hình kinh tế – xã hội còn diễn biến phức tạp, chúng ta tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức đang hiện hữu và có thể còn phát sinh nhiều yếu tố khó lường, kể cả thiên tai. Bên cạnh đó, kinh tế thế giới bắt đầu có những dấu hiệu tích cực; kinh tế nước ta cũng xuất hiện thêm nhiều yếu tố thuận lợi, nhất là kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, hoạt động kinh tế đối ngoại, kiềm chế lạm phát và kinh nghiệm điều hành nền kinh tế đã tích luỹ được sẽ tiếp tục phát huy tích cực trong 6 tháng cuối năm.

Tuy nhiên, nhiệm vụ còn lại của 6 tháng cuối năm rất to lớn và còn nặng nề. Muốn đạt mục tiêu Quốc hội đề ra cho cả năm 2008 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 7% thì 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 7,4%. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cả năm 2008, các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị phải tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh và đồng bộ các giải pháp mà Chính phủ đã đề ra; trong đó cần chú trọng một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Phải tận dụng tối đa những yếu tố phục hồi của kinh tế thế giới và khai thác tốt hơn nữa tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; tiềm năng lao động, vốn phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm năng du lịch và các nguồn tiềm năng khác để đẩy mạnh sản xuất trong nước, tăng nguồn hàng hoá cho xuất khẩu và bảo đảm nguồn cung hàng hoá phục vụ tiêu dùng trong nước; chú ý phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng lương thực, phát triển chăn nuôi tập trung; tiếp tục hạn chế nhập khẩu những mặt hàng chưa thật cần thiết, trên cơ sở đó phấn đấu giảm nhanh và đi tới khắc phục tình trạng nhập siêu và lạm phát vẫn còn cao như hiện nay.

Thứ hai: Theo xu hướng này, tốc độ tăng giá những tháng cuối năm có thể chững lại nhưng cần tránh tư tưởng chủ quan; phải tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và giải quyết có hiệu quả các hệ luỵ của vấn đề này; kiểm soát chặt chẽ  hoạt động thương mại; có cơ chế giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung  và của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn nói riêng; tăng cường quản lý giá chặt chẽ, nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của công tác chống buôn lậu, tuyệt đối không để các doanh nghiệp lợi dụng yếu tố khó khăn để đầu cơ, nâng giá hàng hoá và dịch vụ, nhất là giá các mặt hàng thiết yếu như: Xăng dầu, sắt thép, phân bón, xi măng, điện, lương thực, thực phẩm, dược phẩm và một số loại hàng hoá thiết yếu khác.

Thứ ba: Nâng cao chất lượng quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển; tiếp tục rà soát và kiểm tra chặt chẽ các công trình, dự án đã, đang và sẽ được đầu tư để tránh lãng phí và đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Mặt khác phải làm tốt công tác dự báo và chuẩn bị đủ các điều kiện để đối phó kịp thời với những diễn biễn bất lợi của thời tiết có thể xảy ra nhằm hạn chế tối đa thiệt hại; nâng cao tính chủ động và thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống các loại dịch bệnh cho người, cho trồng trọt và chăn nuôi.

Thứ tư: Do giá cả từ đầu năm đến nay tăng và đứng ở mức cao nên thu nhập thực tế của dân cư nhìn chung đã giảm đáng kể. Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là đời sống những người làm công ăn lương, đồng bào vùng bị thiên tai, gia đình chính sách, gia đình neo đơn, học sinh, sinh viên ngày càng khó khăn. Nhờ chỉ đạo quyết liệt kiềm chế lạm phát và tăng giá tiêu dùng; thực hiện có hiệu quả cao nhất các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo thì tỷ lệ hộ nghèo sẽ thấp hơn năm 2007, nhưng không giảm nhiều, dự kiến tỷ lệ hộ nghèo sẽ ở mức 14,2 đến 14,5%. Vì vậy Nhà nước cần tiếp tục thực hiện chính sách bảo đảm an sinh xã hội; đồng thời đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá đối với lĩnh vực này, trong đó cần nghiên cứu xây dựng cơ chế về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội; tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong việc chăm lo công tác chính sách xã hội.

Thứ năm: Phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng trong đoàn thể quần chúng; từ đó huy động toàn bộ hệ thống chính trị và sử dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế nhằm tạo sức mạnh thống nhất trong nhân dân để cùng nhà nước quyết tâm vượt qua giai đoạn khó khăn nhằm ổn định đời sống, phát triển kinh tế, giữ vững ổn định xã hội./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


 [1] Tháng 1 tăng 2,38%; tháng 2 tăng 3,56%; tháng 3 tăng 2,99%; tháng 4 tăng 2,2% và tháng 5 tăng 3,91%

[2] Tháng 6/2005 tăng 0,4%, tháng 6/2006 tăng 0,4%, tháng 6/2007 tăng 0,9%